Ly Khách

https://i2.wp.com/i68.tinypic.com/2wnmkg9.jpg

Cảm nghiệm của một Đại tá tuyên úy hải quân Hoa Kỳ gốc Việt, Linh mục Nguyễn Văn Tùng.

Ngồi đợi chuyến bay chuyển tiếp ở phi trường Narita, bên ngoài thủ đô Tokyo (theo Hán-Việt đọc là Đông Kinh) của Nhật Bản, tôi thấy thời gian như ngừng lại, lâu ơi là lâu! Vào thuở đó (2006), mạng lưới toàn cầu (World Wide Web), điện thoại di động, ipad, facebook v.v… vẫn chưa thịnh hành và được sử dụng thông dụng như ngày nay, có thứ vẫn còn là sản phẩm chỉ có trong các phim khoa học giả tưởng. Chả có gì để giải trí ngoài việc đọc sách hay tuyệt đối… không làm gì. Dòng tư tưởng cứ lan man, hết chuyện này sang chuyện khác, rồi cuối cùng ngưng lại ở một kỷ niệm đáng nhớ, cũng tại phi trường này, nhiều năm về trước, từ thuở tôi mới gia nhập hải quân Hoa Kỳ vào cuối thập niên 80s.
1.
Sau chuyến bay dài đến hơn 12 tiếng đồng hồ từ Los Angeles, với những giấc ngủ chập chờn, ngắn ngủn, tôi ra khỏi phi cơ với đôi mắt còn cay sè. Một người Mỹ, mặc quần Jeans (bò), áo T-shirt (phông) đang giơ cao tấm bảng bằng giấy bìa với mấy chữ nguệch ngoạc: “Tuyên úy Nguyễn,” mắt anh ta dáo dác như chưa nhìn thấy tôi. Đến tận bên canh anh ta, tôi nói nhỏ: “Tôi là tuyên úy Nguyễn.” Anh ta như còn ngờ ngợ và nói: “Xin lỗi, Sir, tôi cứ nghĩ là Sir phải… già hơn chứ!” “Tại sao anh lại nghĩ như vậy?” Tôi hỏi. Như chợt nhớ ra nguyên tắc chào kính trong quân đội, anh ta vội tự giới thiệu: “RP1 John Bertorelli, Sir.” (Phụ tá tuyên úy, trung sĩ nhất.) Tôi chìa tay ra bắt và nói câu chào hỏi thường lệ, anh ta tiếp: “Vì các tuyên úy Công Giáo ở đây toàn là những vị đã lớn tuổi, Sir.”Tôi cười, “vậy anh có thất vọng, khi thấy tôi không?” Anh ta cũng cười, lém lỉnh: “Dĩ nhiên là không rồi, tôi thích làm việc với các cha trẻ hơn.”

Trung sĩ Nhất Bertorelli dẫn tôi đến ghi tên ở văn phòng dành riêng cho các quân nhân Hoa Kỳ nhập cảnh Nhật Bản, chứ không phải qua các thủ tục như của dân sự. Sau đó, anh ta giúp tôi lấy hành lý và đưa ra xe, trong khi miệng vẫn không ngớt “brief” (bá cáo vắn tắt) rằng đường từ đây về đến căn cứ Atsugi khoảng 130 km, nhưng có thể phải đi đến 3 tiếng đồng hồ, hay hơn nữa vì tình trạng kẹt xe ở Tokyo. Quả vậy, thành phố này lớn rộng, dân đông và văn minh không thua bất cứ một thành phố nào ở Âu, Mỹ, và điểm tương đồng lớn nhất, dĩ nhiên, vẫn là… nạn kẹt xe! Nhưng cũng nhờ vậy mà tôi đã có dịp ngắm cảnh Tokyo kỹ hơn, một thành phố mà ở thời trung học, tôi chỉ có thể thăm viếng… trong mơ.

Về đến căn cứ hải quân của Mỹ ở Atsugi thì trời đã tối. Tôi làm thủ tục nhận phòng, người thư ký Nhật nhìn tôi và tò mò hỏi: “Đại úy có bà con với một đại úy khác, cũng tên Nguyễn, đang phục vụ ở Okinawa không?” Tôi hiểu ngay, và nói: “Ồ, không, nhưng chúng tôi quen nhau lắm.” Đó là cha N.B.A., cùng địa phận với tôi từ bên quê nhà, ông đã gia nhập ngành tuyên úy hải quân Mỹ trước tôi khoảng hai năm. Lúc ấy, tuyên úy N.B.A. đang phục vụ tại sư đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến ở hải đảo Okinawa, và có lẽ đã nhiều lần ghé qua căn cứ này. Tôi được ở trong một “căn hộ” (apartment) có đủ phòng khách, phòng ngủ, bếp, TV, tủ lạnh… thuộc khu cư xá dành cho các sĩ quan độc thân.

Sáng hôm sau, tôi vào trình diện tuyên úy trưởng, thiếu tá Robert Griffin. Sau vài câu xã giao và bàn những chuyện cần thiết, tuyên úy Griffin đã dẫn tôi lên gặp đại tá chỉ huy trưởng căn cứ Atsugi. Có đi xa mới thấy tình nghĩa huynh đệ chi binh trong quân lực Mỹ rất thắm thiết, đại tá chỉ huy trưởng đã thân mật nói chuyện với hai tuyên úy, ông còn kể chuyện vài hôm trước đó, hội các thương gia trong vùng, khoảng vài chục người, đã cùng nhau đãi ông một bữa ăn bằng toàn cá… sống! (Sushi.) Ông nuốt không nổi, thế mà bữa ăn tốn đến gần 28 ngàn đô-la! Nhắc đến, ông vẫn còn le lưỡi vì thời giá đắt đỏ ở Nhật.\

Atsugi là hậu cứ của các phi đội phản lực và trại gia binh của cả tiểu hạm đội (battle group) thuộc hàng không mẫu hạm Midway có bến thường trực ở Yokosuka, trong vịnh Tokyo và cách Atsugi khoảng 40 km về hướng Đông Nam. (Đây là khoảng thời gian chuyển tiếp giữa hai HKMH Midway và Independence, 1991. Đến năm 1998 thì chiếc Kitty Hawk đã ra thay tàu “Indy” và vào năm 2008, HKMH nguyên tử George Washington CVN-73 đã đáo nhậm nhiệm sở ở đây cho đến hiện tại.)

Đời sống trong căn cứ đã khác hẳn với cuộc sống của dân chúng Nhật bên ngoài, dù chỉ cách nhau cái hàng rào. Mọi thứ thực phẩm và vật dụng bán trong thương xá hải quân (Navy Exchange) đều theo thời giá bên Mỹ và người mua không phải trả thêm tiền thuế. Căn cứ còn có cả quán hamburger MacDonald; giá xăng bên ngoài là 3.50 đô la một gallon (khoảng 4 lít) nhưng bên trong chỉ có 1.10 đô. Thêm vào đó, các quân nhân còn được hưởng thêm trợ cấp phục vụ ở nước ngoài (oversea pay.) Tuy nhiên, việc thủy thủ phải xa nhà có khi đến 6 tháng, vẫn là mối khó khăn thường xuyên của các gia đình binh sĩ và vai trò của các tuyên úy lại càng quan trọng hơn.

Tôi suýt bật cười vì nhớ đến lời của trung sĩ nhất Bertorelli, khi gặp vị tuyên úy Công Giáo, cha Colazo, một “ông già” đến gần 60 tuổi mà vẫn còn mang lon đại úy! Ông thuộc loại “đại úy muôn năm” vì gia nhập hải quân lúc đã lớn tuổi. Tình trạng thiếu linh mục Công Giáo đã trở nên khá trầm trọng nên quân đội mới nhận ông, nhưng chỉ có 3 năm, sau đó, nếu cần (nếu ông còn sức khỏe) họ sẽ lưu nhiệm ông thêm 3 năm nữa, cứ thế, và sẽ không có vấn đề… thăng cấp!

Tuy nhiên, cha Colazo rất tốt với tôi, một buổi chiều, ngài đã rủ tôi “xuống phố” Tokyo, và tôi đã ở lại đến sáng hôm sau mới về. Tôi đã đến thăm người bạn, quen trước ở Roma, cha N.H.H. đang làm “cha phó” trong một giáo xứ Nhật, đồng thời đặc trách người Việt trong tổng giáo phận Tokyo. Người Nhật có nhiều cái hay, nhưng riêng hai khoản ăn và ngủ đã không hợp với tôi mấy! Sau bữa ăn thịnh soạn nhưng nấu theo kiểu Nhật, dĩ nhiên, do cha xứ khoản đãi, hai cha đã dẫn tôi lên lầu trên của ngôi nhà xứ khá sang trọng, tuy nhiên, căn phòng ngủ dành cho khách lại… trống trơn! Không giường, không tủ, chỉ có một cái chiếu hẹp, trải giữa phòng, một chiếc gối và một cái chăn được xếp dọc theo chiều dài của chiếc chiếu! Cha H. nói với tôi rằng hầu như tất cả người Nhật đều nằm như vậy. Người ta thường bảo cái phản là thứ giường để “ngả lưng cho thế gian nhờ…” nhưng sau bao năm nằm nệm ở Mỹ, tôi chẳng thấy nhờ vả gì được với cái… phản (sàn nhà) này. Nó làm tôi đau lưng đến khó ngủ! Sáng hôm sau, cha H. đã mời tôi cùng dâng lễ cưới cho một đôi tân hôn thuộc cộng đoàn người Việt ở Fujisawa, gần Yokosuka, vào thứ Bảy kế tiếp và tôi đã nhận lời. (Thứ Bảy và Chúa Nhật là những ngày nghỉ cuối tuần của lính Mỹ, sau thánh lễ, các tuyên úy cũng được tự do và thường thì không phải làm gì vào ngày thứ Bảy.)
Tôi đã dùng métro để đi từ Atsugi đến Fujisawa, quả nhiên, “danh bất hư truyền” xe điện của Nhật có ba đặc điểm: Sạch, êm và rất đúng giờ. So với métro của New York, Paris, hay ngay cả Washington DC, xe điện Nhật vẫn có phần trội hơn ở điểm này hay điểm khác. Học được dăm ba chữ Hán ở đại chủng viện và trường đại học Văn Khoa năm xưa cũng giúp tôi nhận ra tên của một vài nhà ga theo lối đọc Hán-Việt, không phải vận trí ghi nhớ chúng theo âm Nhật. Nghe nói trong ngôn ngữ hàng ngày của các nước Nhật và Hàn Quốc (Triều Tiên) vẫn còn có đến 5 ngàn chữ Hán, học sinh ở Nhật phải học cả ba cách viết: Hán (logo-graphic kanji), Nhật (Hiragana) và âm La Tinh (a,b,c…- katakana) Chao ôi! Đến đây phải ngả mũ, cám ơn Đức Giám Mục Alexandre de Rhodes (1591-1660), nhà truyền giáo đã nghĩ ra cách viết theo mẫu tự La Tinh cho dân Việt, quốc gia duy nhất ở Á Châu xử dụng kỹ thuật này. Khoảng từ đầu thế kỷ XX, cách viết này đã trở thành thông dụng và hiện là “quốc ngữ” của nước ta. Ôi! Dễ dàng biết bao…
Nhà thờ, nơi có đám cưới, đang do các cha truyền giáo từ Mỹ đến trông coi, tôi được mời vào nhà xứ nghỉ ngơi trước giờ hành lễ, nhưng tôi đã ra trước cửa nhà thờ đứng, để mong tìm hiểu thêm về nếp sống của người dân Việt trên đất Phù Tang này. Khi biết tôi đến từ Mỹ, các bà thi nhau “phỏng vấn” tôi, thay vì ngược lại, có bà hỏi: “Thưa cha, các bà như… chúng con thì liệu lương tháng khoảng bao nhiêu ở Mỹ?” Tôi bỗng trở nên lúng túng; thứ nhất, ở Mỹ không ai hỏi về tiền lương của nhau (ngoại trừ… sở thuế); thứ hai, làm sao tôi đoán được về “các bà như chúng con?” Nhưng tôi vẫn cố làm vừa lòng họ, liếc nhanh qua cả nhóm, tôi thấy họ ăn mặc, trang sức không sang trọng, đắt tiền lắm, dáng người cũng không thuộc thành phần “chủ nhân ông” hay “chủ nhân bà,” rồi tôi cố moi óc xem có ai, thuộc thành phần “lao động” ở Mỹ đã “lỡ dại” khoe với tôi về tiền lương của họ. Mặc dù tôi biết không thể có câu trả lời chính xác được, vì nước Mỹ rộng mênh mông, gồm cả một lục địa, luật lệ, giá sinh hoạt của mỗi tiểu bang lại khác nhau, nhưng tôi cũng cố trả lời, tổng quát như có thể: “Ở bên ấy, các bà đi làm ở chợ, hãng xưởng, may vá, trừ thuế rồi cũng kiếm được khoảng trên ngàn đô mỗi tháng.” Bà ấy bỗng reo vui: “Bên này, tính ra chúng con cũng lãnh trên ngàn đô mỗi tháng đó cha!” Mấy bà khác cũng cười biểu đồng tình, nhưng bỗng bà ấy xụ mặt xuống, buồn buồn, rồi chậm rãi nói: “Nhưng bên này vật giá cao lắm cha ạ, chúng con không bì với Mỹ được đâu!” Tôi cũng chỉ biết cười trừ với họ.

Cô dâu, chú rể, đã mặc theo lối Âu phục, nhưng các em bé trong đoàn phù dâu, phù rể thì diện theo lối trẻ con Nhật. Khi các em đem “lễ vật” lên dâng trên bàn thờ, họ đã chào linh mục chủ tế bằng cách cúi gập mình xuống, đúng như lối chào kính của người Nhật; vị chủ tế cũng chào lại như vậy. Nhìn vào một cậu bé, từ mái tóc đến quần áo, đôi giày, tôi không thể nhận ra tí “Việt” nào trong cậu! Một nỗi âu lo chợt đến khiến tôi nhẹ thở dài, nhưng rồi nụ cười đã nhanh chóng trở lại trên môi tôi, lúc cậu bé nhìn vào hàng ghế như muốn tìm kiếm ai, và khi thấy một thiếu phụ đang hãnh diện nhìn mình, cậu đã kêu lên nho nhỏ, nhưng rất rõ: “Mẹ!”


Nhà nguyện trong căn cứ Hải Quân ở Atsugi

Trước khoảng thời gian đến Nhật kể trên ít lâu, ở một chân trời khác: Nước Ý, thuộc Châu Âu; tôi đã dùng xe lửa để đi thăm bà bác, đang định cư ở thành phố Aarhus, thuộc nước Đan Mạch (Denmark.) Bà có hai người con định cư ở Đức, họ vượt biên trước và được một tàu của Đức vớt, tôi sẽ ghé thăm họ trong chuyến trở về. Bà bác đi sau với hai người con còn lại, và hiển nhiên là một tàu Đan Mạch đã cứu họ, nên họ đã phiêu bạt về tới cái xứ thuộc vùng Bắc Âu xa xôi này.

Tàu rời thủ đô Roma vào một buổi sáng còn mờ hơi sương, trực chỉ hướng Bắc để tiến về Florence (Firenza.) Hơn tiếng đồng hồ sau, bỗng dưng tàu chậm lại rồi ngừng hẳn giữa nơi đồng không mông quạnh! Hỏi ra mới biết công đoàn của các nhân công tàu hỏa đã có quyết định… đình công! “Chết thật! Làm thế nào để tiếp tục chuyến đi?” Tôi tự hỏi và tự lo âu, nhưng xem ra những người khách đồng hành chung quanh đã không lộ vẻ quan tâm lắm. Quả nhiên, chỉ khoảng 20 phút sau, tàu lại tiếp tục, công nhân đã đạt được thỏa thuận với chính phủ! Đời sống ở Ý như thế đấy, rất dân chủ và cũng rất… “tà tà.”

Tàu vẫn đi về hướng Bắc, qua Bologna, Verona, rồi Trento, một thành phố khá lớn và nổi tiếng trong giới Công Giáo vì đã có một “công đồng” quan trọng ở đây (The Council of Trent -Concilium Tridentinum – held between 1545 and 1563). Trời đã xế chiều, cảnh núi non càng lúc càng chập chùng, con tàu cứ đi, luồn qua những thung lũng, vượt lên các đèo cao, có khi lại chui vào những đường hầm dài hun hút. Cuối cũng thì tàu cũng lên đến cao nguyên và tiến về thành phố Innsbruck của nước Áo (Austria,) tôi đổi tàu để đi Munich (Munchen) thuộc nước (Tây) Đức, thuở đó khối Cộng Sản quốc tế chưa sụp đổ. Dọc đường, tôi nói chuyện với hai người Áo, họ có vẻ rành về lịch sử cuộc chiến Quốc – Cộng ở Việt Nam. Những người khách ấy đã không đứng về bên nào, nhưng rất thông cảm với nỗi thống khổ của người dân Việt, đặc biệt là những người đã phải liều chết vượt biên tìm tự do, mà cả thế giới đã gọi họ là những “thuyền nhân” (Boat People.) Hai người khách nói thêm, những người như họ, cả đời an hưởng tự do, không thể hiểu và cảm nghiệm hết giá trị và sự quí giá của nó. Tôi nói, tự do như hơi thở, thiếu tự do thì cuộc sống chỉ là một sự chết kéo dài… Không hiểu tôi đã nói câu này do tự phát hay nhớ lại từ đâu đó có sẵn ở trong tiềm thức.

Đến Munich (Munchen) thì trời đã vào khuya, tôi phải đổi tàu lần nữa và lần này tôi đã trả thêm tiền để được nghỉ ở toa có giường ngủ, (tôi có “Europass” mua trước ở Mỹ, có thể đi bất cứ nơi nào trong khối Tây Âu và luôn được ngồi ở các toa hạng nhất.) Chếch về hướng Tây Bắc, tàu phải đi qua các thành phố lớn của Đức như Stuttgart, Frankfurt, Hannover và cuối cùng khi tàu vào ga Hamburg thì trời đã dựng sáng, tôi lại phải đổi tàu để đi qua nước Đan Mạch! Ngồi uống ly cà phê buổi sáng trên sân ga, tôi thấy hai thanh niên ở bàn bên cạnh đang nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt nên bước qua hỏi thăm, nét vui mừng hiện rõ trên hai khuôn mặt vừa phảng phất nỗi buồn xa xăm. Tôi nói rằng sẽ đi Aarhus bên Đan Mạch, còn họ thì sẽ đi Oslo của nước Na-Uy (Norway) xa hơn gấp bội! Tò mò hơn, tôi hỏi họ sẽ đi như thế nào? Họ đáp: “Tụi em sẽ đi suốt chiều dài của Đan Mạch, đến cảng Frederikshavn thì xuống phà (một loại tàu lớn có thể chở cả xe hơi), để đi qua eo biển Skagerrak của Bắc Hải (North Sea) mất thêm hơn 9 tiếng nữa mới về tới Oslo.”

Họ đi bằng chuyến xe lửa khác, tôi tần ngần đứng nhìn mãi cho đến khi con tàu mất hút ở cuối sân ga. Những người thanh niên đó đã sinh ra và lớn lên ở miền Nam nước Việt, nơi quanh năm nóng nực như chỉ có một mùa Hè, đúng hơn là chỉ có mưa, nắng hai mùa. Bây giờ họ đang phải chịu đựng những cơn lạnh thấu xương ở một quốc gia tiếp giáp với miền Bắc Cực! Cuộc bể dâu nào, cuộc đổi đời nào đã xô đẩy họ đến cuối chân mây đó?

Dòng tư tưởng cứ miên man, đưa tôi về đến hiện tại, 2006, đến cuộc hành trình trở lại Hoa Kỳ từ chuyến đi Trung Quốc, mấy tuần nay. Ngay từ lúc khởi hành của chuyến bay vượt Thái Bình Dương, tôi đã có những thích thú bất ngờ. Từ phi trường San Francisco, chiếc phi cơ trực chỉ hướng Bắc để đi Alaska, theo thường lệ, khi gần đến Anchorage phi cơ sẽ chuyển qua hướng Tây, bay hình cánh cung dọc theo các thềm lục địa ở không phận quốc tế, rồi dần dần chếch xuống hướng Nam, cho đến lúc vào không phận của Nhật Bản hay Nam Hàn. Nhưng hôm nay, theo bản đồ hướng dẫn phi trình trên các màn ảnh TV, chiếc phi cơ của hãng hàng không Trung Quốc vẫn bay thẳng về hướng Tây, rồi xuyên vào không phận nước Nga! Chuyện không thể xảy ra cho các hãng hàng không Mỹ và Á châu tự do, trong thời còn quốc tế cộng sản và liên bang Soviet. Tôi vẫn nhớ chiếc phi cơ dân sự của Nam Hàn (số hiệu KAL 007), đã bị không quân Soviet bắn rơi chỉ vì vô tình bay lạc vào không phận của họ, tháng 9 năm 1983. Chỉ trong khoảnh khắc, 269 hành khách và phi hành đoàn đã thiệt mạng một cách oan uổng.

Nhưng hôm ấy, tôi đã “ngang nhiên” được bay trên bầu trời của cựu liên bang Soviet! Không phải chỉ bay dọc theo bờ biển, nhưng sâu trong lục địa. Chếch xuống hướng tây nam, qua Khabarovk Krai, một thành phố ở khá xa về hướng tây của quân cảng nổi tiếng Vladivostok. Phi cơ còn bay xa trên phía bắc của biên giới giữa Bắc Hàn (Bắc Triều Tiên) và Trung Quốc, nhắm thẳng hướng thành phố Harbin của Mãn Châu (Manchuria) trước khi đáp xuống phi trường ở Bắc Kinh (Beijing), thủ đô của Trung Quốc.

Vừa ra khỏi khu lấy hành lý thì đã gặp một hướng dẫn viên biết nói tiếng Việt chờ sẵn: “Cháu đề nghị thế này nhá, bây giờ chúng mình phải “chèo” (trèo) lên tầng “chên” (trên) mới có xe “bớt” (bus) chờ sẵn.” Cái giọng nửa Hà Nội, nửa ở đâu ấy, cộng thêm một tí nhừa nhựa của thuốc lào, cứ vang vang trong đầu tôi. Thành phố lớn nào của quả đất hôm nay mà không có nạn kẹt xe, ngay cả trong thành phố của nước cộng sản này cũng đang chuyển mình lột xác. Bắc Kinh đang tưng bừng chuẩn bị đóng vai nước chủ nhà để tổ chức Thế Vận Hội Mùa Hè (Summer Olympic) vào năm 2008. Đoàn người về đến khách sạn ở giữa thủ đô của “thiên triều” thì đã muộn, chỉ còn giờ ăn lót dạ một chút rồi chuẩn bị để đi ngủ.

Sáng hôm sau, điểm tâm bằng “bữa ăn sáng lục địa” (continental breakfast) tương tự như ở các khách sạn bên Châu Âu, nhưng có phần kém hơn. Đoàn người đã lên xe để đi xem Vạn Lý Trường Thành trước, vì “bất đáo trường thành phi hảo hán” (không đến trường thành thì chẳng phải là anh hùng). Dọc đường còn ghé thăm một trong những lăng tẩm của 13 ông vua trong triều đại nhà Minh, và nơi sản xuất “đặc sản” Trung Quốc: Các thứ nữ trang, tiểu công nghệ bằng đá cẩm thạch.

Bức tường rộng từ hai đến khoảng bốn thước, có chỗ cao đến 6 thước, vắt vẻo hết ngọn núi này đến đỉnh đồi khác trải dài triền miên như đến vô tận. Khoảng tường trong khu vực chúng tôi thăm, đã được xây lại và xây thêm vào đời nhà Minh (The Ming Dynasty, 1368–1644), gạch được đổ bằng thứ đất sét đen nung non, nền gạch vẫn ra mùn bân bẩn. Bức tường được xây với bao xương máu của dân lành để ngăn “rợ” phương Bắc, nhưng nào có ngăn được ai? Mấy lần họ đã bị người phương Bắc xâm lăng và cai trị bởi các triều đại nhà Nguyên (Mông Cổ, 1271-1368) và nhà Thanh (Mãn Châu, 1644-1912) sau này.

Đã xem cuốn phim “Vị hoàng đế cuối cùng” (the Last Emperor) nên tôi không lạ lắm với phong cảnh các lăng tẩm trong Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh. Nhưng phải công nhận, hoàng cung của họ có bề thế hơn thành nội Huế nhiều. Bao lần, các quan sứ Việt đã phải lặn lội qua tận nơi này để triều cống Bắc triều? Bao nhiêu vàng lát chung quanh đây đã là công lao, mồ hôi, nước mắt ngay cả máu của những người dân xứ Việt ở tận phương Nam?
Bắc Kinh đã là kinh đô của Trung Quốc từ thời nhà Tiền hay Tây Hán (206 BC – 9 AD, gọi là Trường An hay Hứa Đô). Về sau, người Mông Cổ (1271) cũng đặt thành này làm kinh đô để được gần gũi với quê hương của họ ở phương Bắc. Đến triều đại nhà Minh, thoạt tiên, họ lấy kinh đô ở Nam Kinh, nhưng sau đó có loạn tranh giành ngôi báu, nên cuối cùng, kinh đô lại đặt ở Bắc Kinh. Cùng một lý do là để được gần gũi với mẫu quốc, nhà Mãn Thanh (Thanh Triều) sau khi chiếm được Trung Hoa, đã đặt thủ phủ ở thành phố này. Nhà cách mạng Tôn Dật Tiên, mà người Hoa đã quí mến gọi ông là Tôn Trung Sơn, đã dùng Nam Kinh làm thủ đô. Rồi sau khi nắm hết quyền hành, người cộng sản Mao Trạch Đông lại đặt “phủ chủ tịch” ở Bắc Kinh. Người hướng dẫn viên đã đùa rằng, như vậy lỡ ông ấy có thua trận, thì cũng dễ chạy sang liên bang Soviet để lánh nạn hơn!

Cung điện mùa Hè của Từ Hi Thái Hậu có thể đã làm cho ông Walt Disney, người lập nên các khu giải trí Disney lừng danh trên thế giới, phải ganh tị? Chỉ khác một điều là ông Disney đã lập các khu giải trí cho trẻ con và cả những người lớn, còn bà Từ Hi thì tạo chỗ ăn chơi cho chính mình, với bao công sức của đám dân người Hoa nghèo khổ.

Tiếp tục chuyến đi, đoàn người đã ra phi trường để bay về Thượng Hải (Shanghai), nơi sẽ dừng lại sau này. Hôm nay, chúng tôi dùng xe bus để đi thẳng đến Hàng Châu (HangZhou.) Phong cảnh ở Tây Hồ quả nhiên thanh lịch, hữu tình mà du khách thập phương vẫn thường khen ngợi. Chỗ có nhiều cảnh đẹp thì lại lắm thi nhân, như các ông Bạch Cư Dị, rồi Tô Thức (Tô Đông Pha) đã có thời làm quan ở đây và cho đắp thêm các lối đi ở Tây Hồ. Hàng Châu là một trong mấy nơi tự nhận là xuất xứ của chuyện tình bất hủ giữa Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài với những địa danh được nhắc tới như Cô Sơn, Tiểu Lộ, Trường Kiều… đang là một phần của Tây Hồ này.

Hàng Châu còn có sông Tiền Đường, nơi nàng Kiều đã trầm mình để toan rũ sạch nợ trần, sau bao nỗi truân chuyên. (Nguyên tác từ “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, được cụ Nguyễn Du dịch qua chữ Nôm thành truyện thơ “Đoạn Trường Tân Thanh” hay chỉ đơn giản là “Truyện Kiều”). Gần Hàng Châu có làng Long Tỉnh (Giếng Rồng) nằm gọn trong một miệng núi lửa cũ, phải leo qua ngọn núi mới vào đến bên trong. Sau này, người ta đã đào một đường hầm xuyên qua núi để xe cộ lưu thông được dễ dàng hơn. Dân trong làng chuyên nghề trồng một loại trà xanh đặc biệt (trà Long Tỉnh) được quảng cáo rằng nó có thể làm giảm bớt chất mỡ trong máu.

Nơi dừng lại kế tiếp là thành phố Tô Châu (Suzhou) nơi có đồi Hổ, tương quyền rằng nàng Tây Thi, gái đất Việt, sau khi bị gả về với vua Ngô Phù Sai, đã thường ra đây soi bóng mình qua một lỗ đá trên cầu. Phải chăng đó cũng là dịp để nàng âm thầm than khóc, mơ tưởng về người tình Phạm Lãi? Tô Châu còn nổi tiếng về kỹ nghệ tơ tằm, ghé qua xưởng ươm tơ và hàng bán quần áo, chăn mền, toàn bằng tơ. Những ông có bà xã cùng đi đã có vẻ buồn buồn, vì sau lần viếng xưởng ngọc thạch ở Bắc Kinh, rồi bây giờ ở đây, quí phu nhân lại sử dụng các thẻ tín dụng (credit cards) hơi kỹ!

Trước khi đến Nam Kinh (Nanjing,) đoàn người đã ghé qua Vô Tích (Wuxi) với Thái Hồ, nơi người ta nuôi loại trai có ngọc, đặc biệt sống trong hồ nước ngọt này. Quí ông lại được thêm một phen… lên ruột, vì các bà đã “chà cạc” thêm nhiều hơn nữa!

Nam Kinh, nằm bên dòng Dương Tử, nhưng người Hoa lại thích gọi là Trường Giang, con sông dài vào hàng thứ ba trên thế giới, sau sông Niles ở Châu Phi và sông Amazon ở Nam Mỹ. Trên dòng sông này còn có những địa danh lịch sử từ thời Tam Quốc tương tranh (189 AD – 280 AD) như Kinh Châu, nơi Quan Vũ đóng quân; Xích Bích, nơi đô đốc Châu Du đã hiệp cùng quân sư Gia Cát Lượng đánh tan hàng chục vạn binh hùng của Tào Tháo (208 AD), chia Trung Hoa thành ba nước và kéo dài đến hơn 70 năm.

Đây cũng là nơi có lăng mộ của nhà cách mạng Tôn Dật Tiên (Sun Yat-Sen), hiệu là Trung Sơn (Zhongshan). Từ trên đỉnh núi nhìn xuống thành Nam Kinh, ba bề có núi bao quanh, bề thứ tư là dòng Trường Giang mênh mông, hùng vĩ không kém gì sông Cửu Long, thật là một địa lợi, tôi nghĩ thầm. Làn gió dịu mát đã làm giảm đi cơn nóng hâm hấp của mùa Hè. Tôi nghĩ đến ông Tôn và thầm cảm phục, qua cuộc cách mạng năm Tân Hợi (1911); cùng một lúc, ông kết thúc triều đại Mãn Thanh đã cai trị Trung Hoa đến 268 năm (1644-1912), gây khổ ải cho dân lành nhiều hơn phúc lợi; và lần đầu tiên mở ra trang sử dân chủ cho toàn cõi Trung Hoa. Với công lao đó, ngay cả người cộng sản Mao trạch Đông (Mao Zedong) cũng phải nể vì và để yên cho lăng mộ của ông.

Trở lại Thượng Hải, nơi đã có những tô giới hoàn toàn dành cho người ngoại quốc trong thời thuộc địa, nơi người ta đã cho treo các bảng “Cấm chó và người Tàu!” Thật xót xa và nhục nhã cho dân tộc của các ông “con trời.” Sau này, ông bà Tôn Trung Sơn (bà Tống Khánh Linh – Song Qingling, một trong ba chị em nhà họ Tống, nổi tiếng nhất Trung Quốc ở tiền bán thế kỷ 20) đã có một ngôi nhà trong khu tô giới cũ. Ngày nay, nếu không kể Hồng Kông, Thượng Hải đang là thành phố tân tiến vào bậc nhất của Trung Quốc.

Những lúc nhàn rỗi, tôi đã có dịp nói chuyện nhiều hơn với người hướng dẫn, anh tâm sự rằng bố anh là người Việt gốc Hoa, trước năm 1954 đã từ Sóc Trăng (miền Tây) ra Hà Nội sinh sống và kết hôn với mẹ anh, một phụ nữ Việt. Sau khi miền Nam sụp đổ, gia đình anh bị khánh kiệt dần dần vì những lần nhà nước “đánh” tư sản mại bản. Ông chú của anh ở Chợ Lớn đã phải tự tử cũng vì bị tán gia bại sản. Cuối cùng, anh đã phải vượt biên qua Trung Quốc để tìm đường sống. Anh đã gặp và kết hôn với một nữ sinh người Việt gốc Hoa ở Bắc Kinh, nói tiếng Việt giỏi hơn anh – anh tự nhận như vậy. Cả hai anh chị đang làm việc cho chương trình Việt ngữ của đài phát thanh Bắc Kinh, làm hướng dẫn viên du lịch chỉ là “nghiệp dư” (nghề tay trái), anh nói như vậy.

Một hôm, anh tâm sự với tôi: “Em vẫn nhớ quê hương lắm, chẳng phải vì người ta ‘dụ dỗ’ bằng câu hát ‘quê hương là chùm khế ngọt…’ nhưng vì không quên được nơi chôn nhau cắt rốn, nơi mình đã lớn khôn.” Tôi đã thấy trong anh một người Việt nhiều hơn Hoa. Đúng rồi bạn ơi, làm sao người ta có thể quên được quê Mẹ, đất Cha?

Nhưng đã là người dân Việt thì dường như luôn mang mệnh biệt ly! Biệt ly ngay từ thuở đầu đời lập quốc, cha Lạc Long và mẹ Âu Cơ đã chẳng ly tán đó sao? Phải chăng chia ly đã trở thành định mệnh, ngàn đời gắn liền với cuộc sống của từng người dân? Nỗi đau biệt xứ của hơn ba triệu người Việt bao giờ mới nguôi? Roma, Hamburg, Aarhus, Paris, London, New York, Los Angeles, Tokyo, Bắc Kinh, Thượng Hải… đã chẳng bao giờ thay thế được cố hương. Dù đến góc biển này hay chân mây đó, vẫn chỉ làm tăng thêm niềm thương, nỗi nhớ, và hoài bão về một ngày được trở lại quê hương trong tự do, dân chủ, thái bình và thịnh vượng.

Tôi đứng dậy, lững thững bước vào chiếc phi cơ rộng lớn cho chuyến bay vạn dặm mà bên tai vẫn còn văng vẳng những vần thơ Tống Biệt Hành của Thâm Tâm, dù “chí lớn chưa về, bàn tay không…” hay “Ly khách, ven trời nghe muốn khóc…” cũng đều là tâm trạng của tôi, trong lúc này…

Tái bút: Trong lúc chờ chuyến bay ở phi trườngg Narita, Nhật Bản, (2006), tôi chợt nhớ là vừa có tin đã được vinh thăng đại tá. Năm này, chưa tới 20% trên tổng số trung tá tuyên úy ra hội đồng thăng thưởng, được chọn lựa. Có lẽ vì tôi đã phục vụ trong chiến tranh ở Iraq và một căn cứ khó khăn vào bậc nhất trên thế giới, đối với quân đội Mỹ, Djibouti ở Vùng Sừng của Châu Phi. Nhưng dù được lên cấp, tôi vẫn nghĩ là sẽ xin nghỉ hưu khi tròn 20 năm tuổi lính (2009), như đã tự hứa với lòng ở đảo Guam trước đó mấy năm. Với tôi, phục vụ trong quân đội bấy nhiêu năm là đã đủ.

5:00 AM – Ðồng hồ báo thức. Mắt cay sè vì đêm qua thiếu ngủ. Nhận nút tắt, định “nướng” thêm chút nữa. Một phút sau đồng hồ lại reo! Tụi Ðài Loan (lúc này chưa có đồ Trung Quốc) cẩn thận thật, chế đồng hồ báo thức tới hai ba lần cho chắc ăn. Hay tại nó thuộc loại “dổm” nên bộ phận nút tắt không hoạt động? có thể là cả hai. Thôi, dậy đọc kinh dâng ngày.

Mặc vội bộ quần áo từ hôm trước, xỏ đôi dép nhật, đội thêm chiếc mũ bê-rê để khỏi phải chải đầu, lẹp kẹp qua mở cửa nhà thờ. Bà White đã đứng tựa cửa nhà thờ tự bao giờ. Một trăm phần trăm gốc Phi Châu, nhưng không hiểu tại sao bà lại có tên là “Trắng.” Bà rất sốt sắng, hằng ngày đi xe bus đến dự lễ mỗi buổi sáng. Hôm nào bà đến trước khi cha mở cửa nhà thờ (ở Mỹ ít nơi có các ông từ như bên Ta), thì bà lấy làm mừng lắm. Chả hiểu tại sao, có thể bà nghĩ như thế là tỏ ra sốt sắng hoặc nhiều hi sinh hơn?

– I beat you this morning, Father. (Con thắng Cha sáng nay rồi)
– Thank Goodness that I could still get up. (Phải cám ơn Chúa là tôi còn có thể dậy được)
– You gotta rough night? (Ðêm qua Cha khó ngủ hả?)
– No, short night. (Không, mất ngủ).

Ðêm qua, 2 giờ sáng còn phải “cố vấn” cho ngươi bạn ở xa gần hai ngàn dặm, mà bên đó sau bên đây hai tiếng đồng hồ, mới 12 giờ khuya, không hiểu anh ta biết điều đó chăng? Ðại khái là ít lâu nay, anh ta ăn nên làm ra, hết mua nhà đến tậu thêm xe mới cho bà xã. Nhưng ăn no đâm ra rửng mỡ, thỉnh thoảng vì “chiều lòng” bạn bè, anh theo anh em đi “văn nghệ với các em út” tí cho vui. Không ngờ bà xã biết được. Không đánh ghen (đánh ai bây giờ? Những người đó “đi làm” có “nghiệp đoàn” đàng hoàng cơ mà!), nhưng chị ta đáp lễ anh bằng một “chưởng” thuộc loại thượng thừa với cả 12 thành công lực: “Anh ăn chả thì tôi ăn nem!” Thế là gia đình mất hạnh phúc.

Trở lại nhà xứ, tập thể dục, làm vệ sinh, tắm gội, đọc kinh sáng xong thì vừa đến giờ đi làm lễ.

7:00 AM – Thánh lễ. Ngôi thánh đường thật rộng, có đến 1200 chỗ ngồi, nhưng hôm nào có được 50 người đến dự lễ sớm đã là quí lắm rồi. Tự nhiên thấy cô đơn cùng với Chúa. Hình ảnh Chúa Giêsu cầu nguyện một mình trong vườn Giệt còn kéo dài mãi đến thế hệ này.

7:25 AM – Lễ xong (ở thời này, lễ ngày thường không có giảng) định trở lại nhà xứ nghỉ thêm một tí cho đỡ uể oải. Ở xứ Mỹ được cái có giờ giấc. Ít khi giáo dân “quấy rầy” các cha trước 9 giờ sáng hoặc sau 10 giờ đêm. Nhưng hôn nay, bà Torantino đã chờ sẵn trong phòng áo. Cha cho con một phút, con có chuyện cần lắm. Ðược bà cứ nói. Thế là bao nhiêu tâm sự đầy vơi bà tuôn ra hết. Thỉnh thoảng còn đệm thêm chút nước mắt giọt vắn giọt dài nữa. Bà than phiền rằng các con của bà không hiểu được bà. Việc bà chia gia tài cho chúng, đứa ít đứa nhiều thì quyền của bà chứ? Tại sao chúng lại than van rồi tức giận với bà? Thật là đáng buồn. Ðịnh bảo, “đừng cho đứa nào một xu, trao cho tôi hết, giúp dân tị nạn là xong.” Nhưng rồi cũng phải an ủi bà, mãi đến sau 8 giờ mới trở lại nhà xứ được.

Buổi sáng, it có thói quen ăn nhiều, nhưng một ly trà nóng, bỏ thêm chút đường, và vài miếng bánh ngọt oatmeal thì không thể thiếu.

9:00 AM – Rất may, hôm nay không phải dạy học bên trường nhà xứ. Ðịnh viết lá thư về thăm ông cụ, bà cụ còn ở lại Việt Nam, thì sực nhớ sáng nay có một đám tang lúc 9:30. Lại sắp được làm V.I.P. (Very Important Person – Người Rất Quan Trọng) đi xe limousine. Ở đây hễ có đám tang là nhà quàn gửi xe đến đón cha đi, cũng như đưa cha về. Cùng một công ty cho các đám cưới thuê xe limousine.

10:30 AM – Sau thánh lễ cầu hồn và nghi thức an táng tại một nghĩa trang gần đó, không theo thói quen ngồi băng trước tán gẫu với anh tài xế cho vui. Hôm nay, nhảy vào băng sau, dặn anh ta khi nào về đến nhà xứ thì đánh thức dậy giùm.

11:00 AM – Dàn xếp một vài công việc có tính cách hành chánh. Bà thư ký đưa cho một xấp ngân phiếu (checks) nhờ ký để trả các thứ hóa đơn nợ (bills) cũng như lương hàng tháng cho các nhân viên (bây giờ tất cả lương đều trả thẳng vào chương mục riêng của từng người). Ký giấy bông xăng cho một người lỡ đường, bảo ông ta qua trạm xăng gần nhà thờ mà đổ, cuối tháng hội Bác Ái Vinh Sơn (St Vincent de Paul Society) sẽ thanh toán với chủ trạm xăng.

12:00 (Trưa) – Dặn bà bếp dọn cơm dưới nhà bếp để vừa ăn vừa nói chuyện với bà cho vui. Cảm thấy ngại cái phòng ăn sang trọng, rộng thênh thang, nhưng phải ngồi ăn một mình trong ấy. Vừa ăn vừa nói chuyện với bà bếp vừa xem, đúng hơn là nghe tin tức buổi trưa, qua cái TV nhỏ trong phòng.

12:35 PM – Ðiện thoại riêng trong phòng reo. Thuở đó chưa có cell phone hay ngay cả caller ID.

– Hello, cha Phaolô đây, xin lỗi ai đầu giây đấy ạ?
– Thưa Cha, con.
– Xin lỗi, tôi không nhận ra tiếng của bà, xin cho biết bà là ai vậy?
– Thưa Cha, con là bà quản Th.

Cố moi óc xem trong hơn 10 ngàn giáo dân Việt Nam trong vùng, đã gặp bà quản Th. này lần nào chưa. Chịu, không nhớ được nhưng vẫn nói:

– À chào bà, bà có chuyện gì đấy?
– Thưa Cha, chúng con (đổi chủ từ qua số nhiều) có chuyện cần “ăn mày” ơn Cha.
– Có chuyện gì mà quan trọng vậy bà?
– Dạ, chúng con muốn xin Cha làm phép cưới cho hai đứa con của chúng con (cộng thêm một gia đình khác nữa).
– Ồ, việc này bà phải liên lạc với Cha quản nhiệm của Cộng Ðoàn, chứ tôi coi xứ Mỹ, đâu có làm được?
– Dạ, nhưng thưa Cha, con của chúng con (trở lại một gia đình thôi) nó có “hoa” rồi!
– Có hoa là gì hở bà?
– Dạ, chúng nó trót dại với nhau, mà Cha quản nhiệm chúng con thì bảo, hễ cặp nào bầu bì trước thì ngài bắt phải sinh xong mới làm phép cưới cho. Khổ lắm Cha ơi ! Hu..! Hu..!
– Chết thật! Thôi, để tôi liên lạc với Cha quản nhiệm xem có cách nào khác không, bà nhé! Tôi sẽ gọi lại bà, điện thoại của bà số mấy?

…Cuối cùng, Cha quản nhiệm cộng đoàn đã đồng ý cho cặp này được làm phép hôn phối ở đây (xứ Mỹ) để tránh gây gương mù.

1:30 PM – Giúp học trò các lớp nhỏ viếng Ðàng Thánh Gía – lúc đó đang trong mùa Chay – Nhìn những bàn tay nhỏ bé xinh xinh của hàng trăm con trẻ lớp mẫu giáo, lớp một, lớp hai đang chắp lại, hướng về những chặng đàng Thánh Gía để theo chân Chúa trên đường Can-vê, tự nhiên thấy lòng xúc động. Có lẽ Chúa được an ủi nơi những tâm hồn thiên thần này nhiều hơn là ở những người lớn, kể cả người đang hướng dẫn chúng. Rồi như trong một kết hợp mầu nhiệm, thấy lòng thanh thản hơn.

2:30 PM – Kiệu Mình Thánh cho các người gìa trong xứ, có nhà thì còn cả hai ông bà, sống lủi thủi với nhau. Con cái đã ra ở riêng hết, thỉnh thoảng chúng mới ghé thăm một chút. Ở nơi khác thường chỉ có một bà, hoặc một ông, sống một mình; một bà quá yếu phải có người thay phiên chăm sóc luôn luôn.

Lần nào cũng phải ngồi lại nghe chuyện của bà LeBlanc lâu hơn cả. Chồng bà qua đời đã được hai năm, nhưng lần nào ghe thăm cũng thấy bà khóc vì còn nhớ ông. Hai ông bà đã sống với nhau hơn 60 năm, khối tình ấy khó mà quên được trong một sớm một chiều, nhất là bà lại đang sống một mình.

Trên đường trở về nhà xứ, thình lình bị gọi giật lại:

– Hey, Padre. Father Paul! (Này ông Cố ơi. Cha Paul ơi)
– Hi, Bobby. What’s up, man? (Chào Bobby. Anh khỏe không?)
– I’m okay. Where’re ya’ll at? (Con thường thôi, Cha khỏe không?)
– Not bad. Thanks. (Cũng tạm được. Cám ơn)
– Padre, ya’ll wanna some crawfish? Real fresh, man? (Cha muốn ăn crawfish không? Tươi lắm Cha).
– Sure, I love Crawfish. Where you got ’em at? (Là cái chắc. Tôi thích lắm. Anh bắt ở đâu vậy?)

Kết thúc câu hỏi bằng một giới tự là ngôn ngữ đặc biệt của miền này.

Ðứng lại cả nửa tiếng để nghe anh ta kể thành tích đã ra ngoài hương lộ, bắt những con tôm đất, vỏ cứng, có thể bò như cua này. Chúng hay băng qua đường sau cơn mưa, nhiều đến nỗi anh ta phải dùng chổi để “quét” chúng vào những bao ni-lông đựng rác. Hiện anh ta còn cả mấy chục pounds (lbs) đã nấu sẵn.

5:00 PM – Ngôi nhà xứ hai tầng lầu, sáu phòng ngủ, to như một dinh thự, nhưng chỉ còn một mình; thư ký, bà bếp, mọi người đã về cả. Qua viếng Mình Thánh và đóng cửa nhà thờ.

5:30 PM – Coi tin tức buổi tối, trong khi nghĩ bụng, tối nay sẽ ăn “món gì.” Ở đây bà bếp chỉ nấu bữa trưa, buổi tối, ai muốn ăn gì thì xuống bếp tự làm lấy. Thường thì hâm lại thức ăn còn dư từ bữa trưa, đôi khi, một gói mì cũng xong.

May qúa, Cha xứ đã về. Hôm nay là ngày nghỉ của ngài; ở xứ Mỹ, mỗi tuần các Linh Mục có một ngày nghỉ. Ðiện thoại cho một người bạn và đến nhà anh ta ăn cơm. Gọi muộn, có lẽ bà xã anh ta đã phải nấu thêm cơm! Ðược cái bạn bè thân thiết nên không ngại lắm.

7:30 PM – Gặp một cặp vợ chồng trẻ, mới có con đầu long, họ đến đến được hướng dẫn về phép (bí tích) và nghi thức rửa tội cho cháu bé. Có điều hơi phiền, họ xin cho em gái của người vợ làm mẹ đỡ đầu cho con của họ, trong khi cô bé này mới có 10 tuổi, chưa đủ tuổi theo giáo luật để làm mẹ đỡ đầu. Giải thích mãi họ mới chịu nghe, nhưng vẫn còn ấm ức. Không biết khi ra về anh ta có rủa thầm “shorty little gook” không. (Thằng gook lùn. Gook, tiếng lóng để ám chỉ người gốc Á Châu cách miệt thị)
.
8:30 PM – Gặp một cặp dự bị hôn nhân, chú rể theo Công Giáo, cô dâu thuộc Tin Lành. Họ xin được làm phép cưới ở nhà thờ Tin Lành. Hỏi tại sao, họ cho biết, vì mẹ cô dâu phải xuất tiền chi phí cho đám cưới (theo tục lệ ở Mỹ, nhà trai chỉ phải lo cặp nhẫn cưới mà thôi), nên bà đòi phải làm đám cưới ở đó. (Ðiện thoại reo, anh trưởng đoàn Thanh Niên Sinh Viên Công Giáo Việt Nam muốn nói chuyện. Hẹn sẽ gọi lại). Tuy nhiên, chú rể cứ nài xin Cha đến “cùng” làm phép cưới, với vị mục sư, cho họ. Giải thích các giới hạn của linh mục khi tham gia các nghi thức hỗn hợp với các giáo phái Kitô khác và các giấy phép họ cần phải xin từ tòa Tổng Giám Mục. Âu cũng là dịp để tỏ tình “hòa đồng tôn giáo” (ecumenism).

9:00 PM – Bàn chuyện tổ chức Pic-Nic cuối tuần với anh đoàn trưởng thanh niên. (Lỡ nhận làm tuyên úy cho họ thì phải lo, kêu ca gì nữa! Cũng tại cái tội khi còn ở chủng viện bên nhà, thấy hội đoàn trẻ nào cũng nhảy vào!). Họ không có đủ xe. Hứa sẽ xin phép cha xứ cho dùng chiếc school bus của C.Y.O. (Catholic Youth Organization – Tổ Chức Giới Trẻ Công Giáo) để đưa họ đi. Nhân tiện xin ngài để ý các lớp giáo lý C.C.D. sáng thứ Bảy dùm. Cám ơn Chúa, vị cha sở nhân lành đã vui vẻ nhận lời
.
10:30 PM – Lên phòng ngủ. Ðọc kinh tối, xét mình ngay kẻo sẽ ngủ gật.

“Lạy Thày,
Một ngày của Thày đã qua. Con vẫn còn vấp phạm rất nhiều. Con đã có thể dùng những lời êm đẹp hơn với bà White sáng hôm nay, nhưng con đã hơi sẵng giọng, có thể đã làm bà tủi thân. Trong Thánh Lễ con đã chia trí mất mấy lần, toàn nghĩ đến chuyện đi ngủ lại sau khi tan lễ. Con đã có thể nói chuyện với bà Torantino lâu hơn, nhưng con đã không làm, còn có ý diễu cợt bà nữa (mặc dù chỉ trong tư tưởng). Con đã không vận dụng hết khả năng để an ủi gia đình vừa mất người thân yêu của họ. Khi biết chồng bà quản Th. hay viết thơ rơi, chống đối các cha, con đã có ý tựa như là “đáng kiếp” về nỗi bất hạnh trong gia đình bà. Bà LeBlanc hôm nay không khóc, nhưng con đã vội rời khỏi nhà bà, như sợ bà sẽ nói chuyện lâu hơn. Ðáng lẽ con phải cám ơn anh Bobby Boudreaux nhiều hơn về lòng tốt của anh ta, nhưng con đã không làm vì chỉ muốn cắt ngắn câu chuyện để về nghỉ. Con đã dùng luật Hội Thánh như khí giới để tỏ uy quyền đối với cặp vợ chồng có con xin rửa tội. Xin Thày tha thứ cho con và với ơn sủng của Thày, con có thể tiến hơn.”

Cầu cho Giáo Hội, cho Ðức Thánh Cha, hàng Giáo Sĩ, các nam nữ Tu Sĩ, toàn thể giáo dân. Cho hòa bình trên thế giới. Cho quê hương Việt Nam và các quốc gia đang có chiến tranh, nghèo khổ, đói kém. Cho các ân nhân, thân hữu và những người mồ côi tinh thần, gia đình khắp nơi. Cho các linh hồn tiên nhân, thân hữu, và những linh hồn mồi côi. Cầu cho bố mẹ và các anh chị em.

11:30 PM – Tắt đèn. Tạ Ơn Chúa, thêm một ngày nữa đã qua.

1:00 AM – Ðiện thoại lại reo. Có người hấp hối ở nhà thương, cần được xức dầu gấp. Ðang trong phiên trực tuần này, phải đi ngay. Cố nén tiếng thở dài. Tạ ơn Chúa đã cho thêm một công tác cuối trong ngày. Hay công tác đầu tiên của một ngày mới?

1:02 AM – Cha xứ gọi điện thoại liên lạc trong nhà, hỏi:

“Có phải ông Ballivierro sắp qua đời không?”
“Dạ phải”.
“Vậy để tôi đi, vì tôi quen gia đình này đã lâu”.
Vẫn tạ ơn Chúa. Amen.

(Chuyện đã xảy ra trong một Mùa Chay… lâu lắm rồi…)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s