Quân Trường Đại Học vài kỷ niệm và tấm lòng đồng khóa

on

https://i0.wp.com/pp2.s3.amazonaws.com/371f5e55c83a49c0/5cdb256e95c24ead914109e6d99d1df0.jpg

Nguyễn Đình Từ Lam

Thời gian qua nhanh, thấm thoát mới ngày nào, những chàng trai trẻ khóa 2 Nguyễn Trãi chúng tôi hội tụ nơi Quân trường mẹ Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà lạt, cùng nhau học tập văn võ. Ngày nay kiểm lại kẻ còn người mất, ai nấy đều cụ ông ở độ tuổi thất thập, bảy mươi, ai nấy đều trải qua bao nhiêu thăng trầm, ít vui nhiều buồn; một đời trai trẻ lặn hụp trong binh lửa chiến tranh, tù tội… Thương tiếc trường mẹ, đã hơn bốn mươi năm, mai một theo mệnh số đất nước kể từ tháng Tư năm bảy lăm khi Cộng sản xâm chiếm miền Nam Việt Nam chúng ta. Nhân dịp lễ kỷ niệm bốn mươi lăm năm ngày khóa 2 Nguyễn Trải ra trường, tôi xin viết lại một vài kỷ niệm riêng tôi với trường mẹ, và với vài người bạn đồng khóa.

Tại Trung tâm Huấn luyện Quang Trung :

Sau thời gian ngắn, học những bước sơ đẳng về Quân sự quân cách tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung Sài Gòn, chúng tôi được nhận vũ khí, khẩu súng trường M1, toàn là súng cũ mèm. Số tôi xui, lãnh một khẩu M1 cũ nhất nhì trong số cũ ấy. Mỗi cuối tuần lau chùi vũ khí, súng của tôi chỉ cần nghiêng mình “em” là cơ bẩm súng rời ra, chẳng cần tháo. Đến kỳ thi bắn súng, mắt tôi đã kém lem nhem, mỗi lần tôi ôm “em” ghì chắc nhắm điểm đen trên bia lãy cò, súng nhả đạn nổ ‘đoòàng’, tiếp theo nghe tiếng ‘bộp’, ngó ra thấy cơ bẩm đã văng khỏi súng rớt nằm bẹp dưới đất. Kết quả kỳ thi thực tập tác xạ, tôi rớt. Tôi lo lắng, kiểu nầy thằng tôi có lẽ đi Đồng Đế học Hạ sĩ quan Trung sĩ.

Cũng trong giai đầu ở Quang Trung, trường mẹ có tổ chức mấy ngày cho Khóa sinh diễn thuyết ngắn gọn để thử giọng; chủ trì là các vị Sĩ quan cán bộ của trường như Trung tá Nguyễn Văn Năm, Trung tá Sáu…Đến phiên tôi lên thử giọng, âm nói tiếng Quảng của tôi nghe chát chát chẳng hay ho gì, tướng tôi lại ốm o còm ròm. Nhưng như một phép lạ, khi tôi hết đoạn diễn thuyết, thấy Trung tá Năm gật gật đầu. Tôi nghĩ ông cho tôi “pass”.Tối hôm đó, suốt đêm tôi không chợp mắt ngủ được, tôi mừng thầm.

Tại Quân trường Mẹ :

Sau khi mãn khóa ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung, tôi và các bạn cùng khóa vác xách ma ranh lên máy bay C130 về Quân trường mẹ Đà Lạt tiếp tục thụ huấn.

Khoảng thời gian đầu giai đoạn Huấn nhục, một hôm, khóa sinh Đại đội B đang tập họp ở sân Đại đội, Trung úy Đại đội trưởng Đào Ngọc Tố gọi tôi ra khỏi hàng quân, về lại doanh trại thay bộ Quân phục khác sạch sẽ đường hoàng hơn, rồi lên trình diện ông ở văn phòng. Sau khi trình diện, ông nói : tôi dẫn anh lên gặp Trung tá trưởng khối khóa sinh. Trước khi đi ông khám kỷ càng Quân phục, quần áo giày mũ. Hầu như mọi thứ đều xong xuôi, trừ cái bút nịt ở thắt lưng quần chưa đúng chổ, ông sửa lại cho tôi. Tại văn phòng trưởng khối, tôi trình diện Trung tá Nguyễn Văn Năm; Trung tá chăm chú nhìn tôi, xem xét quân cách Quân phục, xong, ông cuối xuống đọc hồ sơ Quân bạ để mở trên bàn. Một đổi lâu, ông ngước lên hỏi : Điểm thi thực tập tác xạ ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung của anh thấp, anh cho biết vì sao vậy ?

Tôi đứng nghiêm, trình bày lý do, chỉ vì cây súng trường M1 của tôi lúc ấy quá cũ kỹ, mấy lần xin đổi súng khác nhưng chẳng được… Sau hơn nửa giờ trình diện trưởng khối, tôi được phép về lại doanh trại khóa sinh, chờ, buổi chiều tiếp tục tham gia tập huấn cùng các bạn Đại đội B. Trên đường đi tôi cứ băn khoăn tự nghĩ sao mới giai đoạn đầu đời lính đã gặp những trắc trở, không biết tương lai đời Quân ngũ mình sẽ đi về đâu !!!

Lại trong những tuần lễ Huấn nhục, có một lần, sau buổi phạt dã chiến, đến giờ ăn cơm trưa. Tại phạn xá, tất cả khóa sinh Tiểu đoàn 2, ai nấy im phăng phắc, cắm cúi ăn. Tôi đang đói bụng, ăn lanh như chớp hết sạch một chén cơm, bèn đưa chén không cho người bạn ngồi gần thố cơm ở đầu dãy bàn, bạn tôi không thấy, cứ cắm cúi mãi, tôi thì nôn nả nên bèn nói nho nhỏ, bới giúp tao một chén. Vừa lúc ấy, Sĩ quan cán bộ Huấn nhục, đứng ở cuối phạn xá nghe thấy, gọi tôi đến trình diện, xong ông bảo tôi hai tay bưng chén cơm đội trên đầu, chạy rảo chung quanh phạn xá, miệng liên tục la lớn :

– Từ nay trở đi, tôi xin chừa, không nói chuyện trong giờ cơm.

Trong lúc tôi thi hành phạt, ông lệnh cho hai bạn khóa sinh đem ba cái ghế dựa đến giữa phạn xá, hai ghế đặt gần nhau, cái thứ ba chồng lên mặt hai ghế trước. Ông bảo tôi ngồi lên ghế cao, và cho một bạn khóa sinh bới một chén cơm thật đầy, đến trước mặt tôi, quỳ gối phải, hai tay nâng chén cao khỏi đầu, mặt cuối gằm, miệng nói lớn :

– Ông đói mời ông xơi.

Cứ thế tiếp một bạn nữa, thêm một bạn khác… làm thần dân mời bề trên tôi xơi cơm. Tôi phải xực hết tất cả sáu chén cơm thật đầy, no quá đỗi, căng bụng. Giờ nghỉ trưa ngắn ngủi hôm đó, cái bao tử tôi đầy ứ cơm; tôi phải vào nhà vệ sinh, móc họng, ói mửa bớt cơm ra cho nhẹ bụng, đỡ tức, để còn sức, buổi chiều đi tập luyện huấn nhục.

Khi mới bước chân vào Quân trường mẹ, tôi biết thời gian huấn nhục là giai đoạn khóa sinh phải vượt qua những thử thách rất cam go để trở thành một Sinh viên Sĩ quan hiện dịch. Chúng tôi phải khép mình vào kỷ luật sắt để rèn luyện thể chất và tinh thần, nên mọi hình phạt tôi nghiêm chỉnh thi hành, tuy có mệt nhọc thật nhưng người tôi vẫn thanh thản chẳng chút áy náy muộn phiền.

Nói về khóa 2 Nguyễn Trãi, chúng tôi ai nấy đều hãnh diện vì có rất nhiều SVSQ tài cán, có năng khiếu về nhiều bộ môn. Về văn chương có nhiều nhân vật giỏi văn hay thơ, đếm đến cả hơn chục người, sau này ở ngoài đời trở thành văn nhân thi sĩ không ít. Về bộ môn thể thao, khóa 2 có đội bóng tròn thật dũng mãnh, đáng nể mặt, từng thắng đội banh kỳ cựu Võ Bị Quốc Gia, thắng cả Câu Lạc Bộ thị xã Đà Lạt. Đội văn nghệ thì thật lừng lẫy, không những tiếng tăm trong trường mà còn lan rộng cả Thị xã sương mù; những đêm văn nghệ thành công rực rỡ với những vở kịch, những bản hợp xướng với ý lời sâu sắc, hùng khí, mượt mà; diễn xuất lột tả tuyệt vời nội dung tình ý, làm cho các vị Chỉ huy trưởng, Sĩ quan cơ hữu, giáo sư, giảng sư của trường rất vui lòng, không tiếc lời khen ngợi. Nói đến văn nghệ; làm sao quên được một Trần Ngọc Hoàn, người thật tài ba trong vai trò soạn kịch kiêm đạo diễn kiêm cả người điều hợp chương trình buổi văn nghệ ; Đào Quang Hùng, người điều khiển ban hợp xướng thật nhịp nhàng duyên dáng; và chẳng mấy ai không nhớ bạn Nguyễn Đức Phương giả gái đẹp nhất trần đời, nàng Phương trên sân khấu đẹp gấp bội phần những người con gái đẹp của thành phố Đà Lạt hoa mộng.(Nàng Phương ơi ! không biết giờ nàng ở phương trời nào ? Trẩm…tôi ngày đêm nhớ Ái Khanh lắm lắm).

Nói đến Trần Ngoc Hoàn, tôi sực nhớ đến thằng tôi, thời ấy thằng tôi một SVSQ tầm tầm thường thường, thế mà có lần chuột sa hũ nếp, chó táp nhằm ruồi. Lần đó trường mẹ tổ chức cho SV thi đua diễn thuyết cấp tiểu đội, tôi được các bạn chấm điểm đứng đầu số 1, Trần Ngọc Hoàn thứ nhì số 2. Khi lên thi ở cấp Trung đội, tôi thua Hoàn hai bậc, Hoàn dẫn đầu. Lên cấp Đại đội và Tiểu đoàn tôi là thằng mít ướt sút cùi, rớt bạch; Trần Ngọc Hoàn lại hai lần nữa dẫn đầu. Tổng kết “sư tử” già họ Trần nắm thủ khoa đợt thi diễn thuyết cấp Tiểu đội đến Tiểu đoàn.

Image result for TRUONG DAI HOC CHIEN TRANH CHINH TRI QLVNCH

 

Tấm lòng đồng khóa :

Trong khó khăn tôi đã gặp được người bạn tốt đồng khóa :

Bạn Huỳnh Văn Hoanh và tôi cùng chung Tiểu đội, ở dãy cuối khu doanh trại thuộc Đại đội B/SVSQ. Anh người cao ráo, mắt to, nói tiếng Sàigòn Nam bộ. Bạn bè Sinh viên người Nam thường vui tính xuề xòa dễ gần gũi…Trái lại, anh thường sống nội tâm, tính tình điềm đạm,ít nói; cho nên anh và tôi dù ở gần bên cạnh nhưng hiếm khi chuyện trò trao đổi. Sở dĩ tôi viết hơi dài dòng về anh, bởi vì anh và tôi có một kỷ niệm như vầy :

Số là có lần tôi bị đau bệnh phải nằm điều trị tại Bệnh xá của trường. Đến bữa cơm, tôi thường nhờ người bạn Sinh viên trực phạn xá đem đến, tôi ráng ăn, nhưng khi cơm vào bụng, lập tức tôi nôn mửa ra hết sạch. Dần dà sức khỏe gần như kiệt quệ, cơn sốt cứ hoành hành dữ dội, mặc dầu được uống thuốc bệnh đầy đủ. Tôi cứ nằm bẹp trên cái giường sắt Quân đội, nằm nghe các bạn đồng khóa rầm rập đi học Quân sự bên Võ Bị, đi sinh hoạt ở đại giãng đường, đi giải trí ở văn khang hay câu lạc bộ sinh viên…, mà thấy thèm, mong sao mau khỏi bệnh. Nằm một mình, lại thầm lo lắng, bệnh tình phải nghỉ lâu, sẽ không theo kịp chương trình tập huấn của trường… Tâm trí tôi đang miên man, bổng giựt mình khi thấy bóng dạng một người đi vào, nhìn kỹ thấy Huỳnh văn Hoanh.

Giữa lúc nầy có người bạn đến, tôi rất là mừng. Hoanh ngồi xuống ở dưới đuôi giường tôi đang nằm, ngó tôi, bạn tròn mắt ngạc nhiên hỏi :

– Mầy đau bệnh lâu quá, trông mầy hết sức ốm yếu. Giờ bớt được phần nào chưa ?

Tôi Trả lời :

– Cũng chừng đổi, chưa thấy khỏe ra. Mong mau hết bệnh, không biết bao lâu nữa.

Hoanh lại hỏi :

– Đến bữa mầy ăn cơm hay cháo, ăn được khá không ?

Tôi nói:

– Ăn cơm vào, liền ói mửa ra hết sạch, ruột tao cứ cồn cào khó chịu suốt ngày đêm.

Nghe vậy, Hoanh liền gợi ý :

– Hay là mầy để tao báo nhà bếp nấu cháo lỏng cho mầy. Mầy muốn cháo thịt hay cháo cá ?

Tôi trả lời :

– Cháo gì cũng được.

Đang mùa Quân sự, tôi phải nghỉ bệnh nhiều ngày, nên Hoanh còn giúp tôi, Hoanh nói ra để tôi yên tâm :

– Các tài liệu, cours học Quân sự, đừng lo, tao lãnh cho mầy. Còn những buổi thực tập ngoài bãi bên Võ Bị chẳng khó khăn lắm, tao sẽ thuật lại để mầy có thể nắm vững.

Tôi lặng thinh, một đỗi lâu sau, mới thốt lên được mấy tiếng cộc lốc :

– Mầy gắng giúp tao, nghe Hoanh.

Những ngày sau đó, khi các bạn Đại đội B ăn cơm xong ở phạn xá, về lại doanh trại. Bữa nào bữa nấy, Hoanh cũng bưng đến cho tôi, khi thì tô cháo thịt bò bỏ rau hành nóng hổi, lúc thì tô cháo cá; tôi đều ăn hết sạch, không còn nôn mửa nữa. Bạn còn giúp tôi, đem mấy bộ đồ tôi mặc lâu trong những ngày nằm bệnh, bỏ cho người lính cơ hữu chuyên giặt quần áo cho Sinh viên, giặt giúp.

Lúc nầy mùa hè Đà Lạt, không nóng lắm, thêm trời thường đổ cơn mưa giông buổi xế chiều; nên thời tiết thật dễ chịu. Dần dà bệnh tôi thuyên giảm rồi khỏi hẳn. Tôi lại trở về Đại đội B tiếp tục thụ huấn.

Các môn thi mùa Quân sự năm ấy, tôi trót lọt, qua khỏi được cửa ải.

Năm nay tôi là ông già bảy mươi tuổi, tâm trí thường hay quên, nhưng kỷ niệm với người bạn đồng khóa cùng tên, Huỳnh Văn Hoanh, tôi vẫn nhớ. Ở đây, tôi viết những lời nầy xin gởi đến bạn Hoanh như một lời cảm ơn muộn màng, và tôi mãi mãi mang ơn bạn.

Người bạn thứ hai, đã có trong tôi một kỷ niệm khó quên, bạn Lê ngọc Khanh.

Thời gian SVSQ khóa 2 Nguyễn Trãi thụ huấn tại Quân trường mẹ, Lê Ngọc Khanh và tôi ở cùng Trung đội thuộc Đại đội B. Sau khi mãn khóa, Khanh chọn về một đơn vị Bộ binh chủ lực, tôi về Địa phương quân Tiểu khu; chẳng hề gặp nhau. Sau tháng Tư năm 1975, hầu hết bạn bè cùng khóa đều phải đi tù Cộng sản. Lúc có chương trình tù cải tạo được đi định cư ở Mỹ, Khanh đi H.O trước tôi. Năm bảy ngày trước khi đi, Khanh có nhắn tôi ra Đà Nẵng đến nhà gặp nó. Tôi đi xe đò trên chín chục cây số, đến nhà Khanh trời đã xế bóng ngả chiều. Hai đứa ngồi nói chuyện một đỗi; Thấy bà xã Khanh lo dọn bữa cơm, xong, Khanh nói :

– Mầy lại ngồi ăn cơm với vợ chồng tau một bửa cho vui, trước khi cả nhà tau vào Sài gòn chuẩn bị đi. Tụi tau đã đăng ký xong chuyến bay.

Bữa ăn có cơm gạo trắng, có canh chua cá đuối nấu với thơm và me, có thịt heo luộc, có rau sống… Trước kia bửa ăn như thế là bình thường, nhưng bấy giờ đối với tôi là rất ngon sang. Thời buổi ấy, ở quê tôi, người dân làm ăn theo công điểm do Hợp tác xã Nông nghiệp (HTXNN) giao khoán, nên đời sống hết sức nghèo khổ túng bấn. Thử nghĩ, tôi đi làm thợ nề cho Hợp tác xã, vợ tôi đi dạy trường Trung học cơ sở của huyện; gia đình có ba con nhỏ; hạt thóc hạt gạo nuôi đời sống, thế mà cứ thiếu trước hụt sau. Nói ra nghe thật xấu hổ, nhà tôi có thầy có thợ mà tết đến thường hụt lúa sạch gạo. Có năm chiều ba mươi tết, vợ tôi phải chạy đi vay gạo của bà Thượt làm ở kho lương thực huyện, hứa ra giêng, chồng lãnh lúa công điểm, máy gạo đem hoàn lại, bà đồng ý, vợ tôi mừng quá đổi. Tết năm ấy cái bụng của năm bà con nhà tôi được no lưng lửng.

Khi tôi và hai vợ chồng Khanh cơm nước xong xuôi, Khanh nói cho tôi biết tiến trình thực hiện thủ tục việc đi định cư (H.O) ở Mỹ, bạn nói rất ngọn ngành chi tiết, từ việc vào phỏng vấn đến khám sức khỏe, chích ngừa và đăng ký chuyến bay. Tôi ngồi lắng nghe và ghi nhớ rõ ràng. Đến khi gần mãn buổi chiều, tôi ngỏ ý ra về, thấy bà xã Khanh đưa cho Khanh một gói nhỏ, Khanh cầm lấy, nói với tôi :

– Tụi tau lo thủ tục để đi, tiền bạc tốn kém cũng bộn. Nay gia đình tau còn ít ngày nữa lên máy bay, tau nhắn mầy ra nhà để trao đổi kinh nghiệm chuyện đi định cư của tụi mình. Tiện đây tụi tau biếu mầy năm phân vàng. Tau biết lúc nầy mầy đang túng bấn, nên cầm lấy về tiêu.

Tôi về đến nhà chừng hơn chín giờ tối. Vừa bước vào cửa, vợ tôi hỏi :

– Sao đi lâu về rứa anh. Ra Đà Nẵng có gặp được anh Khanh, bạn anh không ?

Tôi trả lời :

– Có chứ em, anh gặp vợ chồng nó, ngồi chuyện trò, ăn bữa cơm với vợ chồng Khanh. Trước khi anh ra về, hai vợ chồng có cho anh năm phân vàng.

Vợ tôi mỡ to mắt, vẻ sửng sốt, hỏi :

– Năm phân vàng !!! Anh có nói đùa không đấy ? Thời buổi nầy cứ ngó quanh ra bà con ở quê mình, có ai dám nhường nhau non ký gạo, ít bữa cơm chưa, huống hồ dám cho bạn mình năm phân vàng. Anh nói anh Khanh cho, em chẳng tin.
Tôi liền lần tay vào túi áo, lấy vàng Khanh cho đưa cho vợ tôi thấy, nàng mới tin. Im lặng một đỗi lâu, vợ tôi đưa mắt nhìn bâng quơ xa vời đâu đâu, rồi nàng nói :

– Thời buổi nầy, ít có người như vợ chồng anh Khanh, bạn anh.

Lúc có giấy gọi gia đình tôi đi phỏng vấn (H.O20), tôi phải chạy đôn chạy đáo, mượn được của người thân quen một chỉ vàng, cộng thêm năm phân của vợ chồng Khanh; vợ tôi đem bán tất cả một chỉ rưỡi vàng lấy tiền mặt. Số tiền nầy chi tiêu đắn đo cần kiệm vừa đủ cho đợt đi phỏng vấn của cả gia đình tôi. Nói như thế để biết giá trị của năm phân vàng của vợ chồng Khanh cho tôi thời buổi đó không nhỏ; nó lớn kể cả mặt vật chất lẫn tình nghĩa đó các bạn ạ.

Tôi viết những dòng nầy gởi đến vợ chồng Lê Ngọc Khanh, thay cho lời cảm ơn. Một miếng khi đói bằng gói khi no. Khanh ơi ! Tấm lòng của hai bạn đối với tôi trong thời buổi túng thiếu nhiễu nhương, thật là quí báu và thâm tình biết bao, chẳng khi nào dám quên.

Trên đây, tôi viết một ít kỷ niệm của riêng tôi với Quân trường mẹ, Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt và vài kỷ niệm với hai người bạn đồng môn đồng khóa Nguyễn Trãi 2. Chắc đây, những lời nầy, những tâm tình nầy chẳng là gì, chẳng gây ấn tượng nào đối với một ai đó. Nhưng với tôi là những sự kiện, những nỗi niềm tôi luôn mến yêu và trân quý. Nhớ về trường mẹ, về bạn cùng trường, đồng khóa; tôi bùi ngùi luyến tiếc một thời huy hoàng, đầy ước vọng của chúng tôi cách đây trên bốn mươi năm. Nay tất cả đều mai một, chỉ còn là những hoài niệm, mãi ghi lòng tạc dạ trong mỗi chúng tôi.

Nguyễn Đình Từ Lam
(Khóa 2 SVSQ/CTCT/ĐL)

https://hoiquanphidung.com/showthread.php?23935

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s