TÌNH HÌNH VIỆT NAM VÀ MỸ VÀO CUỐI NĂM 1974

BÙI ANH TRINH

Đầu năm 1974

Tài liệu của CIA : “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự.  Nhưng … . kết quả chỉ đưa tới bí lối” ( Frank Snepp, Decent Interval, trang 95 ).

John Murray là Tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam. Từ đầu năm 1974 ông và Bộ tham mưu của ông phải tính toán sổ sách về viện trợ quân sự cho Nam Việt trong nửa cuối 1974 và đầu năm 1975.  Tuy nhiên Ngũ Giác Đài đã cho ông biết trước là mức viện trợ có thể dưới 700 triệu đô la; nhưng theo tính toán của Murray thì 700 triệu chỉ đủ giữ được Vùng 4.

Ngày 16-8-1973 John Murray họp buổi họp chót với Tướng Cao Văn Viên và một số tướng lãnh của Bộ TTM.  John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2, và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4 tùy theo mức viện trợ quân sự của Mỹ. Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.

Giữa năm 1974

Giữa năm 1974, Tổng thống Mỹ Nixon đệ trình Quốc hội Mỹ bản dự thảo hiệp ước giao thương giữa Mỹ và Liên Xô.  Đây là kết quả thương lượng ngầm giữa Nixon và LX vào năm 1972.  Năm đó Nixon nhờ Liên Xô ép buộc Hà Nội phải đình chiến và ký hiệp ước ngưng bắn.  Để đổi lại, Mỹ sẽ mở cửa trao đổi thương mại với LX.

Quốc hội Mỹ đoán biết còn nhiều thỏa thuận ngầm khác nữa giữa Nixon và LX cho nên họ bác bỏ thẳng thừng bản dự thảo Hiệp ước thương mại Xô – Mỹ để buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận khác.  Dĩ nhiên Nixon dùng đặc quyền hành pháp để từ chối.

Nhưng các đối thủ của Nixon có một cách khác, đó là triệu tập một Ủy ban điều tra đặc biệt về sai phạm của Nixon trong vụ nghe lén Watergate; các công tố viên của ủy ban điều tra có quyền bắt Nixon phải đưa ra tất cả những cam kết ngầm với Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa, và cả Hà Nội vào năm 1972.

Nixon đành phải từ chức để khỏi phải ra tòa bởi vì ông đã lén thỏa thuận với đối phương mà không xin phép Quốc hội.  Một khi Nixon từ chức thì chính phủ Mỹ sẽ không phải chịu trách nhiệm về những cam kết riêng của cá nhân ông.

Trước đó Nixon cũng sắp xếp cho Phó tổng thống Spiro Agnew từ chức để cho sau này chủ tịch Hạ viện Geral Ford lên thay chức Tổng thống mà không phải chịu trách nhiệm về những gì Nixon đã ký kết riêng. ( Nếu Agnew thay Nixon thì chính phủ Mỹ vẫn phải chịu trách nhiệm về những ký kết của TT Nixon trong thời gian Agnew làm Phó cho Nixon ).

Sau khi Nixon từ chức, Quốc Hội HK ra đạo luật cắt giảm viện trợ quân sự cho VNCH trong tài khóa 74-75 xuống còn dưới 1 tỉ đô la, nghĩa là chấp nhận cho VNCH sụp đổ. Rồi 9 ngày sau khi Nixon từ chức thì Quốc Hội HK biểu quyết chung cuộc ngân sách 74-75 cho VNCH là 700 triệu thay vì 1 tỉ.  Nhưng theo tính toán của Ngũ Giác Đài ( Tướng John Murray ) thì với 700 triệu VNCH chỉ giữ được Vùng 4.

Cùng ngày đó tại Hà Nội, Lê Duẩn ra lệnh cho Tướng Hoàng Văn Thái lên kế hoạch đánh chiếm Miền Nam.  Nghĩa là Lê Duẩn hiểu số tiền “bổi thường chiến tranh” của Nixon trở thành mây khói.  Giờ đây Kissinger chỉ có thể giúp HN chiếm lấy Miền Nam để bù lại việc HN chịu ký kết Hiệp định Paris mà không nhận lại được một chút gì như Nixon đã từng hứa hẹn trên giấy trắng mực đen.

Hà Nội cay đắng 

Sau khi bác bỏ dự luật trao đổi thương mại với LX, Quốc hội Mỹ thông qua đạo luật Jackson- Vanik, cấm chính phủ Mỹ buôn bán với các nước Cọng sản.  Nghĩa là những cam kết của Nixon tại Mạc Tư Khoa vào năm 1972 sẽ không bao giờ được thi hành.  Vì vậy mà cuối năm 1974, Đại tướng Kulikov của Liên Xô đến Hà Nội để thúc giục Hà Nội gây chiến trở lại.

Theo như 7 mục, 23 điều khoản  của Hiệp định Paris thì Hà Nội ngưng bắn vô điều kiện, trao trả cho Mỹ 591 tù binh Mỹ vô kiện, trao trả tù binh VNCH với điều kiện VNCH trao trả 28 ngàn tù binh Bắc Việt.  Trong khi đó Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không phải từ chức, 38 ngàn tù chính trị của mặt trận GPMN vẫn tiếp tục bị giam giữ.

Đặc biệt là “ngưng chiến da beo”, nghĩa là quân đội CSVN vẫn ở trên rừng và quân đội VNCH kiểm soát thành thị và thôn quê Nam Việt Nam.  Biên giới hai miền Nam Bắc vẫn được tôn trọng theo như Hiệp định Geneve 1954.

Nhìn bề mặt của Hiệp định Paris vô lý như vậy cho nên giới quan sát quốc tế đoán là bên trong phải có một mật ước riêng.  Quả nhiên sau này vào ngày 19-5-1977 Tổng thống Cater của Mỹ xác nhận có một mật ước riêng đằng sau Hiệp định Paris được Nixon ký với Hà Nội 4 ngày sau khi ký kết Hiệp định Paris 1973.  Và đến tháng 10 năm 1988 Hà Nội cho công bố trên đài phát thanh toàn văn bản mật ước đó.

Theo tinh thần bản mật ước thì Mỹ sẽ chung cho Hà Nội 3,25 tỉ USD viện trợ tái thiết Bắc Việt sau chiến tranh. Và viện trợ bước đầu 1,5 tỉ USD cho kế hoạch hỗ trợ phát triển kinh tế hậu chiến của Bắc Việt. ( Tài liệu của CSVN :  Lưu Văn Lợi, Những Cuộc Thương Lượng Giữa Lê Đức Thọ & Kissinger Tại Paris, phát hành năm 1998 ).

Chính vì mật ước này mà Nixon mạnh dạn ký một mật ước khác với Nguyễn Văn Thiệu, cam kết sẽ tấn công Bắc Việt nếu Hà Nội vi phạm Hiệp định Paris 1973. Nixon biết chắc Hà Nội không dám gây chiến trở lại bởi vì LX và TC đều đã ngưng viện trợ vũ khí, Hà Nội không còn khả năng theo đuổi chiến tranh;  họ bắt buộc phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định để được hưởng số tiền bồi thường chiến tranh của Mỹ trên danh nghĩa giúp đỡ tái thiết và phát triển.

Tuy nhiên toan tính của Nixon thất bại vì Quốc hội Mỹ nhất định không chi một đồng nào cho Hà Nội, viện lý do theo Điều khoản 21 của Hiệp định Paris thì Mỹ chỉ “hứa” viện trợ tái thiết Bắc Việt là vì nhân đạo chứ không phải là một điều kiện bắt buộc của Hiệp định. Thực ra QH Mỹ không chi một đồng nào là để ép buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận ngầm giữa Nixon với Hà Nội đằng sau HĐ.Paris.

Và rồi cuối năm 1974 Liên Xô cử tướng Kulikov sang Hà Nội xúi đánh chiếm Miền Nam thì có nghĩa là Hiệp định Paris coi như tờ giấy lộn.  Rốt cuộc Hà Nội biếu không 591 tù binh Hoa Kỳ mà chẳng nhận được đồng nào,  suốt 10 năm chiến đấu gian khổ, hằng triệu người chết, hằng chục tỉ đô la nợ chiến phí… đến nay chỉ còn là con số không ( sic ).

Lê Duẩn và tập đoàn lãnh đạo CSVN thực sự trắng mắt.  Dân chúng Miền Bắc đã kiệt sức. Trong 5 năm nay nhà nước đã đóng cửa tất cả 18 trường đại học và cao đẳng.  Bòn vét nhân lực đến độ phải gọi lính ở tuổi 16.  Tại Miền Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa…  thì lấy đâu ra nhân lực để gây chiến trở lại, cho dầu Liên Xô tái cung cấp vũ khí và chiến phí.

Sài Gòn hoang mang

https://c2.staticflickr.com/4/3546/3771030745_e687a20090_z.jpg?zz=1

Ngày 24-12-1974, trong một buổi tiệc mừng Giáng sinh được tổ chức Tại Bộ Tổng tham mưu.  Tướng Smith, Chỉ huy trưởng cơ quan quân sự Mỹ tại VN tiết lộ :

 “Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300 triệu Mỹ kim để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40 ngàn sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ” ( Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, Bản in lần 4, trang 264 ).

Rõ ràng kịch bản bỏ rơi Miền Nam đã được Mỹ lên giàn vào cuối năm 1974 chứ không phải là sau khi mất Ban Mê Thuột.  Người ta đã tính toán sẵn kế hoạch để cho VNCH sụp đổ trước tháng 6 năm 1975,  kể cả ước tính trước số tiền chi dụng cho kế hoạch.

Và ngày 23-2-1975 một phái đoàn Quốc hội Mỹ sang VN để thăm dò tình hình chiến sự. Tổng thống Thiệu yêu cầu Phòng tình báo của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại VN (DAO) chuyển cho ông những tin tức về tình hình tiếp tế, tiếp viện của CSVN trong năm 1973 và năm 1974 để ông thuyết trình cho phái đoàn Mỹ.

Ngày 20-2-1975 TT Thiệu nhận được bản phân tích do Trưởng phòng tình báo Mỹ tại VN là Đại tá William E.Legro chuyển qua Phòng tình báo Bộ TTM như sau : “Năm 1974 Hà Nội nhận được 3 triệu 800 ngàn tấn hàng ( Nguyễn Tiến Hưng, Hồ sơ mật dinh Độc Lập, trang 763 ).

Đây là con số bịa đặt khổng lồ mà Legro đưa cho Tổng thống Thiệu để cho “Phái đoàn Quốc hội Mỹ  nghe được thì “dông một mạch không ngoái đầu trở lại”;  và về tới Mỹ thì dứt khoát bỏ quách VNCH cho xong.  Mọi người đều hiểu rằng Hà Nội chỉ cần chuyển một nửa hay một phần tư số đó vào Nam thì Miền Nam sẽ “chìm xuống dưới mặt biển Thái Bình Dương” (sic).

Nhưng sự thực thì sao? Hồi ký của Tướng CSVN Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng Quân đội CSVN cho biết : “ Về mặt hàng quân sự và dân dụng, năm nay ( 1974 ) Trung ương sẽ chi dụng cho B.2 tổng cộng là 22.000 tấn, trong đó có 12.000 tấn hàng quân sự” ( Những Năm Tháng Quyết Định, trang 86 ).

B.2 là mặt trận lớn nhất của Trung ương Cục Miền Nam, còn 3 mặt trận kia chỉ bằng một nửa B.2.  Nhưng cho tính là bằng nhau đi nữa thì cao lắm cũng chỉ là 100 ngàn tấn.  Lấy 100 ngàn tấn so với 3 triệu 800 ngàn tấn theo báo cáo của CIA thì rõ ràng là bịa đặt nhằm làm cho QH Mỹ đi tới quyết định bỏ rơi VNCH.  Và cũng làm cho Tổng thống VNCH không còn lòng dạ đâu mà lên kế hoạch chống đỡ.

Tình thế của Mỹ

Ngày 16-8-1974, Tướng John Murray, Tư lệnh quân Mỹ tại VN đã dự phiên họp cuối với Tướng Cao Văn Viên và các tướng VNCH.  Murray  cho biết năm 1975 Mỹ chỉ viện trợ cho VNCH đủ để giữ được Vùng 4.  Sau cuộc họp đó Tướng Murray giải ngũ, lên đường về nước.

Trên đường về nước ngang qua Honolulu, ông nhân được điện thoại của người thay thế ông là Tướng Homer Smith.  Murray kể lại :

Smith đã bắt đầu nhận ra những gì khủng khiếp đang chờ đón tại Việt Nam, ông ta nói : Tôi mới bỏ ra 2 ngày để nghe thuyết trình ( về tình hình Việt Nam ). Và Chúa ơi…! Tôi có cảm tưởng như vừa trải qua một cuộc tra tấn khủng bố”.  Nghĩa là tình cảnh VNCH chỉ có chết chứ không mong cứu vãn.

Murray đáp lại với giọng bi thảm : “Rồi đây ông sẽ thấy, càng xa Washington ông càng gần đến sự thật” ( Frank Snepp, Decent Interval, trang 115 ).

Cũng theo Decent Interval : “ Theo như tính toán của Murray từ đầu mùa hè thì mức viện trợ 700 triệu USD có nghĩa là đặt dấu chấm hết cho chế độ Sài Gòn.  Thế mà giờ đây lại phải đau đáu trông chờ vào một gói viện trợ 450 triệu thì quả là một cơn đại ác mộng” ( trang 113 ).

Ngày 2-1-1975, Quốc hội Mỹ bác bỏ ngân khoản viện trợ bổ sung 300 triệu USD cho VNCH.  Hồi ký của Tướng Cao Văn Viên ghi lại : “Khi ngân khoản bị Quốc hội phủ quyết, tình hình đã tuyệt vọng : vận mệnh quốc gia (VNCH) đã được quyết định” ( Bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 85 )

Ngày 7-3-1975, Kissinger chỉ thị cho các viên chức Ngoại giao HK trước khi ông ta lên đường đi Trung Đông : “Hãy làm mọi cách để Quốc hội tiếp tục duy trì viện trợ thoi thóp cho Cam Bốt và Việt Nam.  Không phải để cứu vãn hai nước đó, mà vì không thể nào cứu vãn được hai nước đó” ( Frank Snepp, trang 176 ). Nghĩa là Kissinger không muốn thiên hạ nghĩ rằng Việt Nam sụp đổ do không còn viện trợ.

Cùng ngày hôm đó, Tướng CSVN Văn Tiến Dũng đã chuẩn bị xong xuôi cho trận đánh chiếm Ban Mê Thuột.  Ông ta ra lệnh cắt đường 14 cô lập Ban Mê Thuột;  ngày hôm sau ra lệnh cho Sư đoàn 10 CSVN đánh chiếm Chi khu Đức Lập.  Và hôm sau nữa, ngày 10-3, đại quân của CSVN tràn vào Ban Mê Thuột.

Trước đó bốn tháng, Đại sứ Mỹ Martin đã làm áp lực buộc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải thay Tướng Tư lệnh Quân khu 2 Nguyễn Văn Toàn vì lý do ông này mang tiếng tham nhũng.  Trong khi Tướng Toàn là cây cột chống nhà của Quân khu 2 ( Frank Snepp, trang 117 ).

Trước đó nữa, vào tháng 8 năm 1974, CIA quyết định dẹp bỏ chi nhánh CIA tại Ban Mê Thuột vì lý do để tiết kiệm ngân sách.  ( Frank Snepp, trang 178.  Nguyên văn :  The CIA chief in the MR.2 had decided in the sumer of 1974 to shut down the agency’s out post  in Ban Me Thuot as part of a cost-cuting exercise ).

Vì vậy mà sáng sớm ngày 10-3-1975 bốn sư đoàn bộ binh, một trung đoàn Tăng, 2 trung đoàn Pháo, và 8 trung đoàn yểm trợ CSVN ( Khoảng 50 ngàn người ) đột nhiên xuất hiện tại Ban Mê Thuột mà Trung tâm Tình báo lớn nhất thế giới không hề hay biết (sic).  Trong khi theo hồi ký của Tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp thì quân CSVN đã ủi đường cho xe tăng chạy từ biên giới vào BMT với tổng số chiều dài của các con đường là 336 cây số (!).

Tình thế của phía Việt Nam Cọng Hòa

“Tinh thần trong quân đội xuống cấp.  Đạn dược khan hiếm, vật giá đắt đỏ.  Cuộc sống của người lính Việt Nam không thể nào theo kịp đà tăng giá của nhu yếu phẩm.  Nhiều mặt hàng thiết yếu đã tăng giá 100% trong khi lương của người lính chỉ tăng 25%.  Với những điều kiện như thế, tệ trạng đào ngũ, trộm cắp và tham nhũng càng trở nên phổ biến” ( Frank Snepp, trang 116 ).

Ngày 11-3-1975, một ngày sau khi quân CSVN tấn công Ban Mê Thuột, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại dinh Độc Lập và sau đó trình bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975.  Tướng Viên ghi lại cảm nghĩ của ông lúc đó :

“Quyết định của Tổng thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng.  Hình như Tổng thống Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”

“… Tổng thống Thiệu phác họa sơ : …Một vài phần đất quan trọng đang bị Cọng sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi giá… …Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại… …” ( Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 129-131 ).

“…VNCH không còn hy vọng nào.  Một thực tế gần như hiển nhiên là HK không muốn cuộc chiến tiếp tục, và biểu quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra.  Đối với HK, cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc” ( trang 132 ).

“Một sự thực không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6 năm 1975…” ( trang 136 ).

Điều động của phía CSVN

Ngày 6 tháng 1 năm 1975 Phước Long thất thủ, Tổng thống Ford tuyên bố Mỹ không can thiệp.. CIA thuê báo chí tung tin TT Thiệu cố tình bỏ Phước Long để đòi hỏi Washington phải tăng thêm viện trợ. Tại Hà Nội, sau khi được tin Mỹ không can thiệp, Lê Duẩn chỉ thị cho Tướng Văn Tiến Dũng vào Tây Nguyên đánh chiếm Ban Mê Thuột.

Ngày 20-1-1975, Tướng Lê Ngọc Hiền, Tham mưu trưởng của Văn Tiến Dũng từ Hà Nội đến Tây Nguyên.  Chiều 21-1, Hiền phổ biến chỉ thị của Hà Nội cho Vũ Lăng , Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên;  Đặng Vũ Hiệp, Chính ủy; và các sĩ quan trong Chỉ huy sở Mặt trận Tây Nguyên.  Vũ Lăng lên kế hoạch đánh chiếm Gia Nghĩa ( Quảng Đức ) trước, sau đó mới đến Buôn Ma Thuột ( Ban Mê Thuột ) và Cheo Reo ( Phú Bổn ).

Ngày 7-2-1975, tình hình đổi khác, Tướng Hoàng Minh Thảo, Phó của Văn Tiến Dũng đến Tây Nguyên phổ biến lệnh mới : Thành lập Bộ tư lệnh chiến dịch Tây nguyên do Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, Vũ Lăng làm Phó;  Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy, Phí Triệu Hàm làm Phó.  Cũng trong ngày 7 tháng 2, Sư đoàn trừ bị 316 của CSVN từ Nghệ An vào đến Tây Nguyên bằng xe hơi. Trước đó tại Tây Nguyên đã có sẵn Sư đoàn 10, sư đoàn 320 B.

*Chú giải : Có tất cả là 6 sư đoàn 320 trong cuộc chiến Việt Nam : Sư đoàn 320 (1) vào Khe Sanh năm 1968 và bị B.52 tiêu diệt trong trận Khe Sanh 1968.  Sư đoàn 320 (2) vào Hạ Lào năm 1971 và bị Sư đoàn Dù / VNCH tiêu diệt trong trận Hạ Lào. Sư đoàn 320 C (3) vào Quảng Trị năm 1972 và bị Sư đoàn TQCL/ VNCH tiêu diệt trong trận Mùa Hè. Sư đoàn 320 B (4) vào Tây Nguyên năm 1972 và bị Sư đoàn 23/BB VNCH tiêu diệt trong trận Mùa Hè. Sư đoàn 320 C thứ hai (5) vào Thượng Đức năm 1974 nhưng bị tổn thất nặng do đụng độ với Lữ đoàn 3 Dù/VNCH.  Và Sư đoàn 320 B thứ hai (6) vào Tây Nguyên năm 1974 nhưng bị tổn thất nặng do đụng độ với Liên đoàn 24 BĐQ/VNCH tại Pleime.

Trong khi đó CIA nghiên cứu báo Quân đội Nhân Dân của CSVN và rồi phối kiểm với nguồn tin tình báo Hungaria, Ba Lan tại Hà Nội thì tin rằng Sư đoàn 320 CSVN là một Sư đoàn bất tử :  Đánh trận Khe Sanh xong vẫn không suy suyển.  Đánh xong trận Hạ Lào vẫn bảo toàn lực lượng.  Đánh Quảng Trị rồi vào đánh Kontum mà vẫn còn nguyên.  Mới 3 tháng trước đó đánh Thượng Đức khiến Lữ đoàn 3 Dù VNCH xiểng niểng.  Vậy mà giờ đây đột nhiên toàn bộ Sư đoàn 320 lại xuất hiện tại Ban Mê Thuột (sic) ?!.

Tình hình tiếp tế đạn dược của CSVN

Trong khi Tướng Tổng tham mựu trưởng VNCH Cao Văn Viên buông tay cho số phận thì ông Tướng Tổng tham mưu trưởng CSVN Hoàng Văn Thái lại ăn ngủ không yên vì Tướng Văn Tiến Dũng vào Nam đánh lớn mà không còn đạn pháo binh, thậm chí đạn đại bác của xe tăng cũng không còn

“Cho đến những ngày cuối năm 1974 này, có lẽ nỗi băn khoăn lo lắng nhất của chúng tôi vẫn là vấn đề đạn, kể cả đạn pháo của tăng, đạn pháo mặt đất cỡ lớn… .. Trong một bức điện gửi về Bộ, trung tuần tháng 8 năm 1974 anh Trà đã báo động về tình hình đạn lớn của B.2… …So với B2 thì tình hình đạn lớn của B1 ( Quân Khu.5 ) còn thiếu thốn hơn nhiều ” ( Trang 160 ).

“Sau chiến thắng Bù Đăng, Vĩnh Thiện, Bù Na, ta thu bốn khẩu pháo 105 và 7.000 viên đạn… có đạn chiến lợi phẩm rồi, Bộ Tổng tham mưu nhất trí phát triển tiến công Phước Long” (trang 161 ).

“Điều băn khoăn lo lắng chung, trực tiếp của cơ quan tham mưu và hậu cần bấy lâu nay về vấn đề đạn lớn, đến nay đã bước đầu được giải quyết.  Kho đạn đại bác trên một vạn viên thu được ở Phước Long là cái vốn tích lũy đầu tiên”.

Như vậy trong trận tấn công Ban Mê Thuột, quân CSVN chỉ mong nhờ vào 10.000 viên đạn pháo và 4 khẩu đại bác 105 ly thu được trong trân Phước Long.  Trong trận Phước Long quân VNCH mất 12 súng đại bác 105 ly và 4 súng 155 ly.  Nhưng quân CSVN chỉ sử dụng được 4 khẩu 105 ly do vì 4 súng này bị các đơn vị người Miền Núi làm phản, nộp súng còn nguyên vẹn cho CSVN.  Còn 12 súng khác tịch thu trong trận Phước Long không sử dụng được vì đã bị hủy trước khi quân VNCH bỏ chạy.

Kiếm thêm được 10.000 viên đạn đại bác mà Hà Nội mừng như bắt được vàng, trong khi vào mùa hè năm 1972, quân CSVN có thể pháo vào An Lộc một đêm 10.000 quả đạn.  Chứng tỏ trận tổng tấn công Mùa Xuân 1975 không phải là một cuộc tấn công,  mà chỉ là tiếp thu.

BÙI ANH TRINH

http://quanvan.net/cac-tran-danh-nam-1975-1-tinh-hinh-viet-nam-va-my-vao-cuoi-nam-1974/

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s