Đệ Nhị Hổ Cáp: Thực Tập Trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ

“Smooth seas do not make skillful sailors.”
Proverb
1. Huỳnh Hữu Lành:
Sau ngày mãn khoá, rời quân trường huấn luyện Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, tàu hải quân lại mang trả các tân sĩ quan Khoá 20 – khoá Đệ Nhị Hổ Cáp – về bến Sài Gòn. Sau ngày đi bờ nghỉ phép, các quan 20 tụ họp tại Câu Lạc Bộ nổi HQ trên bến Bạch Đằng; một số các quan tiếp nhận đơn vị, số còn lại được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ.

http://www.ussvega.com/page-11/pictures/USS%20Vega%2059%20from%20Princeton%20%20(1).jpg

Tôi, Hà Mạnh Hùng, và Trịnh Văn Thơ được đi thực tập chung trên chiến hạm tiếp liệu USS VEGA F59. Theo lệnh công tác, ba anh em sẽ đáp phi cơ quân sự ra Đà Nẵng để xuống tàu. Thế là ba anh em hẹn nhau ra phố Lê Thánh Tôn gần nhà sách Khai Trí, mua một bức tranh sơn mài để làm quà tặng cho hạm trưởng khi trình diện. Nhưng khi đến phi trường Tân Sơn Nhất chờ Manifest thì được biết chương trình đã thay đổi! Chúng tôi phải trở về Bộ Tư Lệnh, nhận lệnh mới để đáp phi cơ quân sự của Hoa Kỳ đến Phi Luật Tân – căn cứ hải quân Mỹ tại Subic Bay, và xuống trình diện tàu tại nơi đó. Trong thời gian đi bờ nầy, chúng tôi đã làm lễ thành hôn vào ngày 3-8-1970, sau ngày mãn khóa sĩ quan một tuần lễ – trước khi đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ. Trong ngày cưới, ban nhạc 20 cũng đến giúp vui như các quan 20 Lưu An Huê, Phan Thiết Dũng cùng nhiều quan khác, còn thêm quan 20 Nguyễn Văn Nhẫn làm rể phụ… Xin thành thật cám ơn các quan đã đến chung vui với chúng tôi. Tôi rất thích thú khi được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ, nhưng cũng rất buồn vì phải xa người vợ trẻ vừa mới cưới.
Không có anh, thì ai ve vuốt?
Không có anh lấy ai cười trong mắt
Ai ngồi nghe em nói chuyện Thu phong
Ai cầm tay mà dắt mùa Xuân
Nghe đường máu run từng cành lộc biếc.
(Cần Thiết – Nguyên Sa)
Khi máy bay đáp xuống phi trường Philippine, ba anh em mang hành lý vừa ra đến cổng đã gặp một tài xế người Phi đón, và đưa về doanh trại tạm trú của sĩ quan độc thân Hải Quân Hoa Kỳ (BOQ) trong căn cứ Hải Quân Mỹ tại Subic Bay. Tới đất Phi, phải xài tiền đô khi vào câu lạc bộ sĩ quan Hải Quân Mỹ để ăn tối. Lần đầu tiên anh em chúng tôi ăn cơm Mỹ. Có lẽ con mắt to hơn cái bụng nên cả ba đã khệ nệ mỗi người bưng một dĩa nào thịt bò, thịt gà, khoai tây, xà-lách, nhưng không đứa nào ăn hết phần ăn của mình! Hôm xuống tàu trình diện Hạm phó, ba anh em đã được xếp đặt mỗi đứa có một sĩ quan Mỹ đi kèm để huấn luyện. Tàu rời bến công tác tiếp vận cho Hạm đội 7, trên lộ trình từ Vịnh Bắc Việt đến Phú Quốc. Những ngày biển động, chúng tôi phải đi phiên tiếp tế thật khổ sở vì say sóng. Tàu cứ đi, rồi lại về bến ở Subic Bay. Đây là dịp được đi phố, vào các hộp đêm để rửa mắt. Nhất là quan Hà Mạnh Hùng mỗi lần đi phố suốt đêm về, và kể lại cho bọn nầy nghe những câu chuyện thật là hấp dẫn (quan Hùng chắc còn nhớ rõ). Tôi và quan Trịnh Văn Thơ cứ “lõ” mắt ra mà nghe, và thèm muốn nhểu nước miếng!
Trong khi công tác, chiến hạm cũng đã cặp bến Taipei – Đài Bắc, Taiwan – Đài Loan. Thế là ba anh em chúng tôi tính chuyện ăn cơm Tàu cho đã thèm. Vào nhà hàng Tàu, ăn cơm chiên lạp xưởng, thịt quay, mì vịt tiềm cho nó chướng to cái bao tử. Ăn xong chúng tôi lại đi dạo phố, và vào bar – club chơi suốt đêm, vì đây là dịp sau cùng còn ở nước ngoài, và biết khi nào mới được dịp ghé lại nữa. Ngày trở về tàu đang công tác ngang Vũng Tàu, nên đã được tàu chiến của Hải Quân Việt Nam đón về căn cứ Cát Lở, Vũng Tàu. Sau đó ba anh em chúng tôi đón xe đò về lại Sài Gòn.
2. Trịnh Văn Thơ:
Đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội với các bạn Huỳnh Hữu Lành và Hà Mạnh Hùng, nhưng tôi là dân cơ khí nên chỉ phải đi ca (quart) dưới hầm máy. Tàu Mỹ có hầm máy sạch “boong”, chẳng phải sửa chữa gì hết cả, và chỉ lo kiểm soát những đồng hồ chỉ mức dầu mức nhớt .. mà thôi. Thủy thủ Mỹ chịu trách nhiệm và tuân hành thủ tục (procedures) thì khỏi phải chê; họ làm chuyện gì cũng phải theo đúng sách vở. Những chuyện vui khác thì bạn Huỳnh Hữu Lành đã ”dành kể” hết rồi! Chúng tôi là “dân cơ khí” vốn ít nói, nhưng làm thì nhiều, thôi cũng được.
3. Nguyễn Hữu Bích:  Tôi tốt nghiệp với thứ hạng 49, và có tên trong danh sách sẽ lựa 100 người được chọn để đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ. Đợt đầu lấy 80 người, và không có tên tôi. Đợt chót lấy thêm 20 nguời nữa, tôi cũng không có tên, tôi bị loại luôn ở đợt 2 này, và không biết vì lý do gì!
4. Phạm Văn Độ:Thực tập Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ chung với quan Trần Tuấn Đức. Chỉ “rình” mang “hoa biển” về tặng em, nên chẳng còn nhớ cái gì hết cả!
5. Trần Duy Tín: Tôi không được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội, dù đã đậu được thứ hạng cao, nhưng có lẽ vì giọng nói tiếng Anh của tôi có âm hưởng xứ Quảng chăng?
6. Nguyễn Hữu Nam: Trong danh sách của 88 Hổ Cáp 2 đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, tôi ở vị trí thứ 23. Trong Sự Vụ Lệnh (Mission Order) số 771/QP do Đổng Lý Văn Phòng Nguyễn Hữu Lương ký vào ngày 04 tháng 09 năm 1970, có sao y bản chính do HQ Đại uý Nguyễn Đa Phúc – Trưởng ban Du Học thuộc Khối Quân Huấn, Bộ Tư Lệnh Hải Quân KBC 3317 – ký cùng ngày, cho phép 88 sĩ quan thuộc khóa 20 SQHQ đi từ Sài Gòn đến Nhật Bản, Trung Hoa Quốc Gia, Mã Lai Á, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba, Hồng Kông, Đại Hàn …
Tham chiếu theo phiếu đệ trình của Tổng Cục Quân Huấn Bộ Tổng Tham Mưu số 8182/TTM/TCQH/ĐHHL/HQ ngày 26-08-1970 với phương tiện chuyên chở của phi cơ quân sự Hoa Kỳ trong thời gian công tác 12 tuần lễ từ 10-09-1970 – với phí khoản công vụ do MACV đài thọ. Nguyễn Hùng (Hùng đầu bò) và tôi được phân phối đi thực tập trên Khu Trục Hạm USS Goldsborough (DLG-20), và theo lệnh Thuyên Chuyển tất cả 88 sĩ quan Hổ Cáp 2 sẽ thuộc thặng số quân số của Trung Tâm Hành Chánh Hải Quân. Mỗi ngày chúng tôi tập trung tại Câu Lạc Bộ Nổi để điểm danh và nhận những chỉ thị, thông cáo và tin tức từ HQ Đại úy Phúc trong khoảng thời gian từ 8 giờ đến 10 giờ sáng, sau đó mọi người giải tán rồi ai muốn về nhà hay đi chơi với các bạn gái đang chờ ở ngoài sân cỏ. Quan Hùng và tôi lúc nào cũng đi đôi với nhau, như đi chích ngừa, ra Thích Phú (cửa hàng người Tàu ở đường Nguyễn Văn Thinh, nằm giữa 2 đường Hai Bà Trưng và Tự Do, chuyên môn sản xuất các quân trang, cấp bậc của quân chủng Hải Quân) để may bộ quân phục đại lễ demisaison Hải Quân, đi lấy passport, rồi lãnh lương tiền Việt Nam để đổi ra đô la Mỹ. Hùng và tôi khởi hành vào hồi 12 giờ đêm ngày 10-09-1970 từ phi trường Tân Sơn Nhất, sau 4 giờ bay đến phi trường Okinawa vào lúc 7 giờ sáng theo giờ địa phương, lấy nhiên liệu, sau đó bay tiếp đến phi trường Okidata, và được xe bus đón về Căn Cứ Hải Quân Mỹ tại Yokosuka vào lúc 4 giờ chiều ngày 11-09-1970.

https://i0.wp.com/www.denhihocap.com/ds2009/image/ncknx/thuctap11.jpg

Chúng tôi được sắp xếp vào tạm trú trong cư xá sĩ quan độc thân, vì khu trục hạm USS Goldsborough (DDG-20) còn đang công tác. Chúng tôi dùng bữa ăn tối ở phòng ăn sĩ quan, sau đó về phòng để nghỉ ngơi, và ngủ bù sau 2 chuyến bay và xe bus đến Yokosuka, Nhật Bản. Phòng US Navy Information chưa cho chúng tôi biết, ngày nào khu trục hạm USS Goldsborough (DDG-20) sẽ về bến Yokosuka, vì bí mật quân sự. Chúng tôi thay đồ xi-vinh (civil), để ra ngoài phố Yokosuka thưởng ngoạn đời sống của dân Nhật. Các quán ăn đều có trưng bày các món ăn mẫu của Nhật cùng với giá biểu ngoài cửa kính. Nhưng nhìn hình các món ăn mẫu thì thấy bắt mắt, nhưng ăn vào thì không thấy hợp với khẩu vị của người Việt. Chúng tôi đi dạo phố Yokosuka đến chiều tối thì về lại các quán bar gần Yokosuka Naval Base. Chúng tôi vào một quán bar, thì đã thấy một băng “Welcome back USS Goldsborough (DDG-20) on Sept. 15, 1970” làm chúng tôi rất đỗi ngạc nhiên vì chúng tôi không biết tin tức khi nào chiếc DDG-20 sẽ về bến, nhưng quán bar này lại biết rõ ngày về bến là 15-09-1970. Quán bar đang vắng khách; thấy hai chúng tôi vào, ông chủ bar niềm nở tiếp đón chúng tôi; chúng tôi có hỏi: “Làm sao mà ông ta biết chiến hạm DDG-20 chính xác về bến vào ngày 15-09- 1970 ?” Chủ quán chỉ cười và nói: “Wait and see, but for sure one hundred per cent.” Đây là một trong các quán bar nhỏ, với vũ nữ nhảy sexy cởi truồng 100% ở xung quanh Yokosuka Naval Base. Chủ bar cho biết, mỗi người chỉ phải trả 800 Yen cho mộ ly bia – vào thời điểm 1970, một đô la Mỹ đổi được 360 Yen , và có thể xem ba vũ nữ nhảy. Muốn xem lại lần nữa, thì phải trả thêm 800 Yen cho màn (show) kế tiếp. Nhạc bắt đầu trổi lên, một vũ nữ mặc đồ kimono xuất hiện nhảy múa xập xềnh theo tiếng nhạc với những mảnh vải của chiếc kimono được từ từ cởi bỏ theo điệu múa cho đến khi đôi guốc mộc và mảnh vải cuối cùng được cởi ra; nguyên thân hình cô gái lồ lộ, với cặp nhũ hoa nho nhỏ phơi bày. Kế tiếp cô vũ nữ thứ hai xuất hiện theo thể điệu nhạc khác, trong lúc đó có các sĩ quan và thủy thủ Hải Quân Mỹ vào. Đến cô vũ nữ thứ ba sau khi cởi bỏ mảnh vải cuối cùng; cô này đã đến thẳng bàn của chúng tôi, cô múa khiêu khích ngay trước mặt tôi; nàng đã cho tôi “táy máy nghịch ngợm” tí chút rồi tặng tôi một vài kỷ vật “thật đặc thù” trên người nàng; tôi bỏ vào chiếc hộp quẹt để làm kỷ niệm. Ôi những kỷ niệm khó quên trong chiếc hộp quẹt của quán bar ở Yokosuka. Tôi có hỏi Hùng “Sao các cô vũ nữ này, người nào cũng có răng vàng?” Hùng chỉ cười, mà không có ý kiến. Từ đó trở đi, mỗi khi tôi gặp một phụ nữ Nhật nào khi nở nụ cười mà có răng vàng đều khiến tôi phải nghĩ bâng quơ đến cặp nhũ hoa nho nhỏ cùng kỷ vật của người vũ nữ cởi truồng ở Yokosuka.

File:USS Goldsborough DDG-20.jpg
Biết chắc rằng USS Goldsborough (DDG-20) sẽ về bến Yokosuka vào ngày 15- 09-1970, tôi đề nghị Hùng đi Tokyo chơi tự túc bằng phương tiện xe lửa tốc hành. Chúng tôi lên trạm xe lửa tốc hành ở Yokosuka, qua Yokohama, và đến Tokyo. Từ nhà ga Shinagawa ở Tokyo, chúng tôi đi bộ đến một lâu đài màu trắng gần đó, vì nghĩ là đa số người Nhật có mắt một mí, tôi nói với Hùng “Chúng mình cứ đi bộ tà tà, xem có gặp bất cứ người nào có mắt hai mí, hy vọng chúng mình sẽ gặp được người Việt nào đó đang du học tại Nhật”. Chúng tôi gặp hai thanh niên đang đứng trước lâu đài màu trắng vừa xem một quyển sách nhỏ màu vàng, vừa chỉ trỏ vào lâu đài. Hùng vội hỏi “Are you Vietnamese?” Họ trả lời: “No.” Họ đưa cho chúng tôi xem quyển sách nhỏ màu vàng, và chỉ vào hàng chữ tiếng Nhật – Imperial Palace. Thì ra, đây là quyển sách đàm thoại Nhật – Anh. Tôi nói với họ: “Tôi lầm tưởng các anh là người Việt, nhưng các anh là người Nhật, chúng mình kết bạn với nhau nhé?” Họ gật đầu đồng ý, và chúng tôi tản bộ trong công viên bao bọc quanh Hoàng Thành (Imperial Palace) nơi hoàng gia Nhật sinh sống tại Tokyo, khu các toà nhà chọc trời có bảng quảng cáo chữ “SONY”, và Tháp Tokyo. Chúng tôi mời họ vào một quán nước, và uống nước Coke trong những chai thủy tinh nhỏ. Họ hỏi chúng tôi: “Việt Nam ở đâu?” Hùng vội lấy tờ giấy trắng, vẽ sơ sài ra bản đồ Á Châu, và chỉ cho họ xem đâu là Nhật và nơi nào là Việt Nam. Ngồi trong quán nước thấy đã gần 8 giờ tối rồi, tôi xin phép họ để được viếng thăm gia đình họ để tìm hiểu về cuộc sống của Người Nhật, họ vui cười chấp nhận và mời chúng tôi về nhà của họ ở Shima-machi bằng xe lửa tốc hành.
Đến nơi, chúng tôi dừng lại ở một tiệm tạp hóa nhỏ, mua bốn chai nước Coke, và thịt nướng trước khi về nhà. Họ ở trên một căn gác trọ bằng cây trên tầng lầu. Chúng tôi bày thức ăn và thức uống trên một cái bàn cây nhỏ, ngồi bên nhau dưới sàn, vừa trò chuyện vừa ăn uống. Hùng hỏi: “Có biết gì về Việt Nam không?” Họ chỉ lắc đầu, nhưng lại đưa ra một quyển sách nói về Hồ Chí Minh, và sau đó chúng tôi đã không nói gì thêm nhiều nữa. Sau bữa ăn uống cùng trao đổi chuyện trò văn hoá, dọn dẹp bàn ăn, rồi chúng tôi tìm giấc ngủ ngay trên sàn gỗ đánh bóng. Sáng hôm sau thức dậy, chỉ còn một nguời bạn Nhật ở nhà vì làm ca hai, anh bạn kia đã đi làm từ sáng sớm. Chúng tôi cám ơn người bạn Nhật, và xin phép từ giã, người bạn Nhật tiễn chân đến tận sân ga. Chúng tôi có dừng lại Yokohama, ghé chợ mua ít trái cây.
Khi về đến Yokosuka Naval Base, chiến hạm DDG-20 đã về bến, và đang cập nơi cầu tàu. Chúng tôi chuẩn bị quân phục, xuống chiến hạm để làm thủ tục trình diện Hạm Trưởng (Commander Gilbert E. Schmidt, 1924-2002). Vị Hạm Trưởng mang cấp bậc Hải Quân Trung tá, người nhỏ thó – cao khoảng chừng một thước sáu, dáng vẻ ông tương đối thoải mái. Sau khi trình diện, ông chỉ định cho một Hải Quân Thiếu úy làm sĩ quan hướng dẫn chúng tôi. Hùng và tôi được sắp xếp ở chung một phòng trong khu sĩ quan. Anh bạn sĩ quan Mỹ hướng dẫn có cho chúng tôi biết là sẽ có một tour cho nhân viên chiến hạm đi du lịch Yamanaka Lake, gần chân núi Phú Sĩ (Fuji Mountain). Giá đi tour quá mắc, nên chúng tôi quyết định đi tự túc. Dựa theo bản đồ hướng dẫn, chúng tôi dùng phương tiện xe lửa tốc hành từ Yokosuka, đến Gotemba thì phải xuống để đi xe buýt đến Yamanaka Lake; chúng tôi ngồi gần một cô sinh viên trắng trẻo xinh xắn dễ thương và không có răng vàng, nên tôi đã làm bộ nhờ chỉ đường để làm quen theo đúng “bài bản của một sinh viên sĩ quan Hải Quân”. Cô tên Kumiko Ogawa, đang theo học tại Odawara College và có cho tôi địa chỉ nhà của cô để sau này còn liên lạc được. Sau khi về Việt Nam cô và tôi cũng có liên lạc với nhau qua thư từ một thời gian. Bây giờ thì chắc Kumiko Ogawa cũng đã gần 60 tuổi rồi, và cháu nội, cháu ngoại đầy đàn! Xe buýt chạy trên đường đèo lãng đãng sương mù, khiến tôi liên tưởng đến ngôi nhà nghỉ mát của gia đình tôi trên ĐàLạt ở cuối phố Phan Đình Phùng trước năm 1975. Đến Yamanaka Lake, chúng tôi gặp lại thủy thủ đoàn của chiến hạm DDG-20; anh sĩ quan hướng dẫn Mỹ của chúng tôi đã ngạc nhiên, và vui cười vì không hẹn mà gặp. Trời lành lạnh ở Hồ Yamanaka chỉ có ăn món mì nóng của Nhật là tuyệt cú mèo. Các xe bán mì đậu dọc theo lề đường, che quanh bởi những tấm mành mành, khách hàng đứng khuất sau tấm mành để thưởng thức mì nóng. Chắc bạn Hùng còn nhớ đến bát mì Nhật với nước lèo nóng bốc hơi cùng với hương vị cay cay vì tiêu trong không khí lành lạnh ở chân núi Phú Sĩ vào ngày 20-09-1970.

https://i0.wp.com/www.navsource.org/archives/05/pix2/05021019.jpg
Sau thời gian về bến mười ngày, chiến hạm DDG-20 bắt đầu ra khơi và tuần dương dọc theo bờ biển Korea. Chúng tôi được tham dự bữa ăn đầu tiên với Hạm Trưởng Schmidt vào lúc 6 giờ chiều. Hải Quân Mỹ cũng quan liêu theo đúng truyền thống của Hải Quân quốc tế, Hạm trưởng ngồi chủ tọa ở đầu bàn, bên phải là Hạm phó, bên trái là sĩ quan Tuyên úy (Chaplain), sau đó là theo thứ tự cấp bậc và chức vụ, và cuối cùng là chúng tôi. Bữa ăn tối của sĩ quan được diễn ra trong ánh đèn cầy candle light, các thủy thủ tiếp vụ phục vụ bàn ăn đều là thủy thủ người Phi luật Tân. Tất cả sĩ quan chỉ được bắt đầu sau khi Hạm Trưởng đã bắt đầu ăn, và nếu có một sĩ quan nào muốn ăn thêm một món nào đó, thì ngay cả Hạm Trưởng cũng lịch sự chờ đến khi người sĩ quan đó ăn xong mới bắt đầu món ăn khác, và món tráng miệng phần nhiều là kem, bánh ngọt và trái cây. Tối khoảng 8 hay 9 giờ có chiếu phim mới nhất trong phòng ăn sĩ quan, kèm theo bữa ăn nhẹ gồm có Campbell noodle soup cùng với cracker. Vào buổi sáng các sĩ quan được đánh thức dậy bởi các thủy thủ tiếp vụ, và cũng chính người thủy thủ này sẽ thâu tóm quân phục cũ của các sĩ quan để mang đi giặt và ủi.

USS Richmond K. Turner
Chúng tôi đã được phân chia cho đi những “ca” riêng biệt với các sĩ quan Mỹ đương phiên trên đài Chỉ Huy, có những đêm chiến hạm nhận được tiếp tế ngoài khơi. Đôi khi cũng nhận được thư từ, bưu kiện, và các phim ảnh mới nhất từ trực thăng đáp xuống chiến hạm trong khi hải hành. USS DLG-10 và USS DLG-20 (guided missile destroyer leader) có trọng tải hơn 5 ngàn tấn, vận tốc tối đa khoảng 33 hải lý một giờ. Loại frigate này là loại chiến hạm có nhiệm vụ tấn công, được trang bị những hỏa tiễn, và những giàn radar mạnh của Hải Quân Hoa Kỳ. Ngoài ra nó còn có trang bị thêm trực thăng để cứu vớt những phi công bị rớt ngoài biển. Hết thời gian 15 ngày tuần dương bờ biển Korea, DDG-20 về nghỉ bến tại Sasebo vào ngày 10-10-1970, chúng tôi được lệnh thuyển chuyển qua Khu Trục Hạm USS Bausell (DD-845) tại Subic Bay bằng phương tiện của Khu Trục Hạm USS King (DLG-10) hiện đang nghỉ bến tại Sasebo. Hai bạn Nguyễn Hùng Tâm và Đỗ Duy Vy đang được thực tập trên chiến hạm DLG-10 này, và bốn đứa chúng tôi đã cùng nhau có dịp dạo phố Sasebo chung. Trên đường hải hành từ Sasebo đến Subic Bay, chiến hạm DLG-10 có ghé bến Kao-Hsiung (Cao Hùng) – một hải cảng nằm ở phía Tây Nam của Đài Loan; tàu neo tại bến cảng ba ngày. Chúng tôi bốn đứa lại có dịp đi bờ chung ở Đài Loan. Đỗ Duy Vy và tôi có chụp hình chung với hai chị em con của chủ một gift shop, và chắc các nường nay cũng trên dưới 60 tuổi hết cả rồi. Sau ba ngày nghỉ bến, chiến hạm DLG-10 trực chỉ Hồng Kông, và thả neo trong Vịnh Hồng Kông ngày 15-10-1970. Khi chiến hạm đã hoàn tất nhiệm sở thả neo, các ghe nhỏ (sampan) của dân bản địa Hồng Kông bắt đầu túa ra, và bu quanh chiến hạm để nhận lãnh làm công sơn phết lại vỏ tàu. Chúng tôi bốn đứa lại rủ nhau đi bờ dạo phố Hồng Kông. Chúng tôi ghé vào các quán bar nơi các thủy thủ Mỹ hay lui tới, Tâm có ngỏ ý rủ cả bọn “khám phá” các em “Hương Cảng” xem như thế nào? Nhưng tôi bị “lạnh cẳng” vì sợ vướng phải bệnh “teo cu” đang thịnh hành thời đó! Tôi rủ Hùng đi dạo phố Hồng Kông để mua sắm quà cáp cho gia đình, nhất là tôi muốn kiếm mua cho Mẹ tôi một ít gấm Thượng Hải, vì bà đã hy sinh cả cuộc đời cho chồng và cho con. Chúng tôi cũng đi đến Victoria Peak, để thăm viếng, chụp hình lưu niệm, và từ khu công viên này nhìn xuống bao quát cả vịnh Hồng Kông lẫn khu Kowloon (Cửu Long). Đến khu Tiger Palm Garden của chủ hãng dầu Cù Là Con Cọp để được “đi lên Thiên Đàng và đi xuống Hoả Ngục”, sau đó xuống phố để đi ăn cơm Tàu Quảng Đông. Tốn tổng cộng chỉ có bốn đô-la Hồng Kông – khoảng 40 cent Mỹ thời bấy giờ; tôi được một bữa cơm thịnh soạn và “hẩu xực” gồm có một tô mì hoành thánh thịt xá xíu, một đĩa to gồm gà xối mỡ, thịt heo quay, nửa con vịt quay, một đĩa cải làn hấp, cùng với một chai bia Hồng Kông.
Qua ngày hôm sau, chúng tôi bốn đứa lại rủ nhau dùng tắc-xi đi tắm biển ở Repulse Bay nơi có một pho tượng Phật Bà Quan Âm rất là lớn, và được dựng ngay sát bãi biển. Đêm đến chúng tôi rủ nhau đi ăn tại khu vực nổi tiếng là Floating Restaurant ở Aberdeen, khách phải dùng ghe tam bản nhỏ (sampan) để đi ra nhà hàng. Chúng tôi ghé đến một nhà hàng nổi có tiếng, nơi đây có khoe một tấm hình ngày xưa của Tổng Thống Nixon ngồi trên chiếc ngai vàng của nhà hàng, và chúng tôi cũng chụp mỗi người một tấm hình đang ngồi trên chiếc ngai vàng này.
Khu trục hạm DLG-10 nhổ neo, rời vịnh Hồng Kông ngày 25-10-1970, và hải hành trực chỉ Subic Bay. Tới nơi Hùng và tôi chia tay hai bạn Tâm và Vy, xuống trình diện Khu trục ham USS Bausell (DD-845). Sau khi trình diện Hạm trưởng, và được nói chuyện rất lâu với Hạm Phó, đã từng phục vụ ở Việt Nam qua vai trò cố vấn, và ông có khoe bằng Tưởng Lục do Đề Đốc Trần Văn Chơn ký. Chúng tôi lại tiếp tục được đi bờ tại Olongapo thuộc Subic Bay, và nếu các bạn đã từng ghé Subic Bay trong khi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội đều nhớ đến cây cầu nối ngang từ Subic Bay Naval Base đến thành phố Olongapo chỉ dài khoảng 20m, và lúc nào cũng có một chiếc ghe nhỏ dưới gầm cầu có những trẻ nhỏ xin tiền. Qua khỏi cây cầu là các quán bar cuả các em Phi Luật Tân. Khi tôi vừa mới đến Subic Bay, tôi đã nghe các thủy thủ Việt Nam đồn đãi về huyền thoại ăn chơi của HC2 Nguyễn Văn Như trong những ngày tung hoành ở Olongapo – anh là người bạn rất thân của tôi trong những ngày ở Quang Trung, lúc đó chúng tôi đã từng xưng hô với nhau là “đô đốc” rồi. Vào thời điểm năm 1970, tôi có thể đổi một đô-la Mỹ được bẩy peso ngay tại cổng chính căn-cứ – bây giờ thì được khoảng 50 peso. Vào quán bar chỉ tốn một peso cho một chai bia San Miguel ướp lạnh, và tha hồ ngắm nghía các em Phi bán bar cởi truồng trăm phần trăm. Hoặc ăn một nửa con gà chiên với giá một peso ngay trước một rạp hát ở Olongapo, và vừa xem “phim con heo” vừa nhâm nhi chiếc đùi gà.

USS Bausell (DD-845) in 1965
Ngày bầu cử Phi Luật Tân vào khoảng tháng 11 năm 1970, căn cứ Hải Quân Mỹ ở Subic Bay bị giới nghiêm, quân nhân Mỹ không được phép ra ngoài thành phố Olongapo, DD-845 vẫn còn nghỉ bến mấy ngày, nên tôi đã bàn với Hùng là “chúng mình là người Việt nom cũng giống như người Phi, chắc chắn là không có vấn đề gì đâu, chúng mình đi Manila chơi”. Chúng tôi ra Olongapo không có gì trở ngại, lên xe “khách” là một loại xe giống như xe Jeep cao, sơn đủ màu sặc sỡ, trang hoàng hoa giả, bóp còi inh ỏi để ra bến xe đò đi Manila. Xe đò đi Manila chạy qua những con đường coi không khác gì đoạn đường đi từ Phú Lâm về Cần Thơ, chúng tôi thấy rất nhiều nhà thờ có một lối kiến trúc rất đẹp. Đến bến xe ở Manila, có ngay những thanh niên nhẩy lên xe, và gạ bán hình 36 kiểu cho chúng tôi. Chúng tôi đi bộ dọc theo phố để kiếm phòng ngủ tạm qua đêm sau một chuyến xe chạy 6 tiếng đồng hồ từ Olongapo đến Manila. Ngày hôm sau chúng tôi dạo phố Manila, vào chợ, và đến công viên Rizal Park có tượng một con trâu, đài kỷ niệm Tổng Thống Ramon Magsaysay của Phi, và tượng này lúc nào cũng có hai quân nhân Phi mặc đại lễ bồng súng garant. Chúng tôi ghé khu Chinese Garden cũng nằm trong Rizal Park, có dịp trò chuyện và chụp hình kỷ niệm với khoảng 20 cô sinh viên trẻ và rất xinh đẹp cuả trường Y Tá Manila. Chúng tôi ngủ lại motel qua một đêm nữa, và sáng sớm ngày hôm sau ghé tiệm mì làm một tô hoành thánh mì lớn và một ly cà phê bít tất sữa nóng trước khi ra bến xe đò về lại Olongapo.

https://i2.wp.com/www.denhihocap.com/ds2009/image/ncknx/thuctap21.jpg
Ngày 05-11-1970 khu trục hạm USSBausell (DD-845) rời Subic Bay và hải hành trực chỉ Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin), chiến hạm có nhiệm vụ hải hành dọc theo bờ biển vùng Hàm Tân, và có nhiệm vụ yểm trợ hải pháo cho các đơn vị bộ binh của VNCH. Ngoài những giờ đi ca trong thời gian hải hành, Hùng và tôi còn được chỉ định thực tập trong Trung Tâm Tác Chiến (CIC) trong những lần yểm trợ hải pháo. Khu trục hạm USS Bausell (DD-845) là loại destroyer, có thiết bị radar tầm xa, hỏa lực mạnh, và trang bị vũ khí chống tàu ngầm (deep charge). Destroyer thường có nhiệm vụ hộ tống hàng không mẫu hạm hay yểm trợ hải pháo, vận tốc nhanh khoảng 35 hải lý một giờ, và có trọng tải khoảng 2500 tấn.
Cũng chính trên chiến hạm này, Hùng và tôi đã có tấm hình kỷ niệm trong Trung Tâm Tác Chiến (CIC) đăng trên tờ tạp chí All Hands của US Navy, được ấn hành vào cuối năm 1970, cùng với tấm hình của các bạn Nguyễn Ngọc Châu (Châu Fit) và Đỗ kim Bảng trong loạt bài nói về Việt Nam hoá đối với Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Sau một tháng công tác yểm trợ hải pháo tại Việt Nam, khu trục hạm USS Bausell rời vùng công tác và trực chỉ Subic Bay, đây cũng là thời điểm mãn hạn thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ của chúng tôi. Chúng tôi rời chiến hạm và dùng xe buýt để đến Clark Air Field, và bằng phương tiện máy bay của MACV để về lại Sài Gòn. Tôi được lệnh thuyên chuyển về BTL/LLTT; riêng Nguyễn Hùng thuyên chuyển về đâu tôi cũng không rõ; mãi đến tháng 7 năm 2000, Đại Hội 2000 của gia đình Đệ Nhị Hổ Cáp tại Huntington Beach-California, tôi mới có dịp gặp lại và hàn huyên tâm sự sau gần 30 năm không gặp. Rất tiếc Nguyễn Hùng Tâm đã qua đời, còn Đỗ Duy Vy thì ở mãi tận New Orleans, Louisiana và biết đến bao giờ thì mới gặp lại nhau đây? Chúng tôi đã có những kỷ niệm với nhau trong những ngày tháng khởi đầu hải nghiệp, với những hình ảnh thân thương của các bạn Hổ Cáp 2, Khoá 20 Sĩ Quan Hải Quân.

http://www.denhihocap.com/ds2009/ncknx.html

 

 

 

 

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s