Liên Quân Việt-Mỹ, trận chiến khu vực Tam Giác Sắt, Vùng 3 chiến thuật

Vương Hồng Anh 

* Tình hình chiến trường Miền Đông Nam phần vào cuối năm 1966:
Vào hai tháng cuối năm 1966, trong khi tại cụm tuyến phòng thủ ở khu giới tuyến và phía Tây chiến trường Trị-Thiên diễn ra hàng trăm trận đụng độ từ cấp trung đội đến trung đoàn giữa các đơn vị Việt-Mỹ và CQ, thì tại vùng 3 Chiến thuật, CSBV từ biên giới Việt-Căm Bốt đã tung nhiều đơn vị chủ lực xâm nhập vào miền Đông Nam phần, một số trung đoàn chủ lực đã tập trung quân ở chiến khu C (phía Đông tỉnh Tây Ninh), khu vực Dầu Tiếng, Bến Cát (tỉnh Bình Dương). Trong thượng tuần tháng 11, Liên quân Việt-Mỹ đã khởi động cuộc hành quân truy kích CQ ở khu vực biên giới, kịch chiến đã diễn ra giữa một lữ đoàn Hoa Kỳ và sư đoàn 9 CSBV kéo dài trong suốt ngày 6 tháng 11, kết quả 270 CQ bị hạ, 1 phản lực cơ oanh tạc và 1 trực thăng của Không lực Hoa Kỳ bị rớt vì trúng đạn phòng không của địch quân.


Cũng vào thời gian nói trên, tin tức tình báo đã ghi nhận các cuộc xâm nhập của nhiều tiểu đoàn đặc công và cơ động của CQ vào khu vực Tam Giác Sắt nằm giữa Sài Gòn và Dầu Tiếng. Khu vực này có diện tích rộng hơn 60 dặm vuông toàn rừng cây, đây là nơi du kích và đặc công CQ dùng làm điểm xuất phát cho các cược tấn công vào Sài Gòn, đồng thời cũng là căn cứ hậu cần của CQ tại miền Đông Nam phần. Vào ba tháng cuối năm 1966, từ khu vực Tam Giác Sắt, Cộng quân đã tung nhiều đơn vị đặc công phục kích các đoàn quân xa, tấn công bất thần vào các đơn vị tuần tiểu.
Để triệt tiêu cường lực của CQ tại khu vực này, bộ tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam đã họp với bộ Tổng tham mưu QL.VNCH để bàn thảo kế hoạch tấn công Khu Tam Giác Sắt. Theo nhận định của tướng Westmoreland và tướng Cao Văn Viên thì cần phải huy động một lực lượng hùng hậu tấn công từ nhiều hướng để triệt hạ toàn bộ hệ thống hậu cần và căn cứ địa của CQ tại đây. Để thực hiện cuộc hành quân đại quy mô này, bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 VNCH và bộ chỉ huy Lực lượng Hoa Kỳ tại Vùng 3 chiến thuật đã được ủy nhiệm soạn thảo kế hoạch và điều động các đơn vị thống thuộc tham chiến: Lực lượng VNCH gồm các đơn vị bộ chiến thuộc Sư đoàn 5 BB, chiến đoàn đặc nhiệm của Quân đoàn 3 và một thành phần của lực lượng tổng trừ bị tăng phái; Lực lượng Hoa Kỳ có Sư đoàn 1 và Sư đoàn 25 Bộ binh, lữ đoàn 173 Dù và Thiết đoàn 11.

* Liên quân Việt-Mỹ tổng truy kích CQ tại Tam Giác Sắt
Cuộc hành quân chính thức khởi động vào ngày 9 tháng 1/1967 sau khi Không quân chiến thuật B-52 đã dội bom liên tiếp trong 6 ngày trước khi các đơn vị bộ chiến Việt-Mỹ nhập trận. Theo kế hoạch, từng tiểu đoàn, trung đoàn, lữ đoàn Việt-Mỹ hành quân tảo thanh CQ trong từng khu vực được phân nhiệm. Trong ngày đầu tiên, CQ cố tránh né, tìm cách luồn lách trong rừng cây và các cụm tuyến giao thông hào. Trong ngày 10 và 11, liên tục cuộc truy kích, Liên quân Việt-Mỹ đã chạm súng với một đơn vị tiền tiêu của địch, bắn hạ 165 CQ tại trận địa, phá hủy nhiều cơ sở và tịch thu nhiều đạn dược nhưng chưa có đụng độ lớn. Đến ngày 14 tháng 1/1967, giao tranh đã diễn ra ở cấp tiểu đoàn tại nhiều khu vực trong vùng hành quân, tính đến ngày này, Liên quân Việt-Mỹ đã loại ngoài vòng chiến 526 CQ, bắt tại trận 72 CQ, tịch thu 289 vũ khí đủ loại và 2,500 tấn gạo.


Ngày 17 tháng 1/1967, các cánh quân thuộc lực lượng VNCH đã bung rộng để truy lùng các đơn vị CS thuộc khu Miền Đông. Trong một cuộc họp báo được tổ chức ngay tại bộ chỉ huy Hành quân, tư lệnh Sư đoàn 5 BB VNCH lúc bấy giờ là chuẩn tướng Phạm Quốc Thuần đã cho biết một số thông tin về hoạt động kinh tài của địch trong khu Tam Giác Sắt: VC có 5 xe đò và 200 xe lam ba bánh cho mướn từ 100 đồng đến 300 đồng mỗi ngày, xe đò chạy đường Sài Gòn-Lộc Ninh. Trong số 3,555 tấn gạo tịch thu được, có 2,330 tấn bị phá hủy vì mốc (giá gạo ngon vào thời gian này là 29 đồng/1 kg, tỷ giá Mỹ kim/tiền đồng VNCH trên thị trường tự do được phổ biến trên báo chí vào đầu tháng 5/1967 là: 153 đồng-155 đồng/ 1 Mỹ kim xanh; 117 đồng-118 đồng/Mỹ kim đỏ-lưu hành trong Quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam).
Ngày 20 tháng 1/1967, cuộc hành quân tại Tam Giác Sắt bước vào ngày N+11. Tính đến ngày này có 566 CQ bị hạ, 438 vũ khí bị tịch thu cùng 3,427 tấn gạo. Ngày 29 tháng 1/1967, sau 19 ngày truy kích địch cuộc hành quân của Liên quân Việt-Mỹ tại Tam Giác Sắt kết thúc với kết quả được ghi nhận như sau: 711 CS bị hạ, 488 quy hàng, 722 tình nghi bị tạm giữ, tịch thu 550 súng cá nhân và 22 súng cộng đồng, cùng 3,709 tấn gạo.
Cuộc hành quân của liên quân Việt-Mỹ tại Tam Giác Sắt là một cuộc hành quân quy mô nhất trên chiến trường miền Nam trong tháng 1/1967. Nhận định về cuộc hành quân này, đại tướng Westmoreland đã ghi nhận như sau:
Với lực lượng đông đảo như vậy, các cuộc hành quân diễn ra rất tốt đẹp. Các đơn vị có thời gian để lục soát và truy quét địch trong vòng 17 ngày (do tình hình chiến trường cuộc hành quân đã kéo dài thêm 2 ngày-chú thích của VB). Thời gian dài như vậy đủ để buộc nhóm du kích nào trú ẩn trong hầm đều phải ra đầu thú. Và tuy phần lớn địch quân đều bỏ chạy hoặc lẫn trốn, nhưng địch cũng bỏ lại 700 xác chết, tương đương với số bị bắt và quy chánh về với chính phủ VNCH theo chương trình Chiêu Hồi. Để ngựa hậu hoạn, các đơn vị phá hủy tất cả hệ thống địa đạo chằng chịt, các hầm chỉ huy, kho lương thực, vũ khí và khu ăn ở của địch mà các đơn vị phát giác được. Có thể nói kết quả xây dựng của địch trong bao năm qua đã bị phá sạch trong cuộc hành quân này. Ngoài ra còn có hơn 500 tài liệu tịch thu được. Theo đó, tôi đọc thấy Bob Hope cũng bị địch xem là kẻ thù và địch có âm mưu ám hại trong vụ nổ bom tại Khách sạn Brink.


Tài liệu còn cho thấy địch vẽ bản đồ các cơ sở, căn cứ Hoa Kỳ, các biệt thự có người Mỹ cư ngụ ở Sài Gòn. Cuối năm 1967, dân chúng tại Khu Tam Giác Sắt được lệnh di tản hết để các toán máy ủi hạng nặng-được trang bị thêm máy đốn cây để hạ cây lớn- đến san bằng cả khu này thành bình địa, sau đó dân chúng sử dụng đất này để canh tác. Cây to bị đốn ngã, khu vực này chỉ còn bụi bờ lúp xúp rất dễ bắt lửa khiến cho du kích CQ hết đất dung thân.

* Đại tướng Westmoreland nói về lực lượng du kích, đặc công của CQ tại chiến trường miền Nam:
Cũng theo ghi nhận của đại tướng Westmoreland, trong các cuộc hành quân của các đơn vị liên quân Việt-Mỹ, Không quân là nguồn hỏa lực mạnh mẽ, đồng thời các phi đoàn trực thăng cơ hữu của các Sư đoàn Lục quân đã không vận kịp thời các đơn vị đến chiến trường trong tình hình sôi động. Với sức mạnh và khả năng di quân của liên quân Việt-Mỹ thì các đơn vị chủ lực CSBV không thể nào sánh kịp, nhưng với các đơn vị du kích của CQ thì theo nhận định của đại tướng Westmoreland lại là một lực lượng đã gây khó khăn cho các đơn vị phòng ngự, vị đại tướng này đã viết như sau trong hồi ký của ông:

Du kích quân VC trái lại là một lực lượng tôi thấy khó đối phó. Với chiến thuật pháo kích bằng hỏa tiễn, súng cối và đặc công vào các căn cứ, du kích VC thường làm cho nhiều đơn vị phải mất một số quân để phòng thủ. Mặc dầu các trận tấn công này chỉ cốt gây tiếng vang, nhưng biện pháp phòng thủ nghiêm ngặt có ích gì khi dân chúng tại vùng quê sống hay chết đều tùy thuộc vào quyền sinh sát của địch ” Cảnh sát trong các khu vực được bảo đảm an ninh nhất có khi cũng không ngăn nổi một vụ cướp ngân hàng. Đầu năm 1966, VC được trang bị loại hỏa tiễn 122 ly do Nga chế tạo khiến cho việc phòng thủ trở nên gay go hơn, vì loại vũ khí này có đầu đạn giống như đầu đạn 105 ly ngắn nòng nhưng có tầm bắn xa đến 9 km. Bằng mọi cách, chúng tôi dùng đài quan sát, dụng cụ quan sát ban đêm, biện pháp phản ứng nhanh và đơn vị lưu động để đối phó với các cuộc tấn công này; tuy nhiên tôi hiểu rằng có một số trường hợp không thể tránh khỏi, nên tôi cực lực phản đối việc không cho tăng cường thêm quân phòng thủ

* Kế hoạch gia tăng quân số Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam:
Đến đầu năm 1967, lực lượng Hoa Kỳ tại miền Nam có 385 ngàn quân, nhưng lực lượng địch vẫn tiếp tục gia tăng. Gần 60 ngàn quân CSBV tương đương với 5 sư đoàn đã xâm nhập vào miền Nam trong năm 1966, nâng tổng số quân địch lên 282 ngàn. Theo đại tướng Westmoreland, mặc dầu con số ước tính của MACV cao hơn con số của CIA, nhưng ông vẫn biết con số đó gần đúng. Đại tướng Westmoreland nhấn mệnh rằng bộ tham mưu của ông không bao giờ thổi phòng con số địch vì nhiều lý do, mà đơn giản nhất không phải thổi phòng để xin quân tăng cường.
Sau khi trình bày tất cả các chi tiết trong đề nghị, đại tướng Westmoreland yêu cầu tăng quân số lên tối thiểu là 30% tức là suýt soát tổng cộng 500 ngàn. Ngoài ra ông còn đề nghị phải chuẩn bị ít nhất một quân đoàn-tức khoảng 3 sư đoàn-quân trừ bị tại Hoa Kỳ để khi cần đến. Theo đại tướng Westmoreland, điều này rất quan trọng vì với tốc độ tăng cường quân số của miền Bắc, rất cần tạo áp lực lên kẻ địch, rất cần sự phát triển của kế hoạch Bình Định và rất cần lưu ý đến mưu toan của CSBV muốn chuyển thành trận địa chiến tại các tỉnh phía Bắc thuộc Vùng 1 chiến thuật với sự khả hữu địch sẽ mở những cuộc tấn công đại quy mô. (Biên soạn dựa theo tài liệu của trung tâm Quân Sử Lục quân Hoa Kỳ, hồi ký của đại tướng Westmoreland-nhà xuất bản Thế Giới, bản tin chiến sự của Tổng cục Chiến tranh Chính trị QL.VNCH phổ biến cho báo chí).

https://vietbao.com/a50660/lien-quan-viet-my-tran-chien-khu-vuc-tam-giac-sat-vung-3

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s