ĐI HỌC SUBIC BAY VỀ – THUYÊN CHUYỂN ĐẾN HQ CÔNG XƯỞNG SG (2)

Nguyễn Văn Quang

Phai doan tham vieng xuong tien HQCX, hinh cua bo thong tin VNCH

11.HQCX  nghiên-cứu ghe trắc-nghiệm nhỏ và đóng mới 13 ghe Hải thuyền chủ-lực vỏ gỗ, gắn máy chánh GM 6.71 cho Lực Lượng Hải Thuyền

Thời gian 1956, HQ Đại Uý Hồ Tấn Quyền (về sau HQ Đại Tá Tư Lệnh Hải Quân), Chỉ Huy Trưởng Hải Khu Đà Nẵng đã tổ chức đội ghe nhỏ tuần phòng dưói vĩ tuyến 17. Năm 1957, khi rời Đà Nẵng về Sài Gòn đảm-nhiệm chức vụ Tham Mưu Trưởng HQ, đội ghe nhỏ ấy không còn hoạt động.
Nhưng qua năm 1958, đã thuyết phục Tổng Thống Ngô Đình Diệm về nhu-cầu xây dựng lực lượng hải thuyền để bảo vệ duyên hải (28).  Do tình hình ngày càng gia tăng sự xâm-nhập của địch quân từ đường biển, xuống phía Nam vĩ tuyến 17
nên tháng Tư 1960, Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà đã chấp thuận cho Hải Quân thành lập Lực Lượng Hải Thuyền (LLHTh).
Việc huấn luyện và thành lập các đội Hải Thuyền (về sau là Duyên Đoàn) khởi đầu từ tháng 7-1960, tại Hải Khu Đà Nẵng (tiền thân của Bộ Tư Lệnh Hải QuânVùng 1 Duyên Hải).  Hải Quân tiến hành huấn luyện nhân viên, đa số thanh niên được tuyển-mộ từ các làng đánh cá ở duyên-hải miền Trung, để trang bị cho đội Hải Thuyền.
Phái bộ MAAG ở Việt Nam do Tướng Samuel T. Williams chỉ huy cũng như Đô-Đốc Harry D. Felt, Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ Thái Bình Dương đều tán-đồng quan-điểm xây dựng LLHTh (28đã dẫn) .  Cố vấn Hải Quân Hoa Kỳ thuộc MAAG bắt đầu thực hiện việc đóng ghe hải thuyền vỏ gỗ trang bị động cơ Diesel, gồm các loại Kiên-Giang, Thiên-Nga, Chủ-lực tại các Trại đóng ghe ở Chợ Lớn Sài Gòn, và Phan Thiết. Ghe đóng xong, chuyển giao cho Bộ Chỉ Huy Lực Lượng Hải Thuyền.
Song song với việc ký hợp-đồng đóng ghe gỗ với tư-nhân, phân-bộ Hải Quân MAAG cũng cấp kinh-phí cho HQCX đóng 13 ghe chủ-lực, gắn máy GM 6.71, theo hoạ-đồ do Phòng Hoạ đồ / Ty Kế-Hoạch Trù-Liệu thiết-lập.  Và đồng thời giao cho HQCX nghiên-cứu mẫu ghe hải thuyền gắn máy GM 3.71, nhỏ hơn ghe chủ lực.  Việc nghiên-cứu và vẽ hoạ-đồ thiết-kế mẫu ghe trắc-nghiệm này, do Ông YABUTA Kỹ Sư Nhật, Cố vấn Xưởng Vỏ Tàu đảm-nhiệm.
Ghe trắc-nghiệm lấy tên là ghe Yabuta (29). Sau khi hoàn-thành hoạ đồ mẫu ghe, công tác tiến-hành từ vẽ trên sàn gỗ (gabarit), điều-động xẻ gỗ để làm sống ghe, sườn ghe,  lắp ráp, đóng ván vỏ, lắp đặt máy chánh, bánh lái, trục chân vịt … đều thực hiện ngay tại Ban Mộc / Xưởng Vỏ Tàu .  Đến khi hoàn thành, đưa ghe Yabuta ra bờ Ụ lớn, cần cẩu lớn nâng ghe lên, thả xuống nước.

HQCX dong ghe chu luc, Thien Nga va Yabuta
HQCX  thực hiện cùng một lúc hai kế-hoạch: đóng ghe trắc-nghiệm mẫu nhỏ đối với ghe chủ- lực và đóng mới 13 ghe chủ-lực gắn máy. Vào muà Hè 1962, khi người viết, cấp bậc Trung Uý, đang phụ-trách Trưởng Xưởng Động Cơ, được giao-phó kiêm-nhiệm chức vụ Sĩ Quan Kế Hoạch đóng mới 13 ghe chủ-lực vỏ gỗ, gắn máy chánh cho Lực Lượng Hải Thuyền. Kế hoạch này được khởi công từ  Hè năm đó và hoàn thành hơn 4 tháng sau.
Bắt tay vào việc :  yêu cầu Phòng Hoạ đồ cấp toàn-bộ bản-vẽ của Ghe chủ lực (non 30 bản-vẽ), chọn địa điểm để lắp ráp ghe, kiểm tra hợp đồng thương-vụ cung cấp gỗ sao (là loại gỗ có khả năng chịu nước mặn, chống hà) và lịch-trình cung-ứng ; kiểm tra phiếu tiếp liệu cung- cấp 13 máy chánh, cùng chân vịt, trục chân vịt ; các Lệnh-công-tác do Ty Kế-Hoạch Trù-Liệu phát hành cho các Xưởng thi-công ; kế-hoạch tuyển-dụng thêm các sắc thợ, ngoài số công-nhân cơ-hữu của HQCX, để đóng mới 13 ghe chủ lực này.
Địa điểm được chọn là 3 dãy nhà-xưởng rộng lớn gần Rạch Bến Nghé, mặt sau HQCX, làm Trại đóng ghe, và đã cùng Ông Inoue, Kỹ sư Nhật ở Khu Công Thự Tiện Ích, tiến hành quan-sát tại chỗ để sửa lại các cần-cẩu (portique) di chuyển trên các hàng trụ đứng, đở mái nhà-xưởng , đồng thời thảo-luận về sơ-đồ bố-trí các sống-ghe tại Trại đóng ghe.
Sau khi đã nắm vững từ hoạ-đồ thiết-kế, kế hoạch cung-ứng gỗ sao, máy chánh, phụ tùng, tuyển-dụng thêm công-nhân, và Lệnh-công-tác giao phó các Xưởng đối-chiếu nhiệm-vụ phối-hợp thi-công, lập chương-trình đặt sống-ghe, lắp-ráp sườn ghe, vỏ và sàn ghe, lắp máy chánh, trục chân vịt , chân vịt , bánh lái … cùng dự-trù ngày kéo ghe ra bờ Ụ lớn để hạ thuỷ.  Chương-trình phối-hợp thi-công này được in ra, trình Ban Giám Đốc, các Ty, và phổ biến cho các  Xưởng /Khu/Ban để dễ điều-động.
Về thời-gian thực-hiện, đầu tiên đặt 4 sống-ghe, trên nền Trại đóng ghe, nằm ở vị-trí lệch-xiên đối với trục của xưởng để dễ kéo ra khỏi xưởng khi đóng xong, đồng thời tiến hành lắp vỏ ghe.  Sau 4 tuần lễ, vỏ ghe thứ nhất hoàn-tất, sơn chống hà cho vỏ ghe, lắp máy chánh, trục chân vịt …. Vỏ ghe được đặt trên bệ sắt (plate-forme) có gắn đà gỗ ở dưới, dùng xe công-trường loại lớn,  kéo ra khỏi Trại đóng ghe, đưa đến bờ Ụ lớn, cần trục ở bờ Ụ kéo ghe lên, thả xuống nước.

HQCX dong ghe chu luc
Từ đó theo nhịp độ, mỗi tuần 1 ghe chủ-lực xuất xưởng. Thượng Sĩ Cơ Khí Nguyễn Văn Hay và Trung Sĩ Vận Chuyển Lưu Phước Tiên, nhân viên cơ-hữu HQCX, biệt-phái cho Kế Hoach đóng ghe chủ-lực, tiến hành phối hợp với các Xưởng liên-hệ để thử tại chỗ, chạy thử ghe đường trường ra Nhà Bè, và lập thủ-tục bàn giao ghe mới hạ thuỷ cho LL Hải Thuyền (30).
HQ Đại Uý Cơ Khí Nguyễn Văn Hoa, Trưởng Phòng Kỹ-Thuật / Bộ Chỉ Huy LL Hải Thuyền (Khoá 4 NT, hy-sinh trong cuộc hành quân trên sông)  chỉ-định nhân viên tiếp nhận ghe hải thuyền mới đóng xong tại HQCX (thường cập cầu R , Trại Cửu Long).
Khả năng chuyên môn và thiện-chí tích-cực của Th/Sĩ Hay và Tr/Sĩ Tiên đã giúp cho Kế hoạch đóng 13 ghe chủ-lực hoàn-thành đúng thời hạn.  Chiếc chủ-lực thứ 13,được trình bày trang hoàng đặc biệt : bên trong ghe, boong ghe sơn  vét-ni (vernis), lan-can sắt-không-rỉ, dây thừng buột tàu lớn nhỏ Manille trắng (cordage en chanvre de Manille), có may bố trắng che nắng ở sân trước, sân sau.
Theo chỉ-thị của Trung Tá Giám Đốc Hải Quân Công Xưởng, ngày kết-thúc kế-hoạch đóng 13 ghe chủ-lực, tổ chức bằng một cuộc chạy thử ghe thứ 13.  Sáng sớm, ghe thứ 13 đến trình-diện cầu tàu Đô-Đốc trước Bộ Tư Lệnh Hải Quân (BTL/HQ), quân-phục tiểu lễ trắng. Độ 9 giờ, có Tư Lênh HQ , Cố vấn trưởng, Chỉ Huy Trưởng LLHTh, và Ban Giám Đốc HQCX cùng các Cố vấn lên ghe thứ 13 này. Khởi hành đi đèn-đỏ, quá Kho 6 Khánh-Hội, buổi sáng trời thật nắng, gió mát, dưới hai tấm « bạt » (bâche) che nắng, có tiệc trà nhẹ.
Cuộc chạy thử thành công.  Đại Tá Tư Lệnh HQ cũng như Cố vấn trưởng đều thấy rõ sự khác biệt giữa ghe chủ-lực do HQCX đóng và ghe do tư-nhân thực-hiện theo hợp-đồng của phân-bộ HQ Hoa Kỳ.  Ghe thứ 13 này trở thành Hải Thuyền đặc biệt của Bộ Chỉ Huy LL Hải Thuyền, đưa đón phái đoàn.

12. Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng Việt Nam và Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ thăm viếng Hải Quân Công Xưởng

Theo tài liệu của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, trong Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà từ 1958 đến 1960, Ông Nguyễn Đình Thuần làm Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống và sau đó, từ tháng 10 năm 1960, đảm nhiệm chức vụ Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng.
Đầu năm 1961, Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng Nguyễn Đình Thuần và phái đoàn đã thăm viếng HQCX lần đầu tiên, với thời gian ngắn, nghi-thức đón tiếp  đơn giản. Ban Giám đốc và các SQ Trưởng Ty đón Bộ Trưởng  tại văn phòng Giám đốc HQCX, và dự thuyết-trình về tổ-chức, hoạt-động của đại-đơn-vị Hải Quân.
Sau đó, phái-đoàn Bộ Trưởng được Ban Giám Đốc hướng dẫn thăm viếng đơn-vị, đoàn xe chỉ dừng lại vài Xưởng. Phái đoàn quan-sát Xưởng Vỏ Tàu với những hàng trụ đở mái , xây rất cao , cẩu-hàng (portique) di-chuyển theo đường ray, kéo “rampe” và cửa đổ-bộ rất nặng và cồng-kềnh của Hải vận hạm LSM  một cách nhanh chóng, di-chuyển dễ dàng ; Ban Sắt Xưởng Vỏ Tàu có những thiết-bị rất lớn, cấu-trúc nặng nề.
Nhất là khi phái đoàn đến bờ Ụ lớn, thấy cần trục Wellman vận hành trên hai đường ray đặt sát bờ Ụ, cách 1 mét (một mét), có sức kéo 20 tấn bán kính dưới 15 mét, Bộ Trưởng Nguyễn Đình Thuần đã nhận xét : “Hải Quân trang-bị cơ xưởng rất lớn” — theo lời thuật lại của HQ Đại Uý Cơ Khí Lương Thanh Tùng, Trưởng Ty Điều Hành Cơ Xưởng (Khoá 1 NT, về sau HQ Đại Tá, Tham Mưu Phó Tiếp Vận).
Tháng 3-1961, Bộ Trưởng N. Đ. Thuần đã lên đường đi Bangkok dự hội nghị SEATO từ 27 đến 29.  Tối ngày 27-03-1961, có cuộc họp giữa Bộ Trưởng Ngoại giao Mỹ Dean Rusk, Đại Sứ Mỹ ở Việt Nam Elbridge Durbrow và Bộ Trưởng Thuần về nhu-cầu viện trợ sau các hoạt động tấn công phá hoại của « Viet Cong » (chữ dùng trong bài tường thuật do Đại Sứ Durbrow thảo ngày 29-03-1961, gởi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ) (31).
Tưởng cũng cần nhắc lại năm trước đó ngày 1 tháng 4-1960, Bộ Trưởng Thuần khi còn là Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống, viếng Đô-Đốc Harry D. Felt, Tư-Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ Thái Bình Dương, tại bản doanh ở Hawaii, nêu lên vấn đề trang bị thêm chiến hạm cho HQ Việt Nam trong 5 năm tới (32) . Cũng trong tháng Tư 1960, tại Washington D.C. , Bộ Trưởng Thuần gặp Đô-Đốc Arleigh A. Burke, đương kim Tư Lệnh Hải Quân Hoa Kỳ (CNO) thảo luận về viện trợ chiến đĩnh dùng sức mạnh của nước đẩy tàu (turbo-powered boat), không trang bị chân vịt như thường lệ, và trắc-nghiệm tàu lắp chong-chóng dạng máy bay phía sau.
Ngày 14 tháng 6-1961, tại Toà Bạch ốc, Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng Nguyễn Đình Thuần trao thư đề ngày 9 tháng 6 của Tổng Thống Ngô Đình Diệm gởi cho Tổng Thống John F. Kennedy về cuộc hội-đàm viện trợ quân sự (33) .
Và trước khi Đô-Đốc Arleigh Burke rời chức vụ Tư Lệnh Hải Quân Hoa Kỳ ngày 25 tháng 7-1961, Bộ Trưởng Thuần có cuộc tiếp-kiến với Đô-Đốc Tư Lệnh, nhắc lại yêu-cầu cung cấp chiến-đỉnh đặc biệt vận-hành ở vùng nước cạn cho chiến trường vùng kinh rạch, vì các loại tàu nhỏ lắp chong-chóng dạng máy bay không thích-ứng với chiến trường Miền Nam.  Sau hội đàm này, Đô-Đốc Burke đã yêu cầu Cơ quan Thiết-kế Chiến hạm  (Bureau of Ships) nghiên cứu mẫu chiến đĩnh di-chuyển vùng nước cạn [cùng tài liệu (32) đã dẫn].
Thời gian 1961, 1962 có nhiều vị trong chính phủ Hoa Kỳ đến Việt Nam ; từ Phó Tổng Thống, Bộ Trưởng Quốc Phòng, và Tướng Maxwell D. Taylor, Cố Vấn của Tổng Thống John F. Kennedy, đã viếng Việt Nam lần thứ nhất ngày 15-10-1961.
Năm 1962, Đại Tướng Maxwell D. Taylor, trong chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ (TTMT LQ), nhân dịp chuyến đi các nước ở Châu Á khởi hành từ Thủ đô Hoa Kỳ ngày 31 tháng 8-1962, đến Sài Gòn ngày 10-09-1962 (34), đã dành thì giờ viếng  các đại-đơn-vị Quân đội VN CH, trong số đó có HQCX Sài Gòn.
Ban Giám Đốc HQCX và đoàn Cố vấn HQ Hoa Kỳ tại đơn vị đón tiếp Đại Tướng Taylor, dự thuyết trình, và sau đó đi quan sát tại các Xưởng.  Thời gian tháng 9-1962, tôi phụ trách Trưởng Xưởng Động cơ, cấp bậc Trung Uý.  Theo chương trình tiếp đón, các SQ Trưởng Xưởng vẫn mặc quân phục làm việc xanh-tím, đón phải đoàn của Đại Tướng Taylor ở cửa chính của Xưởng và hướng dẫn đoàn đi viếng Xưởng.
Độ hơn 3 giờ chiều, đoàn xe đến cửa chính của Xưởng Động cơ, tháp tùng Đại Tướng Maxwel Taylor có HQ Trung Tá Lâm Ngươn Tánh Giám đốc HQCX, Trung Tá Sisk , Cố vấn trưỏng HQCX, và một số SQ cao cấp Hoa kỳ. Trung Tá Sisk giới thiệu tôi là Trưởng Xưởng, và ngỏ lời với Tướng Taylor và Trung Tá Gíam Đốc để tôi trình bày trực tiếp cho Tướng Taylor về hoạt động của Xưởng.
Sau lời tự giới thiệu cấp bậc, tên, chức vụ, tôi liền đưa việc được đi học ở Hải Xưởng Subic Bay năm 1960 vào ngay đề tài nói về hoạt-động của Xưởng Động cơ.  Chính điểm này đã làm cho Đại Tướng Taylor rất chú ý, và từ đó Đại Tướng đã đặt ra rất nhiều câu hỏi về thời gian đi học ở Subic Bay, mục đich của chương trình thực tập, nhiệm vụ chính của Xưởng Động cơ, có trở ngại gì về tiếp liệu … Trung tá Sisk và Trung Tá Giám Đốc  đi bên cạnh Tướng Taylor, nghe rõ lời trình bày của tôi, nhưng không thấy ngắt quãng khi tôi trả lời cho Tướng Taylor.
Tôi đưa phái đoàn đi từ phân-xưởng Tiểu-động-cơ, sửa máy chánh của chiến đĩnh, qua Trung-động-cơ, máy phát điện của chiến hạm, và Đại-động-cơ, máy chánh của các chiến hạm.  Tại ba phân-xưởng, hoạt động rất nhộn nhịp, có đến một trăm công nhân, chỗ thì đang tháo máy, chỗ thì đang đo độ mòn,  kiểm-tra phụ-tùng … Tôi trình bày về quá trình sửa chữa động cơ lúc chiến hạm vào Đại kỳ, Đại Tướng đặt nhiều câu hỏi về khả năng chuyên môn của công nhân và quan sát hoạt động của các phân-xưởng.
Trước khi Đại Tưóng Taylor cùng phái đoàn sắp rời phân-xưởng Đại-động-cơ, hỏi tôi câu cuối cùng là có muốn nêu lên đề nghị gì ? Tôi trả lời Đại Tướng là xin cung-cấp cơ-phận kịp thời.
Đã hơn 50 năm qua, nhắc lại lần thăm viếng HQCX của Đại Tướng Maxwell Taylor năm 1962, tôi không quên các câu hỏi sâu-sắc của Đại Tướng Taylor, trong bối-cảnh cuộc chiến ở Việt Nam ngày càng lan rộng,  và nhất là thái-độ ân-cần của vị Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ, dù thời-gian thăm viếng hạn-chế nhưng cũng đã  lắng nghe lời trình bày của một Sĩ Quan cấp Uý Hải Quân Việt Nam.

13. Lộ trình xe chạy xuyên qua Hải Quân Công Xưởng sau khi phục-hồi tình hình tài-chánh, kinh-tế :

Kế Hoạch  STALEY – VŨ QUỐC THÚC năm 1961 (35)

Cuộc đảo chánh ngày 11 tháng 11 năm 1960 tại Sài Gòn, dù bất thành, cũng đã gây ảnh-hưởng tâm-lý, phần nào tác-hại đến thị-trường, nhất là về xuất-nhập-khẩu đầu năm 1961.  Tại Thương cảng Sài Gòn, hàng hoá nhập-khẩu đầy kho Khánh Hội, nhưng thương-gia, các công-kỹ-nghệ gia không rút hàng ra khỏi kho được vì thị-trường thiếu tiền mặt. Lý do, sợ tình hình chính trị bất ổn, nên tiền ký-thác trong ngân hàng đã được rút ra hết.  Sự lưu-thông phân-phối hàng-hoá bị đình-trệ.
Người viết bài nhớ lại dạo đó, trên tạp chí QUÊ HƯƠNG  (bìa trắng , chữ Quê Hương màu xanh dương, rất dày) xuất bản  ở Sài Gòn hai tháng một kỳ do Giáo Sư Nguyễn Cao Hách, Đại Học Luật Khoa, Chủ-Nhiệm đã đề-cập đến tình hình kinh tế ở Miền Nam, do ảnh hưởng của cuộc  đảo chánh gây ra một phần, và thêm lý do chiến trường ngày càng bị địch quân đánh phá các ấp chiến-lược.
Như đã trình bày qua ở tiểu-đoạn 12 nêu trên, tại Washington D.C., ngày 14 tháng 6-1961, tiến hành cuộc hội đàm giữa Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng Nguyễn Đình Thuần và Tổng Thống John F. Kennedy, với thư của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đề ngày 9 tháng 6-1961 do Bộ Trưởng Thuần trao cho Tổng Thống Hoa Kỳ.
Chủ yếu của bức thư do Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà nêu lên việc tăng quân số chính quy từ 170.000 lên 270.000 và chấp thuận việc dùng đơn vị quân đội Hoa Kỳ huấn-luyện cho quân đội Việt Nam
Ngày 12 tháng 5-1961, Tổng Thống Hoa Kỳ đã cử Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson đến Sài Gòn thảo-luận với Tổng Thống Ngô Đình Diệm về kế-hoạch viện-trợ. Phúc trình của Phó Tổng Thống Mỹ đệ trình cho Tổng Thống Kennedy, đã đuợc chấp thuận tăng viện trợ.  Vào trung tuần tháng 6-1961, Tổng Thống Mỹ cử phái đoàn tài chánh do Tiến Sĩ Eugene Staley chủ trì, sang Việt Nam nghiên-cứu kế-hoạch xác-định nhu-cầu viện trợ Hoa Kỳ. (Trích nguyên văn : “Kennedy agreed, and sent a ‘Special Financial Group’ headed by Standford University’s Dr Eugene Staley to Saigon”) (36) .

Sau đó, phái đoàn của TS Eugene Staley đã phúc trình cho Tổng Thống Hoa Kỳ , trong đó có dự án tài-chánh liên quan tăng-cường chi-phí quốc-phòng cho Việt Nam Cộng Hoà.
Phúc trình đề nghị như sau :  phương-án A tăng thêm quân lên đến 200.000 trên quân số hiện-hữu 170.000 , tức tăng thêm 30.000 .  Phương-án B tăng quân số lên  278.000, tức cao hơn 8.000, đối với thư đề ngày 9 tháng 6-1961 do Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà nêu lên và đã gởi cho Tổng Thống Hoa Kỳ.
Tại Việt Nam tháng 6 và 7-1961, Tiến Sĩ Eugene STALEY còn hợp tác với Giáo Sư VŨ QUỐC THÚC, (đã giữ chức vụ trong Chính phủ, Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia, Cố Vấn Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và Khoa Trưởng Đại Học Luật Khoa Sài Gòn),  trong kế-hoach nghiên-cứu tài-chánh, phục-hồi sự bình-ổn về tiền mặt lưu-thông hầu đáp-ứng sự thiếu hụt tiền mặt tại thị-trường có tính đột-biến tạm-thời do ảnh hưởng của cuộc đảo chánh tháng 11-1960, dẫu không thành.

Tạp Chí QUÊ HƯƠNG  đề-cập nội-dung phúc-trình Staley – Vũ Quốc Thúc nhằm cứu-vãn tài-chánh, kinh-tế lúc bấy giờ  như sau :
Năm 1960 số tiền mặt lưu-hành, đã được Ngân Hàng Quốc Gia phát-hành độ non 20 tỷ đồng VN. Do sự khan-hiếm tiền mặt trên thị-trường đầu năm 1961, nên hàng hoá không lưu-thông. Kế-hoạch đề-nghị là có thể in thêm tiền giấy 1 tỷ đồng VN giúp cho thưong-gia, công-kỹ-nghệ gia có tiền mặt ngay để rút hàng-hoá tồn-đọng ở các Kho thuộc Thương cảng Sài Gòn.
Sau khi đã dần dần cân-bằng được lượng tiền mặt lưu thông trên thị-trường, số tiền giấy 1 tỷ đồng VN mới phát-hành, được lần lượt thu-hồi lại [;] và đem thiêu-huỷ.  Nên không có tình-trạng lạm-phát.
Không bao lâu sau khi thi-hành Kế hoạch Staley – Vũ Quốc Thúc, hoạt động kinh tế trên thị-trưòng đã trở lại bình thường, lưu-thông hàng-hoá xuất-nhập-khẩu không còn bế-tắc ;  báo chí ở Sài Gòn đưa tin hằng ngày về tiến-trình thực hiện Kế hoạch này mang lại kết quả cụ-thể và bước tiến về kinh tế cho Việt Nam Cộng Hoà.  Đa số phóng viên của các nhật báo đã đánh giá cao về thành-quả của Kế hoạch kinh tế do hai vị Giáo Sư cùng hoạch-định.
Đây là lúc mà    « Lộ trình xe chạy xuyên qua Hải Quân Công Xưởng » (HQCX) như vừa nêu trên, bắt đầu được thi-hành.  Số tiền giấy xuất-phát từ việc in thêm 1 tỷ đồng VN đã được Ngân Hàng thu-hồi, kiểm-tra.  Từng đợt, xe chở bạc bít-bùng, chạy vô cổng chánh HQCX , ở góc đường Cường Để Sài Gòn, chạy băng ngang qua HQCX, qua cầu “Avalanche”– tên cầu có từ thời Hải Quân Pháp — bắt ngang Rạch Bến Nghé hay quen gọi sông Thị-Nghè, xuống khỏi dốc cầu, là Kho đốt bạc của Ngân Hàng giữa bãi lau sậy.
Đã 53 năm qua, thành quả kinh tế mà hai vị Giáo Sư Đại Học Stanford và Sài Gòn, dưới thời Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy và Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà Ngô Đình Diệm, đã thực-hiện được lưu lại bao khâm-phục trong ký-ức của thanh niên thời ấy nhất là các cựu sinh viên Luật, trong đó có  hai Sĩ Quan Hải Quân Khoá 7 Đệ Nhất Thiên Xứng ghi danh theo học “miễn chuyên-cần” : Anh Nguyễn Hữu Ng., Hạm Trưởng (về sau là Giám Đốc Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín Đà Nẵng, đã mất ở quê nhà), và Anh Phạm Văn T. , (SQ HQCX, đã từ-trần ở Hoa Kỳ).

lST Da Nang Dai Ky

14.  Hoạt động của Khu Ụ Nề và Thủy Thành (KUN & TT)

Năm 1863, Hải Quân Pháp đã tiến hành xây dựng công-trường Hải Quân của Hạm Đội Viễn Đông (VĐ) (Chantier naval de l’Escadre d’Extrême-Orient), tức Hải Quân Công Xưởng Sài Gòn ngày nay, để sửa chữa chiến hạm thuộc Hạm Đội VĐ và Lực lượng Hải Quân Đông Dương. Từ năm 1865 tại Sài Gòn, đã lắp ráp Ụ nổi (thuỷ thành) để sửa tàu (37 & 38 ) .
Trên hình của Ụ nổi lắp ráp từ 1865  trình bày ở phần chú-thích, cho thấy một chiến thuyền loại 3 trụ buồm, được đưa lên Ụ nổi để sửa vỏ tàu. Thời điểm ấy, HQ Pháp đã chọn địa-điểm gần Rạch Bến Nghé để xây dựng nhà máy sửa tàu, thông thường có Ụ sửa tàu (bassin de radoub), và Nề tàu, nhưng nền hạ của khu đất ấy không ổn-định  do đó trước hết trang bị một Ụ nổi.
Mãi đến 20 năm sau mới xây dựng Ụ lớn từ 1884 đến 1888, có chiều dài 152 mét, ngang 21 m,  sâu  9,2 m ; như tồn tại cho đến nay.  Năm 1940 HQ Pháp dự trù tăng chiều dài Ụ lớn của HQCX từ 152 mét lên 190 mét nhưng chưa thực hiện đươc. Công trường xây dựng Ụ lớn (bassin) năm 1884 thu-hút nhiều  lao động nên đã truyền-tụng trong dân-gian chữ “bassin” đọc trại ra âm tiếng Việt là  “ba-son” (39 & 40) .
Khu UN & TT trực-thuộc sự điêù động của Ty Điều Hành Cơ Xưởng, ban-hành lệnh vận-chuyển Ụ lớn và Ụ nhỏ đưa chiến hạm vô, ra Ụ,  lệnh vận chuyển Thuỷ thành đưa tàu đổ bộ nhỏ hay xà-lan lên xuống Ụ nổi  và vận chuyển 4 Nề tàu để sửa Đại kỳ hầu hết các loại chiến-đĩnh thuộc Bộ Chỉ Huy Giang Lực.
Thời kỳ 1960, 1961, HQ Viêt Nam chỉ có Hộ tống hạm PC dài 53 mét, Hải vận hạm LSM dài 62 mét, Trục lôi hạm YMS  43 mét, Giang vận đỉnh LCU  36,44 mét.  Từ năm 1959, Hoa Kỳ bắt đầu viện trợ 3 Trục lôi hạm MSC. Chiếc đầu tiên,  HQ 114, mới hạ thuỷ, bàn giao ở HQCX Mare Island, California, ngày 9 tháng 7-1959. Trục lôi hạm MSC dài 43 mét. (41).
Ngày 23 tháng 11-1960, HQ VN nhận thêm 1 Hộ tống hạm HQ 06 , do Hoa Kỳ chuyển giao cùng loại với PC cũ. Ngày 29 tháng 11-1961, HQ Hoa Kỳ chuyển giao Hộ tống hạm  loại mới PCE, HQ 07, dài 56,4 mét.
Chiều dài của các chiến hạm như vừa trình bày, so với chiều dài của Ụ lớn là 152 mét nên có thể đưa 2 chiến hạm vào Ụ cùng một lúc, hoặc 1 chiến hạm và 1 thương thuyền của Hàng Hải VN.  Do đó, Ty Điều Hành Cơ Xưởng (Ty ĐH CX) ban hành lệnh vận chuyển Ụ lớn,  thường có 2 tàu vào Ụ.  Năm 1960, Ngành Hàng Hải Thương Thuyền của Việt Nam Cộng Hòa mới chỉ có 5 thương-thuyền như Trường Sơn, Đại Hải, Nhựt Lệ … đưa hàng hoá từ Sài Gòn ra Đà Nẵng tiếp tế cho miền Trung.
Về phương diện chuyên môn, những điểm căn bản sau đây cần chú ý cho việc đưa tàu vào Ụ lớn, đáy tàu nằm trên hàng nề-gỗ nâng-tàu (les tins axiaux), kê ở đường tâm của Ụ, để nâng lườn tàu :
– Thông thường tàu đổ-bộ LSM khi vào Ụ không còn nhiên liệu, nuớc, đạn-dược trên chiến hạm ; đường mực nuớc song song với đường chuẩn đáy tàu (ligne de base de la quille) ; khi đọc hoạ-đồ làm-cạn (plan d’échouage) sẽ dễ sắp xếp các nề nâng-tàu ;
– Cánh chân vịt của tàu đổ bộ và thương thuyền thường không vượt qúa  đường chuẩn đáy tàu ; nhưng ở Hộ tống hạm, chân vịt đặt ở vị trí rất thấp (42), nên khi thiết-kế đưa Hộ tống hạm vào Ụ , phải xê-dịch rất nhiều nề nâng-tàu, để dành chỗ cho công nhân kiểm tra, sửa trục chân vịt, chân vịt, bánh lái ;
– Khi Hộ tống hạm vào Ụ, dù trên tàu đã di-chuyển hết nhiên liệu, nước, đạn-dược khỏi tàu, nhưng đường mực nuớc (ligne de flottaison) khi tàu ở trong Ụ lớn, không song song với đáy tàu, mũi tàu có khuynh-hướng nhếch lên ;
– Do đó, khi mực nước trong Ụ hạ xuống dần, do bơm nuớc chạy, hút nước thổi ra sông, cần phải cho thợ lặn– 9 thước nuớc — xuống kiểm tra vị trí vỏ tàu  thường xuyên, và chỉ định nhân viên túc-trực trên chiến hạm để kiểm-tra độ-nghiêng của tàu, phải giữ cho thân tàu thật thăng bằng, đồng-hồ độ-nghiêng ở  0°  (inclinomètre) ;
-Lúc đang bơm nước ra khỏi Ụ,  khi thợ lặn kiểm tra và báo cáo phần lái của Hộ tống hạm bắt đầu chạm vào nề-tàu ở lòng Ụ ; trên bờ Ụ phải chuẩn bị bắt đầu đóng đà-chống-ngang (les clefs), đó là những đà gỗ lớn, tiết diện vuông, chống-ngang bên hông tàu. Xin xem ảnh chụp chiến thuyền 3 buồm, vô Ụ lớn, thời 1888, ở bảng chú-thích, mục 39, ảnh thứ hai.  Sử dụng đà-chống-ngang để giữ cho thân tàu được thăng-bằng khi tàu vào Ụ.
Đối với Hải Quân Hoa Kỳ, như đã áp-dụng trên Ụ Nổi ARD (thủy thành) tại Hải Xưởng Subic Bay, hoạ-đồ làm-cạn  (docking plan) sử-dụng các nề-nâng-tàu đúng theo dạng của vỏ tàu  nên không dùng đà-chống-ngang. (43 & 44) .
Ngày vận chuyển Ụ lớn .   Đưa tàu hoàn tất sửa chữa ra Ụ ; và đưa tàu khác vào Ụ để sửa vỏ tàu.
Sau khi chiến hạm ở trong Ụ được sửa chữa hoàn-thành các hạng-mục về phần vỏ tàu và trang-bị liên-hệ với vỏ tàu (trục chân vịt, chân vịt, bánh lái, đôm dò tàu lặn ‘dôme-SONAR’…),  Ty Điều Hành Cơ Xưởng ban hành Lệnh vận chuyển Ụ lớn.
Trước giờ dự-trù mở nuớc vào Ụ, tất cả các Xưởng phải di-chuyển máy hàn điện, chai gió đá, các dụng cụ để sửa vỏ tàu, bình cứu hoả , ống cứu hoả (bắt thẳng vào miệng cứu hoả do tháp nước của Khu Ụ Nề cung cấp nuớc) và di-chuyển  tôle, sắt thép còn lại ở đáy Ụ.
Khu Ụ Nề mở van xả nước chứa trong lòng cửa Ụ xuống đáy Ụ ; để giữ cho lòng cửa Ụ rổng ; giúp cho cửa Ụ tự-động nổi lên khi mực nước trong và  ngoài cửa Ụ gần bình-thông nhau.
Xưởng Vỏ Tàu kiểm tra sơ-đồ thăm-dò vỏ tàu, đảm bảo các mủi khoan đo bề dày vỏ tàu đã được hàn lại kín. [Về sau, dùng máy điện-tử cầm tay để đo bề dày vỏ tàu] . Ban Khai thác Ụ nề kiểm soát lớp sơn kỵ-hà ở lườn tàu đã được sơn trong vòng 24 giờ trước khi ra Ụ.  Các cần trục Khu UN di-chuyển tất cả dàn-gỗ kê bên hông vỏ tàu, đã đặt trước  đây cho công nhân thi-hành công tác và sơn vỏ tàu,  bảo-đảm không có trở ngại làm vướng chân vịt, hay trục chân vịt.
Thuỷ-thủ-đoàn của chiến hạm túc-trực ở boong tàu và Ban Cơ Điện , Phòng Tai phải kiểm tra sự kín nước ở trong lòng tàu, nắm tình hình vỏ tàu hoàn toàn kín nước, tránh sự rủi ro vì hàn không kỹ ; lúc mở nước vào Ụ cũng là lúc phát-hiện có nước từ bên ngoài rỉ vào bên trong lòng tàu.
Nhân viên vận chuyển của KUN phải trực ở các máy-tời (treuil) hai bên bờ Ụ, giữ dây buộc tàu ; nhân viên thợ  lặn chuẩn bị dụng cụ sẳn, lặn xuống thăm dò vỏ tàu. Các cần cẩu  Wellman và Clyde ở hai bên bờ Ụ lớn  sẳn sàng để sử-dụng.
Tất cả phải hoàn thành trước khi mở nước vào Ụ.  Giờ bắt đầu mở nuớc vào Ụ (45) dự-trù thực-hiện 4 giờ đồng hồ trước khi thuỷ-triều lên mức cao nhất, để dễ-dàng vận chuyển tàu ra khỏi Ụ, và đưa tàu khác vào Ụ.  Thời gian tôi mới  phụ-trách Khu Ụ Nề Thủy Thành, để bảo-đảm an-toàn cho ngày vận-chuyển Ụ lớn, đưa chiến hạm ra Ụ và chiến hạm khác vào Ụ lúc 7 giờ sáng, thuỷ-triều cao nhất, nên tôi rời Trại Bạch Đằng (tạm trú) lúc 2 giờ rưởi sáng để qua HQCX truớc 3 giờ sáng : giờ mở nước vào Ụ.
Thường lệ, khi mực nước trong Ụ dâng lên được quá phân nửa, vỏ tàu nổi lên.  Nhân viên túc trực ở các trụ buộc dây của máy tời, hai bên bờ Ụ,  phải giữ dây không cho chiến hạm xê-dịch.  Các đà-chống-ngang, như đã dùng cho Hộ tống hạm, nổi lên trên mặt nước, 2 cần cẩu ở hai bên Ụ có nhiệm vụ kéo đà-chống-ngang lên khỏi Ụ.
Khi mực nước trong và ngoài Ụ gần bình-thông nhau, cửa Ụ (nước chứa bên trong cửa Ụ đã được xả hết, cửa Ụ rỗng) tự động nổi lên. Dùng máy-tời thâu dây giữ cửa Ụ, và di chuyển qua một bên, dành chỗ đưa tàu ra khỏi Ụ.
Thời điểm thuỷ-triều lên cao nhất, “nước đứng”  (l’étale) trung bình chỉ kéo dài trong vòng 10 phút. Đây là lúc  thuận tiện nhất để dùng máy-tời kéo dần phần lái của chiến-hạm ở trong Ụ, ra đến cửa Ụ.  Và từ đó có LCVP ủi (pousseur) hay LCM ủi thuộc Ty Quân Cảng,  di chuyển chiến hạm ra khỏi vùng cửa Ụ.
Trách nhiệm của Khu Ụ Nề chỉ đưa tàu ra đến vị trí của cửa Ụ, Ty Quân Cảng sẽ dẫn tàu đi cập vào cầu tàu do Ty ĐH CX quyết định.
Ngay lúc các  chiến hạm vừa ra Ụ đã được di chuyển khỏi vùng cửa Ụ, Ty Quân Cảng điều động các tàu-kéo (remorqueur) đưa tàu khác,  đôi lúc 1 chiến hạm và 1 thương thuyền vào Ụ sửa chữa.
Như đã trình bày trên, khi mũi tàu đến ngang cửa Ụ, Khu Ụ Nề sẽ dùng máy-tời đặt ở 2 bên bờ Ụ để thâu dây, di-chuyển chiến hạm vào trong lòng Ụ.
Lúc đưa tàu vào bên trong Ụ xong, nước thuỷ triều đang ở mức cao, phải kiểm soát ngay  vị trí của mũi và lái tàu tưong-ứng với số mét ghi theo chiều dài của bờ Ụ ; để biết chắc chắn khi mực nước trong Ụ được bơm cạn, vỏ tàu sẽ nằm trên hàng nề-tàu đúng vị-trí thiết-kế theo hoạ-đồ làm-cạn. Dây buộc tàu tại các máy-tời trên bờ Ụ phải giữ nguyên vị-trí, tránh vỏ tàu xê-dịch khi các máy bơm nước chạy, tháo nuớc ra sông.
Sau khi các công tác chuẩn bị đóng cửa Ụ đã hoàn tất,  cửa Ụ được đưa đến đúng vị-trí. Bắt đầu mở van nuớc của cửa Ụ, nước sông vào bên trong lòng của cửa Ụ lớn, và nhận chìm từ-từ cửa Ụ xuống. Lượng nước chứa bên trong cửa Ụ có mục đích giữ cố-định vị-trí của cửa Ụ, trong suốt thời gian Ụ lớn đã bơm khô.
Nhà máy bơm nuớc khởi-động các bơm hút nuớc trong Ụ thoát ra sông. Chỉ trong vòng mươi phút sau, mực nước bên trong Ụ bắt đầu được hạ xuống (Khu Ụ Nề gọi là “nước bị giựt xuống”).  Do chênh-lệch giữa mực nước sông bên ngoài Ụ và mực nước đã hạ xuống bên trong Ụ, tạo áp lực cho cửa Ụ bị ép vào thành Ụ, giữ được sự kín nuớc trong suốt thời gian bên trong Ụ khô hẳn, không còn nước.
Thời gian bơm hết nước trong Ụ, độ 4 tiếng đồng hồ.
Dây giữ tàu luôn được giữ chắt, tránh sự xê-dịch.  Thường xuyên kiếm tra vị trí của mũi, lái tàu ứng với số mét của chiều dài Ụ lớn. Thợ lặn thường xuyên kiểm soát đáy tàu đối với hàng nề-tàu, để biết chắc lái tàu sẽ nằm đúng vị trí hàng nề-tàu như đã dự-trù theo hoạ-đồ làm-cạn.
Chiều sâu của Ụ lớn hơn 9 mét, nên theo kiến-trúc bờ Ụ bên trái cũng như bên phải, cứ xuống mỗi 3 thước có lối đi từ đầu Ụ đến lái Ụ. Lối đi này (la banquette) cũng dùng làm điểm-tựa kê đà-gỗ chống-ngang bên hông Hộ tống hạm, giữ thăng bằng.
Trên lối đi này, khi máy bơm chạy, nước trong Ụ rút xuống, công nhân phải thường xuyên dùng bàn chải cán dài chà sình bùn và rong. Toán công nhân khác, ở Tả hạm (mạn trái tàu) cũng như ở Hữu hạm (mạn phải tàu) , dùng ca-nô nhỏ « dinghy »  để chà thật sạch lớp rong bám bên ngoài vỏ tàu.
Khi mực nước trong Ụ sắp cạn, chỉ còn vài tất, phải cào bùn đẩy xuống đường rãnh giữa đường tâm của Ụ, giữ đáy Ụ sạch sẻ.  Đảm bảo an-toàn cho công nhân di-chuyển với dụng-cụ tiến hành kiểm soát độ dày tôle vỏ tàu và thay tôle nếu không đạt tiêu-chuẩn, cùng các công tác khác liên hệ phần trang-bị của vỏ tàu.
Ngay khi nuớc của Ụ lớn đuợc bơm cạn, Khu Ụ Nề chuyển ngay cho chiến hạm ký giấy xác nhận đảm-bảo kiểm soát phòng cháy, chữa cháy trong suốt thời gian chiến hạm ở trong Ụ, nhất là khi có hàn-cắt trên tàu.

Các thủ tục đưa chiến hạm như Tuần duyên hạm PGM vô Ụ nhỏ (dài 36 mét) cũng áp dụng nguyên tắc chung với Ụ lớn.  Về Ụ nổi (thuỷ thành AFDL) , thường dành cho tàu đáy bằng như LCU  lên sửa vỏ tàu,  cũng cùng áp dụng nguyên tắc với Ụ lớn.
Ụ nổi dài 61 mét, ngang 19,39 mét, ngang bên trong 13,71 m  (46) ; có khả năng nâng tàu 1000 tấn. Khi nhận chìm thuỷ thành, đường mực nước ở 9,55 m ; đo đó thuỷ thành phải được đặt  ở  vị trí có độ sâu thích-ứng.
4 Nề-tàu được dành cho chiến đĩnh các loại thuộc Bộ Chỉ Huy Giang Lực.  Riêng Nề số 4, đã được Pháp dùng để đóng thuơng thuyền vào năm 1920 (47) .
Trưởng Ban Khai Thác Ụ Nề, Ông Nguyễn Văn Bi (Ông Năm Bi)  người rất cần-mẫn giỏi về chuyên môn ; với Ông Tư Nhạn Trưởng Toán Lặn  tận-tuỵ nghề-nghiệp, nói chung nhân viên Khu Ụ Nề đã đóng góp công sức cho Hải Quân ; nhưng thời đó, lương bỗng ít ỏi, quy chế khen thưởng do ngân-sách eo hẹp, không có cách gì tưởng thưởng xứng đáng.
Xưởng Buồm-Dây và Xưởng Sơn cũng thuộc Khu Ụ Nề Thuỷ Thành, ở đó, công việc thủ công nhưng các Trưởng Ban đa số làm việc lâu năm cho HQCX, luôn hoàn thành nhiệm vụ thật chu-đáo với tinh thần trách nhiệm cao.

2355669_med

15.  Xưởng Động Cơ và Ty Kế Hoạch Trù Liệu

Đầu năm 1962, người viết bài được chỉ định Trưởng Xưởng Động Cơ. Kỹ Sư HQ Trung Uý Đổ Ngọc Oánh (Khoá 3 BREST) bàn giao lại. Các nhà-xưởng được xây dựng theo cùng kiến-trúc với Xưởng Cơ Khí, nên cách bố trí các cẩu-hàng (portique) chạy trên 2 hàng trụ của xưởng rất tân-tiến, mái nhà rất cao. Xưởng động cơ có 3 phân xưởng : Tiểu-động-cơ, sửa máy chánh của chiến đĩnh ; Trung-động-cơ, đa số động-cơ kéo máy phát điên trên chiến hạm và Đại-động-cơ  công suất trên 1000 mã lực, máy chánh của các chiến hạm. Và thêm một Trại thử máy, ở bên kia đường ; tất cả các máy chánh của chiến đĩnh đều được chạy thử trên bệ-thử-máy (banc d’essai)  sau khi sửa Đại kỳ, truớc khi xuất xưởng.

HQCX có nhà máy phát điện riêng do Hải Quân Pháp xây dựng về trước, có khả năng cung-ứng điện-năng cho các Xưởng, trong trường hợp nguồn điện của thành phố bị gián đoạn. Xưởng Động Cơ còn có nhiệm vụ sửa hai máy phát điện công suất rất lớn Nordberg và Sulzer thuộc  nhà máy phát điện này, ở gần cổng phụ,  mở ra đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, góc Thảo cầm viên.

Cũng vào giữa năm 1962, theo quan-điểm xây dựng Hải Quân của hai vị Tư Lệnh Hải Quân, HQ Đại Tá Hồ Tấn Quyền và Cố vấn Trưởng, HQ Đại Tá Joseph B.  Drachnik, cả hai vị đã đến khánh-thành Kho Tức-Dụng ở dãy nhà thuộc Trung Tâm Tiếp Liệu Hải Quân  (đối diện với Xưởng Động Cơ)  nhằm cung-ứng kịp thời cơ-phận, phụ-tùng thay thế cho các loại máy Diesel đang được sửa chữa.  Nhờ vậy đã nâng cao hiệu quả của chương trình sửa Đại kỳ các chiến hạm và chiến đĩnh cùng ghe hải thuyền tại HQCX Sài Gòn.

Do chiến tranh ngày càng bùng phát ở đồng bằng châu thổ sông Cửu Long,  ngày 2 tháng 1-1963, trận đánh lớn Ấp Bắc thuộc tỉnh Mỹ Tho, cấp tiểu đoàn, cách Sài Gòn 65 cây số, phía Tây-Nam, địch quân đã bắn hạ trực-thăng đổ quân.  Để bảo-đảm số lượng chiến đĩnh cần thiết, cung ứng kịp thời nhu cầu hành quân,  Bộ Tư Lệnh HQ và Bộ Chỉ Huy Giang Lực đã tổ chức “Khối chiến đĩnh dự-trữ”, sử dụng cầu tàu của Trại Cửu Long chung với Giang Đoàn 24 Xung Phong.

Điều hành trên cơ-sở như sau : khi Giang Đoàn ở các tỉnh gởi “một cặp chiến đĩnh” về Sài Gòn để sửa Đại kỳ thì Khối dự trữ bàn giao ngay 2 chiến đĩnh khác sẳn sàng hoạt động cho 2 thuỷ-thủ-đoàn đó  để đưa chiến đĩnh trở lại đơn vị. Tại Xưởng Đông Cơ có một số máy chánh và hộp số GM 6.71  64 HN9, dành cho chiến đĩnh,  đã được sửa Đại kỳ hoàn chỉnh, làm dự-trữ, để trang bị kịp thời cho các chiến đĩnh hoàn-tất phần vỏ tàu. Thời gian Đại kỳ của các loại chiến đĩnh thuộc Giang Lực tại HQCX được rút ngắn lại.

Tinh-thần và thiện-chí phục-vụ của các cấp Trưởng Ban, Trưởng Toán dân-chính, thuộc Xưởng Động Cơ,  đã biểu-thị trong công tác  dù đồng lương  ít ỏi.  Họ đã làm việc nhẫn-nại,  từ sinh hoạt ở Xưởng,  hay theo chiến hạm ra biển thử đường trường, giờ làm phụ-trội ngoài giờ hành-chánh, để kịp hoàn-tất máy chánh cho chiến-hạm ra Ụ, nhưng thù lao “khiêm-tốn”.  Lệ thường Đại Kỳ, chiến hạm vô Ụ, cần cẩu Wellman 20 tấn, kéo 2 máy chánh lên bờ, đưa về sửa ở phân xưởng Đại-động-cơ.

Muà Hè năm 1963, người viết bài đuợc chỉ định đến Ty Kế Hoạch Trù liệu làm Sĩ Quan Kế Hoạch,  dưới quyền của Kỹ Sư HQ Thiếu Tá Nguyễn Gia Định (Khoá 1 BREST).  Hằng ngày  phụ trách khảo sát dự-thảo Lệnh công tác, trước khi trình Trưởng Ty KHTL duyệt ký,  ban hành cho các Xưởng phối hợp thực hiện.

Và ở đây, không bao lâu, nhận được Lệnh từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân, thuyên chuyển về Thuỷ Xưởng Miền Tây Cần Thơ, sau non ba năm đã phục vụ tại Hải Quân Công Xưởng Sài Gòn  kể từ ngày về Việt Nam, sau thời gian đi học ở Subic Bay.

Không khỏi nhớ lại những ngày làm việc đã qua, cố gắng hoàn-thành nhiệm-vụ giao-phó, và được học hỏi nhiều kinh-nghiệm chuyên môn từ các vị Phó Giám Đốc, Trưởng Ty, Trưởng Xưởng thâm-niên ngành Cơ Khí tốt-nghiệp các Khoá 1, 2, và 3 Nha Trang,  Khoá 1 BREST, cũng như đức-độ chỉ-huy của vị Giám Đốc, Sĩ Quan cao cấp Hải Quân.

Trước mắt, những ngày sắp đến, khi chiến trường lan rộng, Thuỷ Xưởng Miền Tây đóng vai trò thiết yếu trong việc yểm-trợ kỹ thuật giúp cho hoạt động hành quân của các Giang Đoàn Xung Phong được thêm phần hữu hiệu.

Nguyễn Văn Quang
Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang
Khoá 7, Đệ Nhất Thiên Xứng

Chú thích : (trang hình ảnh riêng)

1. Hải Xưởng : Ship Repair Facility Subic Bay, Philippines
2. Khu Ụ Nề và Thuỷ Thành gồm có Ụ lớn và Ụ nhỏ, Nề Tàu và Thủy thành (dock flottant)
3. Wikipedia.org/ Republic of Vietnam Navy#Saigon naval shipyard . “The shipyard had
been created by the French in 1863 as a major repair and resupply base.”
4. [Opérations de Guerre] Indochine – Tome 5. Và Sách Hải Sử Lược Sử Hải Quân VNCH,
Tác giả HQ Trung Tá Vũ Hữu San , Hạm Trưởng Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4,
trang 60 .
Ngày 14 tháng 9 năm 1956, Pháp bàn giao HQCX cho HQVN, ở kỳ đài HQCX « lá cờ
Pháp được kéo xuống, quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà được kéo lên ». HQ Trung Tá Lê
Quang Mỹ, Tư Lệnh Hải Quân kiêm nhiệm Giám Đốc HQCX.
5. Sách Hải Sử đã dẫn, trang 81. Ngày 6 tháng 8-1959 ; HQ Tr Tá Trần Văn Chơn du-học
Trường Cao Đẳng Hải Chiến Hoa Kỳ (Naval War College). HQ Trung Tá Hồ Tấn Quyến
Tân Tư Lệnh Hải Quân, nhưng không kiêm nhiệm GĐ HQCX.
6. Sách Hải Sử đã dẫn, trang 60, phần chú thích [145]. Riêng chức vụ Giám Đốc do Bộ
Quốc Phòng đồng-hoá Kỹ sư dân sự vào Hải Quân : Kỹ Sư HQ Đại Tá Nguyễn Dần, Giám
Đốc HQCX.
7. Sách Hải Sử đã đã dẫn, trang 60. “Một trường hợp đặc biệt, khi Bộ-Quốc Phòng bổ
nhiệm Đại-Tá Kỹ-Sư Nguyễn-Dần làm Giám-Đốc HQCX (17-2-1959 đến 7-11-1960). Cấp
bậc của Ông cao hơn Tư-Lệnh Hải Quân, khi đó là HQ Trung-Tá Hồ-Tấn-Quyền”.
8. (6)Lettre du commandant de la Division navale de l’Indochine au ministre de la Marine,
Saigon le 22 février 1910. SHM Toulon : 395 C 001
La Marine à Saigon est commandée par un capitaine de vaisseau qui remplit les fonctions
de Chef d’État–Major de la Marine en Indochine. Il dépend directement du Gouverneur
Général et du contre-amiral commandant la Division navale d’Extrême-Orient, en poste à
Shanghai. Ses principales attributions sont le contrôle des bâtiments placés sous ses ordret et le commandement de l’Arsenal de Saigon (6)
Văn thư của Chỉ Huy Trưởng Hải Đội Đông Dương gởi Bộ Trưởng Hải Quân.
Sài Gòn ngày 22 tháng 2 năm 1910. Lưu Trử Quân Sử Hải Quân ở Toulon : 395 C 001.
Bộ Chỉ huy Hải Quân ở Sài Gòn do một HQ Đại Tá chỉ huy, và đảm nhiệm chức vụ Tham
Mưu Trưởng của Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Đông Dương, trực tiếp thống-thuộc Toàn Quyền
(Đông Dương) và Đề-Đốc Chỉ huy trưởng Hải Đội Viễn Đông, bản doanh ở Thượng Hải.
Đại Tá Chỉ huy trưởng Hải Quân Sài Gòn có nhiệm vụ điều-động chiến hạm thuộc quyền
và chỉ huy ” l’Arsenal” Công Xưởng Sài Gòn .
9. Wikipedia – Chiến tranh Việt Nam (miền Nam, 1960 – 1965) , trang 1
10. Mutual Defense Assistance in Indochina, Agreement signed at Saigon December 23,
1950, by Donald R. Heath, HỮU, Vorabong, V.Sai, Général de Lattre.
11. PC Hộ tống hạm ; LSM Hải vận hạm ; LSIL Giang pháo hạm ; LSSL Trợ chiến hạm.
12. Khoá 7 SVSQ Hải Quân Nha Trang ra Trường tháng 7-1957, HQ Thiếu Uý CK Lê Thành
Thọ (đã mất ở Hoa Kỳ) và HQ Thiếu Uý CK Trịnh Văn Hoàng qua Subic Bay đáo-nhậm
Hộ tống hạm Tây Kết PC HQ 05, và Giang Pháo Hạm LSIL.
13.Sách Hải Sử đã dẫn trang 86. Từ năm 1958, ngân sách viện trợ tăng lên, các chiến hạm được sửa Đại kỳ ở HQCX Sài Gòn.
14.Từ giữa năm 1957, HQ Hoa Kỳ đài thọ chi phí đưa Đoàn Kỹ sư Nhật trước đó đã làm việc cho US Navy tại Nhật, qua Sài Gòn cố vấn cho HQCX. Trưởng phái đoàn là Ông Shimizu,năm 1960 Ô. Mihara thay thế. Đoàn này tạm trú tại dãy lầu, trước 1956 dành cho Sĩ Quan Hải Quân Pháp, trong doanh trại bên kia Sở Thú, về sau là Cư Xá Văn Thánh , Trại Nguyễn Văn Nho Thủy Quân Lục Chiến.
15.Université du Sud – Toulon-Var – Rapport de stage – DCNS Toulon – p 11.
Sau bao nhiêu đợt thay đổi về tổ chức , DCAN từ mấy thập niên về trước đã trở thành
DCN. Vào năm 2007 đã sát nhập với bộ phận Thalès Systèmes Navals thuộc Công Ty
Kỹ Nghệ điện-tử dân-sự ở Pháp, nên tên gọi mới là DCNS “Direction des Constructions
Navales et Systèmes” . Trên tài liệu, danh xưng DCNS Toulon được hiểu là HQCX
“l’Arsenal” Toulon (Miền Nam Pháp).
Sơ đồ tổ chức DCNS vẫn còn mang dạng tổ-chức như ngày trước , thời HQ Pháp ở Đông
Dương ; gồm có : Khối Kỹ Nghệ, Khối Thị Trường , Khối Thương Vụ và Khối Chất
Lượng Sản Phẩm. Các Ban Nhân sư, Giao-dịch, Thanh toán và Văn Phòng Ban Giám Đốc
Đặc biệt trong Khối Kỹ Nghệ không chia sự quản lý theo Xưởng , mà theo từng loại
chiến hạm.
16. Thời gian tháng 8-1960, Hộ tống hạm PC của Hải Quân Cambodge , do Đại Uý thuộc Hải
Quân Pháp làm Hạm trưởng , Trung Uý HQ Cambodge Hạm Phó , sửa Đại kỳ ở Hải
Xưởng Subic. Chiến hạm của Hải Quân Philippines cũng vô Đại kỳ ở đây.
17. Sách “Can Trường Trong Chiến Bại”, Tác Giả Phó Đề-Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, cựu Tư
Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải, xuất bản 2007,trang 94. Năm 1965,trong Trận Vũng
Rô, Hạm Trưởng Hộ tống hạm Tụy Động HQ 04 ; năm 1970 là Hạm Trưởng Khu trục
hạm Trần Hưng Đạo HQ 1 , và sau đó, vinh thăng HQ Đại Tá , Tham Mưu Phó Chiến
Tranh Chính Trị BTL/HQ.
18. Xưởng Buồm–Dây : chầu đầu dây (épisser) cáp sắt cho các loại cáp sử dụng trên chiến hạm, cũng như những dây buộc tàu loại lớn. (ảnh : chầu dây cáp sắt)
19. Thuỷ thành ARD ở Hải Xưởng Subic dài 148 m , ngang 18 m ; có khả năng nâng tàu
3500 tấn. Do đó các chiến hạm như Khu trục hạm loại DD, Dương vận hạm LST khi
khẩn cấp có thể được đưa lên Ụ nổi này để sửa vỏ tàu, chân vịt …
20. http://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_M%C3%B4n Từ 23-08-1958 đến 05-10-1958
Trung Cộng bắn “hơn 47 vạn đạn pháo vào Kim Môn” thuộc Đài Loan; gây nên “khủng
khoản eo biển Đài Loan lần hai”. Đến năm 1979, Trung Cộng và Mỹ lập bang giao,
“chấm dứt 21 năm pháo chiến ở Kim Môn”.
21. Sách Hải Sử đã dẫn, các trang 97 & 109 : Hộ tống hạm Đống Đa II HQ 07 HQ Hoa Kỳ
chuyển giao ngày 29-11-1961 , Hải vận hạm Hương Giang HQ 404 ; tiếp theo là các Hộ
tống hạm Chi Lăng II HQ 08, và Kỳ Hoà HQ 09.
22. Oral History Interview with J. B. Drachnik July 27, 1970 Norfolk, Virginia
By William W. Moss, For the John F. Kennedy Library.
“…I had no authority to tell anybody to do anything. It was entirely an advisory function;
however, the CNO, the Chief of Naval Operations of the Vietnamese navy [Ho Tan
Quyen], who in my mind is one of the finest men I’ve ever met, was a most cooperative
individual, a very intelligent individual. His goal and mine were identical. His goal was to
improve his navy, and my goal, my function, was to help him improve his navy. As a
result then, he was very amenable to my advice and assistance, and we became a two-man team running the navy…”
23. http://www.history.com/this-day-in-history/kennedy-agrees-to-send-instructors-to-train-troops Ngày 14-06-1961, tại Toà bạch ốc Tổng Thống John F.Kennedy tiếp Bộ trưởng Phụ Tá Quốc Phòng Nguyễn Đình Thuần về tăng cường viện trợ quân sự và số Cố vấn cho ViệtNam.
24.Tháng 12-1960, trong bữa tiệc trà chia tay mãn khoá học ở Hải Xưởng SRF Subic
Bay, trước khi về Việt Nam, HQ Đại Tá Fairchild, Trưởng Ty ĐHCX, đại diện cho Ban
Giámđốc SRF đến tham dự, và có nói sau khi về nước , nếu cần tham-khảo vấn đề gì của
SRF, viết thư gởi qua Subic Bay.
25. Turbocraft (ảnh minh hoạ) :
26. Sách Hải Sử đã dẫn trang 300, 301. Giang tốc đĩnh PBR Mk 2 , lắp 2 máy Diesel
có công suất 500 mã lực, kéo 2 bơm Jacuzzi, lưu-lượng thoát 9600 gl/phút, đường kính 8
inches ; đạt được vận-tốc 28 hải-lý/giờ . [8 inches hay 20,32 cm ; 9600 gallons/phút,
hay 34,09 m3/phút ; 28 hải-lý/giờ tương ứng 51,89 km/giờ].
Sách Hải Sử, trang 412, HQ Hoa Kỳ đã cung cấp cho HQ VN, 300 Giang tốc đĩnh PBR.
http://www.militaryfactory.com/ships/detail.asp?ship_id=PBR-Patrol-Boat-River
27. Ca-nô cánh quạt máy bay (hydroglisseur) : máy chạy xăng ; lắp 2 chong-chóng có 6
cánh quạt, đường kính 2,03 mét ; tiếng động của máy chạy xăng quá lớn ; động-cơ sử-
dụng nhiên-liệu là xăng, thêm thùng chứa xăng trên ca-nô rất dễ bị bốc cháy khi trúng
đạn ; cần phải có đường kính rộng để vận-chuyển ca-nô đổi hướng , quay mủitàu. Do đó
rất khó vân chuyển trên kinh, rạch hẹp. (Ảnh minh-hoạ).
http://www.nauticexpo.fr/prod/diamond-back-airboats/hydroglisseurs-chasse-peche-22293-241963.html
28.http://archive.org/stream/unitedstatesnavy02maro/unitedstatesnavy02maro_djvu.txt
“Establishment of the Coastal Force . In 1958 he persuaded President Diem to create a
nation wide junk force. Diem placed the unit under the navy… After considering the
American suggestions. President Diem established the Coastal Force in April I960”
29. Sách Hải Sử đã dẫn trang 398. HQ VN có 151 ghe Yabuta, từ HQ-12000 đến HQ-12180
30. 13 Ghe chủ lực vỏ gỗ, máy chánh 6.71, đóng tại HQCX
Sách Hải Sử đã dẫn, trang 397.

31. https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v01/d21Foreign

Relations of the United States, 1961–1963 Volume I, Vietnam, 1961.Document 21- Memorandum of a Conversation, Embassy Residence

32. http://archive.org/stream/unitedstatesnavy02maro/unitedstatesnavy02maro_djvu.txt

“Secretary of State for National Defense (N. Đ. Thuần), requested a step-up in the deliveryof ships scheduled over the next five years…At the same time, the Vietnamese also

requested special craft to operate on the flooded plains of the Mekong Delta”.

33. The U.S. Government and the Vietnam War, Executive and Legislative Roles and
Relationships, Part II – by William Conrad Gibbons – Princeton University Press –
August 7, 1995; pp 49,50 &51.
http://www.jfklibrary.org/Asset-Viewer/Archives/JFKWHP-KN-C18061.aspx
34.The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, 1960 – 1968, Part 1 ; page 256 :
The Second Taylor Visit to Vietnam . Office of the Chairman of the Joint Chiefs of Staff ;
Washington, DC t 2011
35. http://vi.wikipedia.org/wiki/Vũ_Quốc_Thúc– “các phúc-trình nổi tiếng như Phúc trình
Staley – Vũ Quốc Thúc (1961) ”.
36.Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America’s War in Vietnam 1950-
1963, pp 124, 125 ; by Seth Jacobs, Boston College Libraries, 2006
37.Vaincre la Défaite, 1872-1881, tome I vol. 2 – La Marine, pp 148-158
Auteur Guy Predoncini, Année de parution 1990, Éditeur : Service historique de l’Armée
de Terre
38. http://www.developpement-durable.gouv.fr/IMG/pdf/pour_memoire_8.pdf
Page 43 . Extrait : “Du fait de la mauvaise qualité du terrain de fondation, l’arsenal est
d’abord doté d’un dock flottant, assemblé en 1865. Le bassin sera finalement construit
vingt ans plus tard”. Do tình trạng nền đất móng không được tốt, HQCX trước tiên được
trang bị một Ụ nổi, lắp ráp năm 1865. Cuối cùng Ụ lớn được xây dựng 20 năm sau đó.
39. https://clausuchronia.wordpress.com/category/technique/arsenaux-et-bases-navales/
Năm 1940, HQ Pháp dự trù tăng chiều dài của Ụ lớn của HQCX từ 152 mét lên 190 mét,
đồng thời trang-bị dụng-cụ tối-tân tại cơ xưởng để sản xuất vũ khí nhẹ và đạn dược nhưng
chưa thực hiện được. Ảnh chụp toàn cảnh Ụ lớn thời 1888 mới hoàn thành, chưa có cần
trục đặt hai bên bờ Ụ.
40. http://namkyluctinh.org/a-ngonngu/nhphuoc-vietgocphap.pdf
Chữ Việt gốc Pháp.
41. Sách Hải Sử đã dẫn, trang 83.
42. Hoạ đồ làm-cạn tàu loại Hộ tống hạm (Plan d’échouage). Collection Centre d’archives de l’Armement.
43. . http://www.maritime.org/doc/plans/dd618.pdf
Docking Drawing đánh số nề-nâng-tàu [đặt trong Ụ] tương ứng với vị-trí của vỏ Khu trục hạm HQ Hoa Kỳ.
44. http://fr.wikipedia.org/wiki/Base_navale_de_Yokosuka
Theo phương-cách và Hoạ-đồ làm-cạn chiến hạm Hoa kỳ ; khi chiến hạm vô Ụ, không
dùng đà-chống-ngang. Tuần dương hạm USS Cowpens CG-63 vô Ụ lớn Căn-cứ HQ Hoa
Kỳ ở Yokosuka (Nhật).
45. Ảnh minh-hoạ, mở van nước ở cửa Ụ lớn, cho nước vào làm ngập Ụ lớn để đưa tàu ra Ụ; và dẫn tàu khác vào.
46. Thuỷ thành AFDL (Ụ nổi) ở HQCX mang số đăng-bộ 9600, dài 61 mét có khả năng
nâng tàu 1000 tấn.
47. Năm 1920, trên Nề số 4 tại HQCX Sài Gòn đã đóng tàu “Albert Sarraut

**

**

Ụ lớn HQCX Sài Gòn 1884

http://khoa7-hqvnch.centerblog.net/4.html

 

Advertisements

One Comment Add yours

  1. DUBREUIL Rene says:

    Strasbourg, ngày 15 tháng 4 năm 2017
    Kính Gởi Ban Chủ-Nhiệm Website ” BIỄN XƯA . WORDPRESS ”
    ĐỀ MỤC : Trân trọng tham khảo ý kiến của Ban Chủ-Nhiệm về việc chuyển tiếp đến Tòa Soạn các hình ảnh minh-họa cho
    trang Chú-thích của Bài viết ” Đi học SUBIC về, thuyên chuyển đến Hải Quân Công Xưởng SÀI GÒN ”
    Kính thưa Ban Chủ-Nhiệm,
    Gần cuối năm 2016, Trang Lưu Niệm Khóa 7 SVSQ Hải Quân Nha Trang,
    http://khoa7-hqvnch.centerblog.net/
    bị phá hỏng, chỉ còn lại 2 trang. May thay, trên Website của Quý Vị đã chọn bài viết của SVSQ Khóa 7, và đã dăng lại ngày 29 tháng 3- 2016, 10 đoạn của bài viết nêu ở Đề mục ; và vào ngày 30 tháng 3 – 2016, đã đăng thêm 5 đoạn cuối của bài viết ; cùng với 47 hàng Chú thích. Thật hân hạnh cho Trang Lưu Niệm của SVSQ Hải Quân Khóa 7 chúng tôi.
    Trên bài viết được trích đăng, xin khâm-phục Quý Vị Ban Chủ-Nhiệm đã dày công sưu-tầm rất nhiều ảnh quý-hiếm; và đã đăng lên như
    huy hiệu của HQCX, LST vào Ụ Lớn , cần trục Wellman trên bờ Ụ Lớn , Trại đóng 100 ghe Yabuta võ gỗ gắn động-cơ …
    Phần chú thích cặn-kẻ của 47 đề mục đã được đưa lên rất đầy đủ ở cuối bài viết..
    Tôi còn giữ 4 trang hình-ảnh minh họa cho 47 hàng chú thích. Trong số đó có bức ảnh Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng Nguyễn Dình Thuần được Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy tiếp ở Phòng Bầu Dục; hình ảnh trắc-nghiệm khả-năng tác chiến từ Turbocraft đến tàu PBR…
    Trong trường hợp được Quý Vị Ban Chủ-Nhiệm chấp thuận, xin vui lòng cho biết địa chỉ điện-thư email , để liên-lạc và kính chuyển 4 trang hình ảnh.
    Chúng tôi rất cảm-kích trước tinh-thần tích-cực của Ban Chủ-Nhiệm và kính xin nhận nơi đây lời thành thật biết ơn của chúng tôi.
    Nguyễn Văn Quang
    cựu SVSQ Hải Quân Khóa 7, Đệ Nhất Thiên Xứng
    Strasbourg, FRANCE

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s