NHƯ VẦNG TRĂNG KHUYA

Vi Vân.

Buổi chiều cuối năm tôi đang loay hoay quét dọn lá chết, cây khô ở vườn sau thì tai tôi bỗng nghe tiếng nhạc vang lên đâu đó.Tôi bước đến gần bờ rào và lắng nghe, thì ra tiếng nhạc xuất phát từ nhà Victor anh bạn láng giềng người Mỹ gốc Ý Đại Lợi của tôi. Tôi nhận ra đó là bài “Come Back To Sorrento”, một bản nhạc xưa tha thiết truyền cảm khi trầm, khi bổng, nghẹn ngào, mênh mang xa vắng, gợi nhớ gợi thương…khiến người nghe liên tưởng đến thành phố Sorrento nằm bên bờ biển miền Nam nước Ý với những thắng cảnh tuyệt vời, với những dãy nhà tầng tầng lớp lớp có lối kiến trúc đặc biệt mang sắc thái của Italian. Tôi biết mỗi lần Victor nghe “ Italian songs ” là anh ta đang nhớ nhà. Bỗng dưng tôi chợt thấy nhớ quê hương mình da diết. Quê tôi cũng ở miền Nam của một quốc gia cách đây nửa vòng trái đất, bên kia bờ Thái Bình Dương xa thẳm, đó là một thành phố thơ mộng, hiền hòa nằm bên bờ Hậu Giang dạt dào sóng vỗ: thành phố Cần Thơ hay Tây Đô. Nơi đó tôi đã lớn lên với nhiều kỷ niệm êm ái ngọt ngào xen lẫn đắng cay đau khổ, nhất là kỷ niệm về anh. Những gì đã xảy ra ngày ấy không phải lỗi tại anh, cũng không phải tại tôi chỉ tại định mệnh trớ trêu nghiệt ngã. Làm sao tôi quên được, nhất là những đêm ngồi bên song cửa nhìn vầng trăng khuya treo giữa đỉnh trời, hồi ức về anh càng hiện lên rõ rệt…

Ngày hôm đó sau khi thi xong Tú Tài 1, được rãnh rổi tôi sang nhà cô bạn Đan Thanh định rủ cô đi bát phố. Tôi bấm chuông, người ra mở cửa không phải Thanh mà là anh Tính anh của Thanh đang về phép, phía sau anh là một thanh niên khác. Thấy tôi anh Tính tươi cười:

– A, Quỳnh Chi! Em trông lớn quá, khác xưa nhiều. Vào nhà đi em, Thanh đang phụ mẹ làm cơm.

Tôi cúi đầu chào hai anh. Anh Tính giới thiệu:

– Đây là Quỳnh Chi bạn thân của Thanh, còn đây là anh Huấn, bạn anh. Ảnh khác đơn vị nhưng gặp nhau ở SàiGòn cũng đi phép nên anh mời ảnh về quê mình chơi cho biết miền Tây.

Tôi nhìn anh Huấn, một thanh niên có vóc dáng cao gầy, mái tóc hớt ngắn, da ngâm đen vì sương gió, đôi mắt gợn chút u buồn, trán rộng, mũi thẳng, cả người anh toát ra vẻ nghiêm chỉnh, đứng đắn, phong độ. Tôi nghĩ mình như em gái hai anh nên dạn dĩ hỏi:

– Anh Huấn thấy quê tụi em thế nào? Ở đây cao lương mỹ vị thì không dám hứa nhưng cơm gạo, cá tôm, rau quả thì bảo đảm anh tha hồ hưởng thụ.

Huấn cười rất tự nhiên:

– Cô vui tính quá. Đúng vậy đó cô, mới ở đây có ba ngày mà tôi đã thấy mê rồi, tôi thích tất cả từ phong cảnh, thức ăn, đời sống mộc mạc và sự chân thật, nhiệt tình của người ở đây. Ước gì tôi được trở thành dân Cần Thơ nhỉ?

Anh Tính chen vào:

– Chuyện đó dễ thôi. Mầy cưới một cô ở đây là trở thành dân địa phương ngay.

Huấn lắc đầu:

– Không dễ đâu. Lính tráng tụi mình lấy gì bảo đảm tương lai cho các cô? Các nàng chỉ muốn bác sĩ, kỹ sư thôi, vừa có tiền vừa khỏi lo có một ngày sẽ thành quả phụ.

Tôi tỏ vẻ bất mãn:

– Mấy anh xem thường con gái tụi em quá!

Đan Thanh từ nhà sau chạy ra:

– Ủa Quỳnh Chi, mầy đến hồi nào? Thôi sẵn đây ở lại ăn cơm với gia đình tao đi.

– Thôi nhà mầy có khách, để tao về.

Thanh phân trần:

– Khách nầy cũng như người nhà mà, đừng ngại. Anh Huấn sẽ còn ở lại chơi cho đến hết phép. Mầy quảng cáo cho ảnh biết về Tây Đô của mình đi.

– Mầy ác thiệt, tao là đứa dốt biết nói gì, quảng cáo cái gì đây?

– Mầy muốn nói gì cũng được mà, ví dụ như:

“ Tây Đô có bến Ninh Kiều
Có chàng ngư phủ chiều chiều thả câu…”

Cả nhà cười vang vì câu thơ tếu của Đan Thanh. Bữa cơm gia đình do mẹ Thanh nấu thật tuyệt, đầy đủ hương vị với cá tôm, rau củ của miền Tây. Tôi thấy anh Huấn ăn nhiều và rất tự nhiên khiến bác gái vui lắm. Anh nói:

– Bác ơi, bữa cơm hôm nay làm con cảm động quá. Con mồ côi cha mẹ sớm, nhờ bạn của mẹ con nuôi dưỡng lớn khôn và cho học hành nhưng con chỉ học đến hết Trung Học thì tình nguyện vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Mấy năm nay ở ngoài đơn vị con ăn cơm lính, ngủ bờ nằm bụi phong trần quen rồi nên chưa được hưởng không khí gia đình ấm cúng như thế nầy . Cám ơn bác nhiều lắm.

Mọi người tỏ vẻ ái ngại, thương cảm khi nghe anh nói, nhất là bác gái. Bác nhìn Huấn dịu dàng:

– Ồ, bác đâu biết cuộc đời con như vậy, bác không nghe thằng Tính nói gì cả.

Anh Tính vội bào chữa:

– Con cũng không biết đâu. Ủa còn ba mẹ mầy ở SàiGòn là sao hả Huấn?

– Như tao đã nói rồi, đó là ba mẹ nuôi thôi.

Bác gái thở dài:

– Thì ra là vậy, nhưng dù gì thì cháu cũng vẫn còn có người quan tâm nuôi nấng cháu, tuy không phải máu mủ tình thâm nhưng cũng là cha mẹ. Từ nay cháu cứ về đây nếu có dịp. Bác luôn mở rộng cửa để đón cháu, gia đình bác sẽ xem cháu là người nhà, cháu đừng ngại.

– Cám ơn bác. Huấn có vẻ xúc động .

Tôi ngồi lặng yên theo dõi câu chuyện của Huấn, tôi thấy ngậm ngùi và thông cảm cho hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của anh.

Sau bữa cơm ba mẹ Thanh vào phòng nghỉ ngơi chỉ còn bốn người trẻ chúng tôi ngồi trò chuyện cùng nhau. Anh Huấn có khiếu về ăn nói nên câu chuyện của anh dễ lôi cuốn người nghe. Anh kể về những người bạn đã ngã gục ngoài chiến trường, những trận đánh ác liệt đầy dũng cảm và kiêu hãnh, những người bạn được đặt cách lên lon ngoài mặt trận, những chuyện xảy ra trong đơn vị anh. Có một câu chuyện khá đặc biệt làm tôi và Thanh nhìn nhau mỉm cười tâm đắc. Đó là chuyện của anh trung sĩ tên Lễ cùng đơn vị với Huấn: anh Lễ để ý thương thầm một cô thợ may nơi anh đóng quân. Cô gái nầy rất đẹp nhưng hơi kiêu kỳ, từng tuyên bố chỉ lấy sĩ quan chớ “ cánh gà” thì cô không bao giờ để mắt đến. Không biết vì quá si mê cô hay muốn chọc ghẹo cô mà anh Lễ đã lén mượn cặp lon trung úy của Huấn mang vào mỗi khi đi qua, lại nhà cô. Lễ đẹp trai, lịch thiệp, dễ mến nên cô gái kia cũng xiêu lòng và kết quả thì họ yêu nhau rồi lấy nhau dù sau nầy cô biết được sự thật. Huấn đã chiếm được cảm tình của tôi và Thanh qua từng câu chuyện vui, buồn hay dí dỏm. Tôi thấy mình có nhiều thiện cảm hơn với người con trai mới lần đầu quen biết nầy.

Lần thứ nhì tôi gặp lại anh là lúc bộ ba Tính, Huấn và Đan Thanh đi ngoài phố. Anh Tính mời tôi nhập bọn và cùng vào một quán cà phê ca nhạc trên đường Nguyễn Thái Học. Vào thời kỳ chiến tranh đang lên cao điểm nầy, khắp nơi trong thành phố tràn ngập những màu áo lính của các binh chủng, những người lính xa nhà thường tìm khuây khỏa nỗi ưu tư, khắc khoải bằng tiếng nhạc lời ca, bằng chai bia đắng hay ly cà phê thơm ngát nồng nàn. Những bài tình ca chinh chiến sao buồn lê thê, ray rứt. Tôi cảm thấy thương và mến phục những người trai của thế hệ hôm nay đã lăn mình vào cuộc chiến vì lý tưởng tự do dân tộc, họ bỏ lại sau lưng tất cả: người quen, người yêu và những kỷ niệm thân ái ngọt ngào. Đôi mắt Huấn trông thật buồn, anh như chìm đắm, như thả hồn theo từng lời hát của người ca sĩ:

“… Qua ngày đó tôi nghe người nói anh lên đường xa thật rồi. Tôi buồn nhớ tim đau rạn vỡ ôi thương anh thương nhất đời…
Từ ngày xa nhau chinh chiến đưa anh đi về đâu? Vai súng từng đêm nắng mưa Khe Sanh rừng sâu. Người thân ai cũng nhắc tên anh trong thương yêu, biết giờ anh chốn nao? ” **

Tôi kéo Huấn về thực tại:

– Anh Huấn thích nghe nhạc lính lắm sao?

– Phải, vì hầu hết những bản nhạc đó nói lên tâm trạng của tụi tôi.

Tôi nói bâng quơ như chỉ để chính mình nghe:

– Chúng ta là những người bất hạnh đã lớn lên trong hoàn cảnh đất nước như thế nầy.

Anh Tính chợt nhìn ra ngoài và nói:

– Tụi mình ngồi đây đã lâu rồi, đã đến lúc phải về thôi.

Tôi chia tay với các anh, Huấn nhìn tôi thân thiết:

– Hy vọng còn gặp lại Quỳnh Chi.

Tôi chỉ cười chào anh rồi quay gót. Trên trời cao những đám mây trắng vẫn bồng bềnh trôi đi, trôi mãi… cũng như gót chân phiêu lãng của anh sẽ đi qua khắp vùng đất nước quê hương, sẽ chiến đấu sống còn với kẻ thù trên bốn vùng chiến thuật, không biết bao giờ mới được dừng lại? Một ngày man mác buồn, nhiều bâng khuâng, nhiều lưu luyến!

Những ngày đi phép của lính qua thật mau, các anh sắp sửa trở về đơn vị, tiếp nối cuộc sống với máu lửa sa trường, với hiểm nguy rình rập, với gió núi với mưa rừng. Anh Tính đề nghị bốn người chúng tôi đi chơi chung với nhau một lần nữa trước khi hai anh giã biệt. Anh Tính dặn Thanh và tôi ăn mặc tươm tất, đẹp đẽ một chút và anh làm ra vẻ bí mật không cho biết sẽ đưa chúng tôi đi đâu.

Chúng tôi đến một ngôi nhà rộng rãi ở vùng cầu Tham Tướng, tôi thấy có nhiều người lố nhố trong nhà như đang có tiệc tùng gì đó. Thì ra đây là buổi lễ đính hôn và cũng là tiệc mừng lên lon đại úy của một chàng Hải Quân bạn anh Tính. Khách khứa quá đông mà họ đều xa lạ hơn nữa không khí ồn ào không thích hợp với tôi. Đan Thanh gặp được một người quen cứ tíu tít nói cười mãi, còn tôi lấy một ly nước rồi lẫn tránh ra vườn sau cho yên tĩnh. Cuối vườn có một băng ghế gỗ nằm lặng lẽ dưới gốc cây bưởi trái sai oằn, tôi vội vàng đến ngồi xuống đó vì đã tìm được nơi thích hợp cho mình.

Tôi cảm thấy khoan khoái nhẹ nhàng, không khí mát mẽ trong lành, mùi hoa bưởi ngạt ngào theo gió. Bên cạnh vườn là con sông nhỏ yên tĩnh phẳng lặng, chiếc cầu ngắn xinh xắn bắc ngang sông nầy gọi là cầu Tham Tướng (ngày xưa con ông Mạc Thiên Tứ là Mạc Tử Sanh được chúa Nguyễn Ánh phong chức Tham Tướng trấn thủ vùng Trà Ôn, Cần Thơ. Vào năm 1784 đại quân Tây Sơn do Long Nhượng Tướng Quân Nguyễn Huệ tiến đánh vào Nam, ông Mạc Tử Sanh chống trả và tử trận tại đây nên cầu được mang tên là cầu Tham Tướng*). Tôi có cảm giác như anh linh của người võ tướng còn phảng phất trên từng hàng cây, bụi cỏ nơi đây, như có tiếng chiêng trống, tiếng quân reo trong gió…

Đang miên man suy nghĩ bỗng có tiếng bước chân tới gần, tôi nhìn lên thì ra là anh Huấn. Anh nhìn tôi mỉm cười:

– Anh biết em ra đây. Không khí đó không thích hợp với em phải không? Anh cũng vậy, là lính trận anh quen nhìn đồng đội gian khổ, hiểm nguy hằng ngày, giờ thấy cảnh nhảy nhót ăn chơi, rượu chè như vậy anh không hứng thú. Anh ngồi đây nói chuyện với em rồi chờ hai anh em thằng Tính về chung.

– Dạ cũng được, nhưng nói chuyện gì hả anh?

– Em không có chuyện gì để nói cho anh nghe sao?

Tôi nghĩ thầm “ông nầy lạ chưa, mới quen anh mấy ngày tại sao phải nói cho anh nghe chuyện của tôi chứ!”.
Thấy tôi im lặng Huấn gợi chuyện:

– Em sắp sửa lên Đệ Nhất rồi, cố gắng để vào Đại học nhé! Anh là trai thời loạn nên không học hành đến nơi đến chốn, vả lại hoàn cảnh anh cũng không thể học cao hơn nữa. Anh không biết nguồn gốc, tổ tiên mình là ai, ở đâu?

Tôi ngạc nhiên nhìn anh:

– Sao lạ vậy anh? Ba mẹ nuôi anh không cho anh biết gì hết sao?

Huấn lắc đầu:

– Không, hình như ông bà muốn giấu anh điều gì đó. Ba anh mất khi anh mới bốn tuổi trong một tai nạn giao thông, mẹ anh vì đau buồn và quá cực khổ nên bệnh nặng mà qua đời khi anh tám tuổi. Ba mẹ nuôi mang anh từ Nha Trang về SàiGòn nuôi nấng theo lời trăn trối của mẹ anh nhưng không cho anh biết thêm điều gì cả. Tuy ông bà đã nuôi anh và cho anh học hành nhưng ông bà còn có một đứa con ruột. Anh không được sự chăm sóc trìu mến của người mẹ đúng nghĩa, không được sự lo lắng, dạy dỗ, khuyên răn của người cha nên anh rất tủi thân. Sau khi xong Tú Tài phần 2 anh tình nguyện vào trường Võ Bị Đà Lạt. Ở đó anh có những người bạn chân thành, biết quý mến thương yêu nhau, có sự dạy dỗ, chăm sóc tận tình của các bậc thầy và các huấn luyện viên, chỗ đó mới thật là mái gia đình của anh. Rồi khi anh ra đơn vị thì đồng đội là những người thân của anh nên anh mến thương họ lắm.

Tôi thấy bâng khuâng thương cảm khi nghe tâm sự của anh, một người con trai mồ côi, bất hạnh nhưng đã biết chọn cuộc sống hào hùng, bất khuất. Tôi an ủi anh:

– Không sao đâu anh, em nghĩ có lẽ ba mẹ nuôi anh có điều khó nói, sợ anh buồn khi biết sự thật. Một ngày nào đó ông bà sẽ không giữ bí mật nữa đâu.

Huấn xua tay:

– Thôi bỏ qua chuyện của anh đi. Còn em, anh hỏi điều nầy nếu không thích nghe thì em đừng giận anh nhé!

– Điều gì mà anh làm ra vẻ quan trọng vậy?

– Em đã có …bạn trai chưa?

– Bạn trai à? Em có nhiều bạn trai học chung với em lắm. Có khi cả đám tụi em đi ăn uống chung với nhau, làm bài chung, sinh hoạt văn nghệ chung…

Huấn cười lớn:

– Cái cô bé nầy, không hiểu hay giả bộ ngây thơ vậy cô Tú? Anh nói bạn trai tức là người yêu đó, bạn học thì nói làm gì.

Tôi nhìn anh gật gù:

– À! Em hiểu rồi, xin thưa ông anh, em…chưa có ạ!

Huấn cười phì:

– Cô bé nầy cũng tếu lắm đó.

– Em thấy anh không vui nên chọc cho anh cười vậy thôi. Đừng suy nghĩ nhiều anh ạ! Mọi chuyện cứ xuôi theo tự nhiên, phó mặc cho định mệnh an bài đi.

– Cám ơn em. Những lời của em đã an ủi anh rất nhiều.

Sau đó cả hai chúng tôi cùng im lặng và nhìn về phía dòng sông. Buổi chiều thủy triều dâng cao gần ngập bờ, những cụm lục bình trôi bồng bềnh với nhiều hoa tím man mác buồn, nắng vàng xuyên qua tàng cây kẻ lá rơi rớt xuống mặt sông xanh tạo nên một bức tranh đầy màu sắc tương phản tuyệt vời.Tôi nghe rõ tiếng “ tích tích” của những con “tôm tích” đang rời hang ra ngoài rong chơi tìm mồi, vài chú cá lóc con, cá rô hoa vàng đang trôi lờ đờ dưới mặt nước. Không gian êm ả trầm lặng, một cơn gió nhè nhẹ lướt qua dư âm còn vương lại như tiếng thì thầm của lá, của hoa và của trái tim ai đang thở dài mong đợi.

Huấn nhìn tôi giây lát rồi đột ngột hỏi :

– Em có thể làm bạn gái của anh không? Ngày mai anh đi rồi không biết bao giờ gặp lại, nếu em đồng ý thì mình sẽ liên lạc với nhau qua thư từ.

Tôi giật mình nhìn anh và thầm nghĩ “ ý anh là gì chứ? Là muốn tỏ tình với tôi hay chỉ là bạn đơn thuần? Tại sao phải nói ra như thế?”.
Tôi hỏi anh:

– Anh nói thế là sao, em không hiểu?

– Nghĩa là anh thích em, anh muốn em làm bạn gái của anh, có được không? Và nếu em chấp thuận thì em không được thích chàng nào nữa hết.

– Em không hứa với anh đâu, nhưng anh cứ viết thư cho em nếu có thì giờ. Còn chuyện tình cảm thì cứ để tự nhiên đi anh, nếu có duyên phận với nhau thì chắc sẽ được, nếu không thì mình cũng là anh em, anh bằng lòng chứ?

– Dĩ nhiên là anh phải bằng lòng chiều theo ý của em thôi.

Cả hai chúng tôi cùng cảm thấy nhẹ nhàng, cởi mở. Tính và Thanh cũng vừa ra đến và bốn người chúng tôi cùng nhau quay về nhà.
Buổi chiều chầm chậm xuống, một buổi chiều thật đẹp, thật đáng ghi nhớ với tôi, có lẽ vì sự hiện diện của anh đó Huấn ơi!
Đêm ấy tôi cứ thao thức mãi, tôi bước đến bên song cửa nhìn ra. Ngoài kia vầng trăng khuya nằm bơ vơ, cô độc cuối trời xa, tôi nghĩ đến Huấn, anh cũng cô đơn, lẻ loi như vầng trăng khuya đó. Nhưng dù ánh trăng có yếu ớt, mờ nhạt cũng đủ soi đường đưa lối cho tôi tìm đến anh. Có lẽ tôi đã bị hoàn cảnh, tâm tình anh làm cảm động mất rồi, tôi thấy mình không thể để anh chìm đắm trong buồn tủi, phải giúp anh có niềm vui và hy vọng để vượt qua bao khó khăn trong cuộc sống.

Hôm sau Huấn lên đường trở về đơn vị, tôi tiễn anh ra tận bến bắc Cần Thơ. Anh đưa mắt nhìn sông Bassac rộng mênh mông bát ngát, sóng nhấp nhô từng đợt xô đuổi nhau, rồi cất giọng buồn buồn:

– Quê của em êm đềm, thơ mộng quá! Tiếc là anh không được ở lại lâu hơn, không biết đến bao giờ anh mới có được một mái gia đình êm ấm. À, em biết không đêm qua anh không ngủ được, nhìn vầng trăng khuya lẻ loi chợt thấy thương cho thân phận lạc loài của mình, anh thấy mình cũng cô đơn và tội nghiệp như vầng trăng đó. Anh có lãng mạn quá không em? Anh thật đáng buồn cười mà!

– Ồ, sao có sự trùng hợp kỳ diệu như vậy? Đêm qua em cũng nhìn trăng mà liên tưởng đến anh, nhưng anh sẽ không như vầng trăng lẻ loi đó vì anh còn người em gái như em. Em sẽ an ủi, chia sớt tâm sự cho anh không còn thấy cô đơn nữa. Anh phải mạnh mẽ, cứng rắn nhìn vào thực tại và hướng đến tương lai, là một sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hòa anh không thể yếu mềm, ủy mị như thế được. Em sẽ ở bên anh, sẵn sàng ủng hộ anh.

– Có thật không em?

– Anh không tin em sao?

Huấn gật đầu và nói nhanh:

– Anh tin chớ, anh rất tin tưởng ở em.

Chiếc phà sắp sửa rời bến, anh xách balô lên nắm tay tôi từ giã:

– Thôi anh đi đây. Anh sẽ viết thư cho em sớm, nhớ trả lời anh nghe cô bé.

– Dạ, anh đi bình yên.

Anh bước xuống phà và còn quay lại nhìn tôi lần cuối. Tôi đứng lặng nhìn theo cho đến khi chiếc phà trôi ra giữa dòng sông, xa dần, xa dần…tôi lửng thửng ra về và chợt thấy tâm tư mình nghẹn ngào, xúc động.

Rồi những lá thư qua lại giữa Huấn và tôi đều đặn, tình cảm cũng nẩy nở theo thời gian. Từ lúc nào chúng tôi đã thành người yêu của nhau mất rồi, một tình yêu tinh khiết nhưng cũng đủ ngọt ngào, thắm thiết. Tôi biết Huấn thật sự vui vẻ, thật sự không còn mặc cảm lạc loài, cô đơn nữa khi có tôi trong tim. Gia đình tôi không hay biết gì về mối quan hệ tình cảm giữa tôi và Huấn. Hình như một nửa linh hồn tôi đã theo gót chân người ngoài xa xôi vạn dặm, tôi chỉ sống bằng niềm vui, nỗi buồn của anh qua những lá thư xanh.

Khoảng một năm sau, anh Phùng con bác Ba tôi dẫn về một người anh họ của tôi đã thất lạc rất nhiều năm.Tôi có nghe ba tôi kể, ông Nội tôi có sáu người con trai, hai gái. Ba tôi thứ tám là con Út. Bác thứ năm của tôi ngày xưa yêu một cô gái người miền Trung vào Nam sống với bà con. Ông Nội tôi nhất quyết không cho hai người kết hôn dù cô gái ấy đã lỡ mang thai với bác Năm. Vì muốn bảo vệ người yêu và đứa con còn trong bụng mẹ, bác tôi phải bỏ nhà dắt người yêu đi thật xa để sống với nhau. Bác có để lại một lá thư xin lỗi ông Nội và chờ đến khi ông tha thứ sẽ mang vợ con về tạ tội. Nhưng ông Nội tôi giận lắm tuyên bố từ bỏ bác Năm. Các bác và ba tôi cố công tìm kiếm nhưng không ai biết hai bác đã đi đâu cả, đến ngày ông Nội qua đời bác Năm cũng không về chịu tang cha mình. Thời gian trôi qua lâu lắm rồi, nay bỗng nhiên người con trai của bác Năm tìm về quê nội để nhận tổ quy tông, cũng may bác Ba tôi còn ở đó giữ nhà Từ Đường nên anh ấy mới dễ dàng tìm kiếm. Anh Phùng dẫn người anh họ đó đến nhà tôi để cho anh biết gia đình chú Út ( ba tôi).

Khi tôi đi học về đến nhà nghe kể chuyện đó, tôi thật vui mừng vì mình sẽ có thêm một người anh. Anh Hai tôi đã đưa anh ấy ra ngoài chơi, trong khi tôi đang hồi hợp chờ được gặp mặt anh họ thì các anh về. Các anh vừa bước vào nhà tôi mừng rỡ chạy ra chào, khi tôi ngước nhìn anh, tôi bỗng lảo đảo, tôi cảm thấy như bầu trời đang sụp xuống, đất bằng dậy sóng và trùng dương đang nổi trận cuồng phong vì người anh họ của tôi không phải ai xa lạ mà chính là…Huấn. Tôi vịn tay vào thành ghế để đừng bật té. Mặt Huấn cũng tái xanh, anh lắp bắp:

– Em là…

Anh Hai tôi nói:

– Nó là Quỳnh Chi, em gái của anh đó.

– Trời ơi! Thật trớ trêu. Huấn chỉ kêu lên có thế.

Tôi không nói được câu gì vội vàng chạy vào phòng lăn mình xuống giường khóc tức tưởi. Tôi ngỡ ngàng, tuyệt vọng, đau đớn và xấu hổ vì đã yêu người anh họ của mình. Tôi không biết ngoài kia Huấn ra sao, chắc anh cũng có cảm giác giống như tôi. Tôi cứ nằm mãi trong phòng không bước ra, mẹ tôi vào bảo:

– Con làm sao vậy Chi? Có anh tới chơi, nó thất lạc bao nhiêu năm rồi giờ mới tìm về gia đình sao con không ra mừng anh?

– Dạ, con hơi mệt, lát nữa con sẽ ra.

– Ừ, ra mau nghe con.

Trời ơi, ai hiểu được tôi lúc nầy trừ Huấn ra, có lẽ anh còn đau khổ hơn tôi. Định mệnh cay nghiệt, phủ phàng, tàn nhẫn quá với chúng tôi. Ngày anh tìm được cội nguồn, được nhận tổ quy tông cũng là ngày anh mất đi lẽ sống, mất niềm hy vọng, mất đi một mối tình đang nồng thắm, mối tình mà anh nâng niu trân quý nhất đời anh.

Những ngày Huấn ở lại nhà tôi được ba mẹ và anh em tôi tiếp đãi ân cần, niềm nở, chỉ có tôi cố tránh mặt Huấn. Có lẽ mọi người đã nhận ra điều đó nhưng không ai biết tại sao tôi lại làm thế. Một đêm kia không chịu đựng được nỗi đau khổ trong lòng tôi hẹn Huấn ra ngoài để nói chuyện. Tôi đưa anh đến một công viên vắng vẻ bên bờ sông để không ai nhìn thấy. Tôi đã khóc bên Huấn rất nhiều, anh cũng đau buồn không kém. Những ngày qua chúng tôi cố tránh mặt nhau vì trong lòng cả hai đều đớn đau, tan nát. Huấn lấy khăn lau nươc mắt cho tôi và an ủi:

– Thôi em à, số phận đã an bài như vậy chúng ta phải đành chấp nhận. Lần đầu tiên anh tha thiết yêu một người con gái, anh đã nghĩ đến chuyện gầy dựng tương lai, anh xây đắp bao mộng đẹp. Anh đã tìm được niềm vui, tìm được ý sống, anh nghĩ mình sẽ được hạnh phúc nhưng trái ngang từ đâu chợt phủ xuống đầu hai đứa. Anh đau khổ vô cùng, oán trách trời cao quá bất công với anh, suốt đời anh gặp toàn đắng cay, bất hạnh. Anh biết em cũng không khác gì anh, nhưng anh không biết dùng lời gì để an ủi em trong lúc nầy.

– Em đau đớn lắm anh biết không, em không dám tin đó là sự thật. Làm sao em có thể chịu đựng được khi người mình thương yêu, kỳ vọng một ngày mai tươi đẹp nay bỗng nhiên trở thành anh họ của mình, cùng huyết thống với mình, chúng ta đâu thể bỏ đi “luân thường đạo lý” phải không anh?

Huấn dỗ dành tôi thật nhiều nhưng lòng tôi vẫn nặng trĩu xót xa, cay đắng. Tôi nói với anh:

– Anh à, anh có thể hứa với em một việc không?

– Việc gì đó em?

– Anh hứa…đừng vội yêu hay cưới một cô gái khác, em không thể chịu đựng nỗi cảnh đó đâu. Hãy cho em một chút thời gian để điều chỉnh lại tình cảm của mình, cho em lấy lại sự bình thản của tâm hồn.

Huấn gật đầu:

– Dĩ nhiên là anh hứa với em rồi. Làm sao anh có thể yêu thương ai trong khi em đau khổ như vậy chứ! Em yên tâm, anh sẽ không cưới vợ trước khi em lấy chồng.

– Em sẽ không lấy chồng đâu.

Ánh mắt u buồn của Huấn nhìn ra ngoài kia, dòng sông dưới cầu Nhị Kiều âm thầm chảy trong bóng đêm xuôi về một nơi nào xa xăm lắm, vài chiếc thuyền con trôi lững lờ theo con nước, mờ nhạt dưới bóng trăng khuya.Tiếng mái chèo chậm rãi khua nhẹ vào mặt nước tạo nên một thứ âm thanh huyền hoặc, liêu trai như tiếng những giọt nước mắt rơi trong đêm tiễn đưa buồn của nàng thục nữ. Giọng anh nhẹ như hơi thở:

– Rồi thời gian sẽ giúp em quên. Anh mong em sớm tìm được hạnh phúc.

– Chuyện đó có thể được sao anh? Giờ đây tim em còn rỉ máu, em chỉ muốn anh mãi thuộc về em dù với hình thức nào: người yêu hay anh họ.

Huấn đưa tay vỗ đầu tôi:

– Được rồi, ngoan đi cô bé. Anh sẽ mãi là anh của em.

Tôi thấy vơi được phần nào phiền muộn, tâm tư bớt đi một chút xót đau, ray rứt. Tôi ngước nhìn lên, vầng trăng khuya vẫn lẻ loi cô độc ở một góc trời. Đó là anh phải không Huấn? Anh mãi cô đơn thế sao? Tôi nói với Huấn:

– Anh biết không, em đã từng ví anh như vầng trăng khuya. Em tự hứa với lòng sẽ giúp anh không còn cô đơn, yếu ớt, nhạt mờ, nằm bơ vơ ở khoảng trời xa xa đó nữa. Nhưng bây giờ em đành bất lực rồi, anh vẫn như vầng trăng kia, không có gì thay đổi.

– Không đâu, anh đã thay đổi rồi, anh đã có được đại gia đình, anh đã có tổ tiên, có cội nguồn.

– Anh nói không sai, ít ra anh còn được niềm an ủi nho nhỏ đó. Nhưng có điều đáng buồn là…chúng ta sẽ mất nhau từ đây.

Huấn thở dài yên lặng thật lâu… rồi anh nắm tay tôi đứng lên, chầm chậm bước đi. Đêm buồn hoang vắng cô liêu, đường về hun hút thênh thang, gió rì rào như nỉ non than khóc, như nuối tiếc cho một cuộc tình ngang trái, bẽ bàng.Trên cao vầng trăng khuya vẫn đồng hành, vẫn soi sáng, vẫn theo dõi chúng tôi qua từng bước chân rã rời, tuyệt vọng. Tôi mong đêm nay sẽ dài vô tận, mong trời đừng mau sáng để tôi còn được gần anh thêm chút nữa vì mai đây…Ôi! Ai biết được ngày mai!

Hôm sau khi tôi thức dậy thì Huấn đã đi rồi, đi không một lời từ giã. Tôi giận anh quá vô tâm, hờ hững, nhưng mẹ tôi bảo anh có để lại cho tôi mấy dòng chữ:

“ Quỳnh Chi,
Tạm biệt em anh đi, đi khi trời chưa sáng tỏ, khi vầng trăng khuya còn lơ lững giữa khung trời, vầng trăng kỷ niệm của anh em mình. Anh hy vọng nó sẽ theo dõi và soi sáng đường em đi cho tới khi nào em tìm thấy hạnh phúc thật sự. Ngày đó anh sẽ về để chúc mừng em…”

Tôi thẩn thờ buông rơi tờ giấy và lẩm bẩm:

– Không đâu, vầng trăng ấy đã đi rồi, đã mờ khuất cuối chân trời, không còn nữa. Vĩnh biệt anh, Huấn ơi!

Từ đó Huấn không có tin tức, thư từ gì cho tôi cả. Tôi có muốn kêu gào, than khóc cũng không ai quan tâm, không ai hiểu được niềm u ẩn trong tôi.
Hai năm trời tôi mang nỗi buồn thầm lặng, bao nhiêu mùa trăng qua rồi mà người đi vẫn biền biệt ở phương nào, tôi khắc khoải chờ mong, tôi ngóng tin mòn mỏi. Một ngày kia tôi được tin anh từ bác Ba, bác Ba đã nhận xác anh ở Bệnh Viện 3 Dã Chiến- Mỹ Tho. Anh bị thương nặng trong cuộc hành quân vào mật khu Việt Cộng ở Đồng Tháp Mười, được đưa về bịnh viện ở Mỹ Tho và trút hơi thở cuối cùng nơi đó. Thì ra anh đã để địa chỉ liên lạc với gia đình bác Ba, chứng tỏ anh vẫn muốn là người của gia tộc tôi, là anh của tôi. Bác Ba và ba tôi không an táng anh trên vùng đất quê nội mà lại đưa anh nằm trong Nghĩa Trang Quân Đội- Cần Thơ, bác Ba cho là để anh nằm chung với anh em cùng chiến tuyến anh sẽ thấy ấm cúng hơn. Một chiếc quan tài phủ lá Quốc Kỳ với vòng hoa buồn lặng lẽ đưa anh đến tận ngút ngàn xa, hai hàng lính âm thầm tiễn biệt đồng đội, những phát súng rền vang đưa người chiến sĩ anh hùng giã từ cuộc chiến lần cuối… Tôi không còn biết được cảm giác của mình ra sao lúc đó. Buồn bã kia nối tiếp đớn đau nầy làm tôi không còn nước mắt để khóc cho một cuộc chia ly vĩnh viễn, tôi chỉ biết rằng tôi sẽ không còn ai để chờ, để đợi, để hy vọng một ngày ai kia trở lại. Như ý nguyện của anh, bác Ba đã đem linh vị anh đưa về nhà Từ Đường cùng thờ chung với tổ tiên.

Từ đó đời tôi khép kín như cổng chùa hoang, tôi né tránh bạn bè và những người quen biết, tôi sống âm thầm buồn bã như chiếc bóng và quên mất tuổi đôi mươi hoa mộng của mình. Tôi không thể phân biệt được tình cảm của tôi đối với Huấn là tình yêu ngày nào còn đọng lại hay niềm thương mến, luyến lưu người anh cùng huyết thống. Tôi chỉ biết mất anh rồi tôi thấy đời mình rơi xuống vực sâu đen tối, tôi không còn sức lực để đứng lên. Ngoài thời gian sống với gia đình tôi chỉ biết đi chùa nghe kinh kệ để tìm sự bình an cho tâm hồn, để vơi đi niềm đau khổ và cuối tuần thì đến nghĩa trang thăm anh. Nhiều khi tôi ngồi rất lâu bên mộ anh than thở, thì thầm tâm sự, chia xẻ buồn vui cùng anh, qua màn hương khói nhạt mờ tôi thấy anh đang mỉm cười như vỗ về, như an ủi đứa em gái đáng thương, tội nghiệp.

Thời gian lặng lẽ đi qua, tôi như cánh bèo giữa dòng sông cứ trôi mãi, trôi qua bao nhiêu bến bờ vẫn không dừng lại một nơi nào. Rồi đến một ngày kia cuồng phong bão tố từ đâu ập đến làm cho quê hương non nước tôi tan tành sụp đổ, và tôi phải đành rời xa xứ sở, bỏ lại sau lưng tất cả…
* * *
Bài hát từ nhà Victor vẫn còn vang vang bay sang, những lời khẩn khoản thiết tha, van xin người đừng bỏ đi, người hãy quay trở về vì sự ra đi nào cũng để lại luyến lưu, trống vắng, đớn đau cho cảnh cũ, người xưa…

“…Now I hear that you must leave me.
…Then say not good-bye
Come back again beloved.
Come back to Sorrento or I must die.”

Lòng tôi bùi ngùi xúc động và như có một động lực nào đang hối thúc, giục gĩa tôi hãy trở về cố hương. Mặc dù nơi ấy bây giờ đã đổi thay nhưng với tôi vẫn còn, tôi còn đó…

Quê hương ơi, tôi sẽ trở về, tôi phải trở về một lần để tìm lại vầng trăng khuya năm ấy, vầng trăng kỷ niệm của anh và tôi. Vầng trăng mờ nhạt, mong manh, huyền bí từng soi đường dẫn lối cho những bước chân buồn rời rã của hai đứa lang thang suốt đêm dài đầy nước mắt.

Tôi sẽ trở về để thăm lại người anh thương mến đang yên giấc miên trường dưới vầng trăng khuya nơi quê cũ.

Vi Vân.

*Sau năm 1995 nhà cầm quyền Cộng Sản đã đập bỏ cầu Tham Tướng và lấp bằng khúc sông đó để xây cất, mở rộng thành phố. Một di tích lịch sử đã có trên 200 năm bị xóa mất vĩnh viễn.
** Giọt Buồn Không Tên – Anh Bằng.

http://batkhuat.net/van-mhuvang-trangkhuya.htm

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s