CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ

Huy hieu tong cuc chien tranh chinh tri .JPG

letamanh


https://i0.wp.com/www.bietdongquan.com/baochi/munau/so34/images34/le-anh-dung2.jpg

Chân dung tác giả

– Tên thật: Lê Anh Dũng. Bút hiệu: Letamanh
– Sinh: 1944
– Sinh viên Khoa học & Văn Khoa
– Khóa 26 SQTB Thủ Đức. Khóa 9 Trung Cấp CTCT Đà Lạt. Sĩ Quan CTCT thuộc QĐII Pleiku
– Tù Cộng Sản ở Bắc Việt Nam. Qua Hoa Kỳ HO3, 1990
– Chủ Bút Tuần Báo Trách Nhiệm của Hội Tù Nhân Chính Tri Nam Cali từ 2000 – 2007
– Tuyển tập Giọt Nắng Xiên (2008)
– Viết cho các báo tại Nam Cali – Chủ trương ĐS Lại Giang
– Đang phụ trach web: http://www.dongsonglai.com
– Cộng tác với: http://www.songdinh.com, http://www.ninh-hoa.com, http://www.tvvn.org.

Đời vui hay chỉ lắm buồn?
Một thời nghiệt ngã suối nguồn trần ai!
Bến mê giờ vẫn còn dài,
Nước non, non nước chùng vai, gãy đời!
Quê hương ơi! Tổ Quốc ơi!

Một trong những thú vui của một người về hưu là du lịch hay thăm bạn bè ở các nơi xa mà lúc mình còn lận bận công ăn việc làm, không thể thực hiện được. Thế nhưng khi tôi về hưu với tuổi sáu mươi sáu thì lại khác. Giấc mơ của một con người, nghĩ cho cùng, khi muốn thực hiện nó, dù ta có đầy đủ phương tiện, vẫn có những ràng buột và nhiều lý do không tên làm cho ta không thể xuôi chèo mát mái. Một trong những trở ngại đó là người phối ngẩu của mình. Bà xã tôi vốn là một người vẹn toàn mọi mặt, theo đánh giá của tôi. Nàng đã từng là một người yêu khi tôi còn là một sinh viên quèn, một em gái hậu phương, với những trang thư ướt nước mắt khi tôi ở trong quân trường và ngoài mặt trận… Khi nàng trở thành người vợ lính thì cũng rất can đảm theo tôi đến tận những chiến trường xa xôi đầy bão lửa. Nào Tam Quan, Bồng Sơn, Đèo Phù Củ, Đồi Mười, Hòai Ân, An Lão, Hoài Xuân, Hoài Mỹ, Phù Mỹ, rồi Pleiku, với mùa hè Đỏ Lửa 1972, đường Tỉnh Lộ 7 trong những ngày di tản tháng 3-75, cùng ba đứa con thơ. Với số tuổi tròn 26, đã tần tảo nuôi con và ra tận xứ Bắc Việt Nam thăm tù, Hoàng Liên Sơn Yên Bái, Vĩnh Phú…

Thế mà sau khi đùm túm qua Mỹ theo diện HO thì nàng trở thành một con người khác hẳn. Xưa kia can đảm bao nhiêu thì bây giờ thỏ đế bấy nhiêu! Trong đầu vợ tôi bây giờ lúc nào cũng nghĩ đến những điều không tốt nếu có chuyện gì mời nàng ra khỏi cửa. Nào là đi xe sẽ có thể bị tai nạn, cảnh sát phạt, máy bay thì sợ rớt, du lịch sợ cướp… Nàng nghĩ, chỉ có bốn bức tường nhà, một gia đình hạnh phúc là đủ, không cần đi chơi đâu cả, không cần phải ở đâu mới thích thú. Tổ ấm gia đình nàng đang có, mấy đứa con, một đàn cháu nội ngoại, chồng vợ đề huề đâu ra đó là nàng thỏa mãn rồi… Có lẽ những năm tôi ở tù xứ Bắc, nàng một mình tần tảo nuôi con trong một hoàn cảnh đầy nghiệt ngã và gian truân suốt bao nhiêu năm. Nàng chứng kiến biết bao cảnh đời kinh khũng diễn ra chung quanh nàng. Có lần nàng bị xe đụng gãy tay trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men năm 1978, nên giờ đây tâm trí nàng trở nên một con người lúc nào cũng mất tin tưởng! Một việc gì nói ra, nàng cũng có lý luận tiêu cực thay vì vui vẻ chấp nhận. Ví dụ như các con đề nghị du lịch Trung Đông thì ngay tức khắc nghe nàng nói đến nạn giết người và bắt cóc…

Tôi làm việc ở công ty Disneyland đã hơn mười tám năm, trong túi lúc nào cũng có thẻ vào cửa miễn phí cho bạn bè và gia đình. Thế mà trong suốt thời gian ấy, và ngay cả bây giờ, vợ tôi cũng chỉ vào chơi chốn “thần tiên” đó chừng ba lần; mà lần nào cô ta cũng chỉ dám ngồi trên xe lửa chạy vòng vòng… Những trò chơi khác hay phải sắp hàng xem các mục hấp dẫn thì chẳng bao giờ ngó tới!

Mỗi khi tôi đề nghị với vợ tôi về một chuyến du lịch đâu đó ngoài nước Mỹ thì nàng nói là trong nước Mỹ thiếu gì cảnh đẹp chưa biết qua, sao phải đi xa! Nhưng khi tôi muốn đến các tiểu bang xung quanh Cali thì nàng cười: “Anh có thích đi chơi thì cứ đi một mình cho tiện, em sợ theo anh nửa đường bị bệnh thì không vui…” Những lúc như thế tôi chỉ bịết thở dài. Về hưu mà ngồi nhà, sáng sáng chạy tập thể dục, ăn uống không lúc nào thiếu thốn, bạn bè gần xa cũng tạm vui, viết lách cũng còn có người xem, thơ văn cũng có kẻ cho là tạm… Nhưng cái mục đi chơi xa là bí rị! Chẳng lẽ mình đi một mình đến một thắng cảnh nào đó chụp hình mình ênh, ngồi trong restaurant giống như thằng cha bị vợ bỏ. Mà nếu đi chung với bạn bè thì thằng nào cũng có cặp, mình đơn chiếc coi không giống con gì!

Từ ngày định cư ở khu vực đông người Việt sinh sống là khu Little Saigon, chúng tôi chỉ thường xuyên đi xe đò Hoàng đến San Jose thăm gia đình hai đứa con đang làm việc và lập nghiệp ở đó. Con cái năn nỉ lắm vợ tôi mới chịu đi chơi đảo Maui (Hawaii) một tuần lễ năm 1999, và Cacun năm 2006. Còn một chuyến hè nữa là cùng đi thăm vùng Josemite. Vợ tôi sợ cảnh xe chạy trên những con đường ngoằng nghèo suốt từ khi bắt đầu vào khu vực thắng cảnh. Đi thăm cho biết thắng cảnh Josemete mà nhắm mắt đổ mồ hôi thì còn gì để vui nữa!

o O o

Lúc còn đi học, tôi là một trong những người cứng đầu, chẳng bao giờ tin vào số mạng. Hồi ấy, đối với tôi tương lai là thiên đường, là do bàn tay ta định đoạt và xoay xở chứ không do sự sắp đặt của bất cứ đấng linh thiêng nào! Đọc Tam Quốc Chí, Hán Sở Tranh Hùng, Xuân Thu chiến Quốc và những truyện Tàu khác; trong đó toàn là những ý tưởng về Thiên Mệnh. Chẳng hạn lúc Khổng Minh ra giúp Lưu Bị để mưu cầu việc lớn; ông ta vẫn biết sự an bài của thế chân vạc, thế mà ông vẫn cưởng lại ý trời, cố chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng, dù đã có lần nhìn trời mà than rằng: “ Nhân định như thử, thiên lý vị nhiên!” Tôi cho đó là những tư tưởng cổ hủ.

Lúc “gác bút nghiên theo việc đao cung”, tôi vẫn chưa thấm nhuần một chút nào trong các triết lý nhà Phật, lời kinh Thiên Chúa, hay tư tưởng Nho Khổng. Hình như trong đầu óc của một thanh niên – có thể số đông – như tôi, đều quan niệm thật chủ quan. Đó là tin vào chính mình, tương lai do mình cố gắng định đoạt, mà trí thức và tri thức là nhân tố chính! Thế nhưng khi chúng ta đụng chạm với thực tế trong từng phút giây của cuộc sống, chúng ta mới thấy rỏ dần dần những lời khuyên bảo của người xưa. Từ những thất bại nầy qua thất bại khác, từ những xác quân thù nằm xen với xác bạn bè trên những chiến trường, từ những ngày nằm trong ngục tù một cách vô lý sau ngày 30 tháng tư năm 1975, từ những ngày cùng vợ con thoát khỏi “thiên đường Sộng Sản”… Tôi mới “ngộ” ra!

Đời đã cho ta những sông bùn,
Cô đơn, sóng dập, gió vùi tuôn!
Chiến tranh đốt chết thời son trẻ,
Tù ngục vùi chôn kiếp con người.
Đất khách lưu đày từng trăn trở,
Quê hương ngăn cách đã mòn hơi.
Năm tháng tuổi đời thêm chồng chất,
Số phận – Soi ta sáng mệnh trời!

oOo

Sau khi “tốt nghiệp” từ Quân Trường Thủ Đức – Khóa 26 SQTB năm 1968 – tôi về lại quê nhà Tiểu Khu Bình Định, làm Trung Đội Trưởng trong ĐĐ2/155 (sau nầy nằm trong Liên Đội 24) đóng quân tại những vùng thuộc Bắc tỉnh Bình Định. Cuối tháng 12 năm 1968, tôi được đơn vị ký sự vụ lệnh theo học Khóa Căn Bản CTCT tại Trung Tâm Huấn Luyện CTCT trong Biệt Khu Thủ Đô ở Saigon, thời gian học là một tháng. Đang đóng quân ở lưng chừng đèo Phù Củ, chốn khỉ ho cò gáy, nơi đã từng xảy ra những trận chiến mà xác Cộng Quân trải dài từ trên đồi rải dọc theo đường lên An Lão… mà được về Thủ Đô học CTCT thì cũng giống như là được đẻ bọc điều! Một tháng trời với những lý thuyết căn bản của ngành CTCT, với Lục Đại Chiến, với những bài ca chiến đấu thật là hấp dẫn và đáp ứng đúng

Cuối khóa, Trung Tâm tổ chức một “show TV” vô cùng ngọan mục với nội dung “Anh chiến binh về làng sau chiến thắng”. Tôi là một trong những vai diễn được đánh giá là “tốt”! Khi về lại đơn vị, thỉnh thỏang gặp người quen, họ cứ nhắc là đã xem “cái mặt mo” của tôi cười toe trên TV…! Tôi ở đơn vị, với chức Trung Đội Trưởng tác chiến, đêm đêm dẫn lính đi kích, ban ngày lo bảo vệ các cây cầu, các đồn bót dọc Quốc Lộ số 01. Có thế nói, học xong khóa TCTC để “rèn cán chỉnh quân” thì thực tế tôi chả lảm gì trong thời gian đó. Thỉnh thỏang ông Đại Đội Phó kiêm CTC (không muốn đi học CTCT – bắt tôi thế) tập hợp đơn vị, gọi tôi đến giao: “Anh đã đi học CTCT, bây giờ hát cho binh sĩ nghe đi!”. Nói rồi cười cầu tài và biến… Hồi đó, tôi mê đàn nên lúc nào cũng kè kè cây guitar. Lúc còn học trung học, tôi cũng “quậy” với những bạn bè yêu ca hát. Chắc có lẽ máu văn nghệ là một thứ máu hay lây lan, cho nên trong đơn vị, anh em trẻ lúc nào cũng khóoái theo tôi, ngoại trừ những lúc hành quân hay kích đêm là tụ nhau ca hát, đờn địch quên cả thời gian!

Năm 1970, tháng 5, tôi được đổi lên vùng cao nguyên gió rét mưa mùa Pleiku. Gặp lúc ngành CTCT toàn quốc đang mở rộng; thành lập mỗi tiểu khu một Đại Đội Chiến Tranh Chính Trị. Tôi nạp đơn và đựơc tuyển chọn vì đã qua một khóa huấn luyện Căn Bản CTCT. Với chức vụ Trung Đội Trưởng Trung Đội Chính Huấn, tôi hân hoan bắt tay vào việc thành lập các toán Văn Nghệ, toán Chính Huấn. Tôi rất thành công trong việc điều khiển toán Văn Nghệ với đàn thùng guitar, mandolin, sáo, trống cơm… và tuyển một vài nữ chính huấn!

Hồi đó tôi nghĩ rằng với ban văn nghệ “Dã Chiến” như thế nầy là đúng với việc di chuyển vào các buôn làng xa xôi, thích ứng với việc theo gót các chiến sĩ ở tiền đồn để vừa giúp vui cho họ, vừa tâm sự với anh em về tinh thần chiến đấu. Lúc nhỏ, tôi sinh ra và lớn lên trong vùng Việc Minh chiếm giữ suốt chín năm dài kháng chiến chống Pháp. Tôi thường chứng kiến những toán văn công của CS đến thôn làng hẻo lánh quê tôi tổ chức văn nghệ trong đêm tôi với đèn dầu leo lắt! Cho nên khi tôi đảm trách trung đội Chính Huấn, với trang bị gọn nhẹ như vậy là đúng với nhiệm vụ “vào lòng dân – vào lòng quân”.

Nhưng sự thật thì trái ngược lại với những gì tôi nghĩ và cũng là những người thiết lập ra “cấp số trang bị” trung ương nghĩ! Nhìn thấy ban văn nghệ của ĐĐ/CTCT với mấy cây đờn thùng, vài cái trống cơm, từ ông tiểu Khu Trưởng đến ông tham mưu trưởng CTCT, từ ông quận trưởng đến ông xã trưởng, từ ông tiểu đoàn trưởng đến ông đại đội trưởng…đều than: “Văn nghệ thế đấy à!”. Trong đầu của hầu hết mọi người quan niệm công tác Chiến Tranh Chính trị vào thời điểm 1970 là một ban văn nghệ với đàn trống bằng điện hiện đại với một lô nữ ca sĩ trẻ đẹp. Với ý thức về chiến tranh chính trị của các “quan lớn” chỉ là ca hát và “nhảy đầm”…

Thế cho nên ông đại đội trưởng CTCT của tôi lúc ấy là Đại Úy Nguyễn Văn Lộc (sau đổi về ĐĐ/CTCT/Bình Định) mới nghĩ ra một diệu kế: Tuyển lính CTCT, ưu tiên ai có khả năng mang theo đàn điện, giàn trống! Thế là một hai tháng sau khi có lệnh tuyển quân, chúng tôi có được ban nhạc “hiện đại” và những nhạc sĩ cũng rất là “hại điện”. Từ đó ngoài những lúc đi công tác các dơn vị, chúng tôi thường “được trưng dụng” chơi cho các tiệc tiếp tân, trong những đêm phòng trà ở CLB Phượng Hoàng…! Những buổi “học tập” về tình hình đất nước, về những âm mưu xâm lăng của CS mà không có “tùng xèng” hay vằng bóng mấy em “Chính Huấn” là chẳng ai vui mà ngồi nghe “thuyết trình”!

Trong ngành CTCT của chúng ta, biểu tượng là cây đuốc và sáu cánh hoa, biểu trưng cho “Lục Đại Chiến”. Mà thế nào là tổng thể của những ý tưởng kết hợp bởi sáu ngành trong CTCT? Mỗi cành hoa, biểu tượng cho một ngành chuyên môn như: Tư Tưởng Chiến – Tổ Chức Chiến – Mưu Lược Chiến- Tình Báo Chiến – Quần Chúng Chiến – Tâm Lý Chiến. Lý Thuyết gia viết riêng cho Ngành, có thể là một nhóm người mang nặng những tư tưởng tổng hợp từ Khổng Minh, Trương Lương và kết hợp với Tào Tháo! Nhưng nhìn kỹ nó phảng phất rất nhiều về nhân sinh quan xã hội thời Chiến Quốc của Tàu. Tuy thế cũng rất gần gũi với Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo… vì những nét chính của những bậc tiền bối đó đều thể hiện trong hướng nhìn của vị Tổ Sư Ngành CTCT là Nguyễn Trải Tiên Sinh! Sở dĩ ta nói vòng vo như thế là vì trong thời gian ngành CTCT được công nhận và phát triển – nghe nói rập khuôn với ngành CTCT nước Trung Hoa Dân Quốc thời bấy giờ (Đài Loan)! – thì hoa Sáu Cánh là hào quang, là kim chỉ Nam cho toàn thể Ngành CTCT của QL VNCH. Thế mà những cấp chỉ huy của chúng ta thời đó, bắt ngành CTCT thiên về chỉ một phương tiện là văn nghệ, hát ca, kịch, nhảy… Văn nghệ, ca hát, tuồng tích, báo đài, TV… nghĩ cho cùng, chỉ là phương tiện để chúng ta thực hiện kế sách mà thôi!

Cuối năm 1973, tôi được đề cử theo học khóa 9 Trung Cấp CTCT tại Trường Đại Học CTCT Đà Lạt, thời gian học là sáu tháng. Vào những ngày xuân đầu năm 1974, khi chúng tôi đang giữa khóa học thì Trung Cộng xua quân tiến chiếm Hoàng Sa. Tin tức dồn dập, những tổn thất của ta và địch quân được chúng tôi đúc kết thuyết trình hàng ngày. Hồi đó, tinh thần dân tộc dâng cao, bao nhiêu là cuộc biểu tình phản đối, và không biết bao nhiêu là câu hỏi về phía người anh em Đồng Minh cùng bóng dáng Hạm Đội Thứ 7… Giai đoạn lịch sử đen tối của đất nước bắt đầu từ đó. Chẳng có ai trong chúng ta, giai đoạn 1974, không sôi sục hờn căm trước họa xâm lăng của Tàu Cộng, nhưng phía Cộng Sản miền Bắc thì im tiếng. Sau này ta mới rỏ mặt là chúng đã ký văn kiện bán đứng hải đảo Hoàng Sa – Trường Sa và nguyện làm chư hầu để chỉ mong thôn tính được Việt Nam Cộng Hòa!

Dưới đây là sơ lược một vài chi tiết về tổn thất của Trung Cộng khi bất ngờ xâm lược quân đảo Hoàng Sa. Tuy chúng đã cưỡng chiếm được, nhưng Hải Quân của ta đã anh dũng quyết tử, làm cho chúng tổn thất nặng nề. Ta thử nhìn chừng ấy tổn thất của bọn bành trướng và rất đáng tự hào là ta đã có những anh hung làm nên lịch sử trong trận Hòang Sa 1974:

– Lực lượng HQ Địch: Hộ Tống Hạm Kronstadt 271, Hạm Trưởng HQ Đại Tá Vương Kỳ Uy tử trận. – Kronstadt 274 Hạm Trưởng HQ Đại Tá Từ Quan Đức tử trận – Chiến hạm nầy là Sóai hạm mà trên đó có chở Đô Đốc Phương Quang Kinh, Tư Lệnh Phó Hạm Đội Nam Hải của Hải Quân Trung Cộng. Trong trận chiến, ông và toàn Bộ Tham Mưu tháp tùng đều tử trận. Trục Lôi Hạm 389, Hạm Trưởng HQ Tr/Tá Triệu Quát tử trận. Truc Lôi Hạm 396, Hạm Trưởng HQ đại Tá Diệp Mạnh Hải tử trận. Bốn Phi Tiễn Đỉnh(PTD) Komar trang bị hỏa tiển địa địa, đó là PTD133 Hạm Trưởng HQ Th/Tá Tôn Quân Anh, PTD 137 Hạm Trưởng HQ th/Tá Mạc Quang Đại, PTD139 Hạm Trưởng HQ Th/Ta Tạ Quỳ, PTD145 Hạm Trưởng HQ Th/Ta Ngụy Như và 6 Hải Vận Hạm chở quân…..

– Tổn thất nhân mạng: Hải Quân Trung cộng tử thương 24 SQ gồm 1 đô đốc, 7 đại tá, 7 trung tá, 2 thiếu tá, 7 cấp úy, hạ sĩ quan và binh sĩ.

Bây giờ là năm 2011 – Ba mươi mấy năm sau trận hải chiến Hoàng Sa, người Cộng Sản trong nước, trước kia cấu kết với Tàu Cộng, âm thầm ký bán Hoàng Sa để chúng được sự hổ trợ mọi mặt tiến chiếm VNCH; giờ đây chúng đang đứng trước thảm họa mất luôn tổ quốc VN thân yêu mà chúng đang toàn trị cai quản! Cộng Sản VN từng bước dâng biên giới, dâng hải đảo âm thầm, lùi từng bước, nhượng từng hải đảo cho giặc.

Nhưng dĩ nhiên, “được đằng chân, lân đằng đầu”, bành trướng Trung Cộng đang muốn nuốt luôn cà giang san hình cong chữ S của ông cha để lại! Bọn hèn nhát Cộng Sản VN đàn áp và chà đạp lòng dân khi họ muốn vùng lên chống bọn bành trướng phương Bắc! Tổ quốc ta đang đứng trước họa diệt vong. Ai là người còn nhiệt huyết sau bao nhiêu năm bị CS nhồi sọ và đàn áp; bây giờ hình như toàn dân không còn sức đề kháng mà là những con cừu chỉ biết tuân lệnh…! Thế giặc như thế – ai là người đem Lục Đại Chiến về quê hương thắp sáng ngọn lửa yêu nước, ngọn lửa đấu tranh giành lại chủ quyền, tự do, độc lập cho tổ quốc Việt Nam?

Trong mỗi chúng ta, nếu áp dụng được nhập tâm “Lục Đại Chiến”, có thể chúng ta cũng không đến nổi thê thảm, mang niềm đau, niềm tủi nhục… Nếu ta có thể đi sâu vào từng cánh hoa, từng chi tiết của lý thuyết ngành CTCT, chúng ta mới thấy được những tinh hoa áp dụng bất cứ trong trường hợp nào cho bản thân. Đơn cử một vài kinh nghiệm, khi ta bị bắt vào tù, gọi là các trại cải tạo sau năm 1975; nếu ai áp dụng thuần thục “Lục Đại Chiến” là người đó sẽ cảm thấy thoải mái ngay trong khi bị cùm kẹp, bị quân thù hành hạ! Ta chỉ cầm áp dụng từ mỗi cánh hoa một ít là có thể qua mặt được địch quân ngay khi chúng cầm súng chỉa vào đầu. Ta sẽ an nhiên tự tại trước bao hành hạ vì ta đã thấm nhuần Lục Đại Chiến! Đó là tâm lý chiến, là quần chúng chiến, là tư tưởng chiến…! Bằng chứng là ngay trong các trại tù, sau một thời gian, tụi cán binh Cộng Sản, tụi Công An cai tù thuộc lòng những bài ca “nhạc vàng”; ngoài miệng chúng cấm đoán, nhưng hàng đêm chúng lắng nghe…

Khi rời xa tổ quốc lưu vong, nếu ta chỉ cần cùng nhau kết tay lại áp dụng Quần Chúng Chiến, Tư Tưởng chiến, Tình Báo Chiến, Tổ Chức Chiến… bảo nhau, hẹn nhau, vận động nhau, đòan kết nhau… thì làm sao bọn CS len lỏi được vào từng nội bộ các tổ chức Cộng Đồng người Việt Tị Nạn để bây giờ chúng dễ dàng áp dụng Nghị Quyết 36! Có thể nói về lý thuyết, Lục Đại Chiến bao gồm hết nhân sinh quan sống cho từng cá nhân. Thuyết nầy thoạt kỳ thủy áp dụng cho quốc sách về nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy, về nghệ thuật “phá núi lấp sông… Nhưng nếu ta suy diễn nhỏ hơn thì Lục Đại Chiến cũng là Nhân Sinh Quan” sống còn cho từng mỗi con ngừơi!

Một con người có một ít suy nghĩ về tư tưởng sống, về nghệ thuật sinh tồn giữa xã hội đầy cạm bẩy, đầy xáo trộn, đầy gian dối… sẽ tự nhiên áp dụng cho chính mình, trang bị cho chính mình sáu cánh hoa Lục Đại Chiến! Nếu Cộng Đồng Tị Nạn Cọng Sản khắp nơi mà cũng được áp dụng một ít về Lục Đại Chiến thì bảo đảm chúng ta không thể nào bị địch phân hóa ra từng mảnh theo Nghị Quyết 36 như ngày hôm nay…! Nhưng tại sao chúng ta quên và hầu như không bao giờ nghĩ đến sáu cánh hoa huyền ảo mà đầy hấp lực nầy; mà chĩ thường ca tụng Binh Pháp Tôn Ngô hay các tư tưởng cổ xưa… Có thể đúng với câu “Bụt trong nhà không thiêng” chăng!

Hè 2011

http://www.bietdongquan.com/baochi/munau/so34/chientranhchinhtri.htm

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s