Về Miền Nam mịt mờ khói sóng

Bùi Quốc Hùng – Bút Ký Quân Đội – Tháng 4

BỘ TƯ LỆNH VÙNG 2 DUYÊN HẢI /CAM RANH-MARKET TIME

Thứ Tư, Ngày 2 Tháng 4 năm 1975

Tôi thức giấc giữa những âm thanh chuyển động xôn xao và tiếng bước chân người dồn dập, hối hả.

Toàn cảnh khuôn viên bên trong Bộ Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải (BTL/V2DH) và bến tàu của BTL nổi bật lên trong nắng sớm bình minh; đông đúc quân nhân hải quân, các binh chủng khác và gia đình đi lại nhộn nhịp, tấp nập; di chuyển dần dần xuống cầu tàu. Rải rác đó đây, đủ loại xe cộ, các loại xe quân đội, xe gắn máy đậu trên các bãi đất trống chung quanh cầu tàu.

Vừng dương đỏ rực tỏa sáng nơi chân trời xa khơi.

Bao quanh tôi là năm quân y sĩ TQLC, Toán Điều Không Sư Đoàn 2 Không Quân (TĐK/SĐ2KQ), binh lính Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận (CH5TV) và gia đình. Tôi nói với các bác sĩ TQLC và TĐK/SĐ2KQ:

–    Chúng ta phải di tản ngay về miền Nam ngày hôm nay; tình hình này, Hải Quân đã chuẩn bị di tản, BCH5TV và Bộ Chỉ Huy Phòng Thủ Cam Ranh (BCH/PT/CCCR) hoàn toàn bỏ ngỏ, chúng ta không thể trở về đơn vị được nữa.

Ngay sau đó, tôi gặp TS1 Trưởng Toán Điều Không. Tôi hỏi:

–    Toán Điều Không có đem theo lựu đạn lân tinh không?

–    Chi vậy, Trung Uý?

–    Tôi muốn Em phá huỷ 2 máy kiểm báo gắn trên 2 xe Jeep chúng ta mang theo. Không để xe và phương tiện điều không nguyên vẹn lại.

–    Không cần đâu, Trung Uý. Trên mỗi chiếc máy đều có nút phá hủy. Em chỉ nhấn nút một lần là xong.

–    Tốt lắm, Em ra phá huỷ máy ngay đi.

Nói xong, tôi bắt đầu quan sát bến tàu. Trong đám xe cộ nằm ngổn ngang trên bờ, lẫn lộn giữa đám xe Jeep, tôi trông thấy chiếc xe Jeep A 2 có mui và cánh gà 2 cửa quen thuộc, bảng số … 468; chiếc xe này thuộc quyền sử dụng của Trung Tá Đoàn Ngọc Khiết, từ lúc Ông còn là Trưởng Phòng Kế Hoạch Huấn Luyện/BCH5TV, cho đến khi Ông được bổ nhiệm là một chỉ huy trưởng đoàn bảo toàn, đơn vị đồn trú trong Cam Ranh Bay. Ông đã mang xe theo sang đơn vị mới. Chiếc xe này tôi đã sử dụng thường xuyên, và mỗi khi đi công tác; thỉnh thoảng chở một người em gái học trò hậu phương hoặc là ái nữ của Ông dạo quanh phố thị Nha Trang; cả hai đều là những nữ sinh xinh đẹp duyên dáng của trường Nữ Trung Học Huyền Trân Nha Trang. Nhìn về phía những chiếc xe gắn máy, tôi lại trông thấy chiếc xe Lambretta 150cc màu vàng. Tôi yên lòng biết rằng bạn tôi, Đại Uý Nguyễn Xuân Hy, Trưởng Ban Huấn Luyện, cùng Phòng Kế Hoạch Thống Kê với tôi là chủ nhân chiếc xe Lam cũng đã đến đây. Chiếc xe này là cả gia tài của Anh. Trước đây, Hy thường chở tôi lượn lờ cùng khắp bãi biển thơ mộng Nha Trang. Tất cả là những kỷ niệm của thuở thanh xuân trong một thời chinh chiến, giờ đây còn đâu! Tôi ngậm ngùi nghĩ đến thân phụ của Đại Uý Hy, Cụ bị bịnh kinh niên, nằm một chỗ, do người Em gái của Anh chăm sóc. Anh ra đi, chắc chắn để lại cha già, em gái ở lại. Cũng như tôi, tiện nội tôi và toàn thể gia đình bên vợ cũng kẹt lại Nha Trang. Cảnh biệt ly thật đau lòng!

Duong van ham Cam Ranh HQ500 .jpg

Phóng tầm mắt xuống cầu tàu, 2 chiến hạm mang phiên hiệu HQ500 và HQ800 nằm phơi mình trên sóng nước. Trên 2 chiến hạm, đã có rất đông binh sĩ và đồng bào. Trên bến, quân nhân, đồng bào, đang lần lượt từng người trèo thang lên 2 con tàu. Người trên cầu tàu bắt đầu vơi dần, chỉ còn đoàn người tôi dắt theo đứng im lặng. Tôi nói với Em tôi và các BS/TQLC:

–    Đi HQ 500, tàu nhỏ dễ say sóng, thôi anh em mình lên HQ800, tàu lớn khỏe hơn.

Nói xong, tôi di chuyển xuống cầu tàu, trèo lên thang của HQ 800. Khi đến đầu mút thang, ở trên có quân nhân HQ nắm tay đỡ lên. Tất cả đoàn chúng tôi lên tàu đầy đủ. Vừa đặt chân lên boong tàu, những quân nhân HQ yêu cầu mọi người trao vũ khí cá nhân cho họ. Chúng tôi vừa mới mất đơn vị và lúc này, vũ khí chiến đấu lại bị tịch thu vì lý do an toàn. Một cảm giác hụt hẫng, uất nghẹn dâng lên: chỉ trong một thời gian ngắn ngủi kể từ khi quân CSBV tấn công Ban Mê Thuột đến nay vừa tròn 3 tuần lễ, QLVNCH đã mất tất cả QK1, và gần hết QK2. Giờ đây, Nha Trang, Khánh Hòa; Bán Đảo Cam Ranh bỏ ngỏ, chỉ còn Phan Rang, Ninh Thuận  và Phan Thiết, Bình Thuận sẽ phải cầm cự với địch quân. Tôi nhớ lại vào xế trưa ngày 31-3-1975, lời nói nghẹn ngào, tức giận của một sĩ quan chỉ huy chiến trường lại vang vọng bên tai tôi khi Ông nắm hai vai tôi lắc mạnh: “Trung Uý! Tại sao? Tại sao? Tôi không hiểu nổi. Các đơn vị còn nguyên ở tuyến đầu chưa chạm địch đã có lệnh rút đi. Bây giờ đơn vị tôi ở đâu? Anh Em tôi đâu? Gia đình tôi đâu?” Và giờ đây, câu hỏi đó lại đang xoáy mạnh vào đầu óc tôi. Chẳng phải BCH5TV và BCH/PT/CCCR và các đơn vị tiếp vận trực thuộc vẫn còn làm việc bình thường cho đến 4 giờ chiều ngày hôm qua 1-4-1975 sao! Chẳng phải Trung Uý Nguyễn Quốc Công, sĩ quan thuộc Phòng Tiếp Liệu/BCH5TV vẫn còn làm việc bên cạnh BTL/QĐ II ở Nha Trang cho mãi đến 7 giờ tối sao! Và rồi bỗng nhiên, chúng tôi không ai bảo ai, đi tìm đường di tản!

Khi đặt chân lên boong tàu, tất cả chúng tôi tự động đi tìm chỗ để tạm trú. Em tôi và các bạn đi về phía mũi tàu rồi trèo hẳn lên khu vực pháo tháp có hai khẩu đại bác khổng lồ, đặt song song với nhau, nòng súng hơi chênh chếch hướng lên cao, và các Em tôi trèo lên ngồi chễm chệ trên hai khẩu súng đó. Phía dưới boong tàu, hàng ngàn người chen chúc nhau ngồi nghỉ dưới những tấm poncho, nylon, vải nhựa được dựng, được căng lên che nắng gió. Phần tôi, đứng sát mạn tàu phía bên phải, gần đài chỉ huy. Bất chợt, trên đài chỉ huy xuất hiện một số sĩ quan cấp tá đứng hàng ngang trước lan can. Tôi nhìn lên chăm chú, nhận ra tất cả các vị đều là sĩ quan cấp trưởng phòng, khối của BCH5TV-BCH/PT/CCCR, và Đại Tá Vũ Văn Lộc, Bộ TTM/TCTV ra công tác tại BCH5TV. Đại Tá Lộc bị kẹt lại, cùng di tản trên chuyến tàu HQ800 này. Trong hàng, có Trung Tá Phạm Quan Kim, Trưởng Khối Nhân Huấn; Thiếu Tá  Nguyễn Văn Hiến Phó Trưởng Khối Nhân Huấn; Trung Tá Nguyển Đình An, Trưởng Phòng KHTK; Đại Tá Vũ Văn Lộc, Bộ TTM/TCTV. Trung Tá An, tay cầm loa, nói ngắn gọn:

–    Hôm nay, ngày 2 tháng 4 năm 1975, vì tình hình chiến sự, BCH5TV, BCH PT/CCCR và các đơn vị tiếp vận trực thuộc và gia đình di tản về Phương Nam.

Sau đó, các vị sĩ quan rời đi. Tôi chú ý đến một tấm biểu ngữ lớn bằng vải từ đài chỉ huy căng chéo ra ngoài. Trên tấm biểu ngữ viết những hàng chữ in sắc sảo, rõ ràng: “HQ 800 hân hạnh đưa đồng bào ra khỏi vùng chiến sự về vùng an toàn. HQ 800 mong sớm có dịp đưa đồng bào hồi hương. Kính chúc đồng bào thượng lộ bình an.” Trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng này, bên HQ đã chuẩn bị công tác di chuyển việc vô cùng tích cực và chu đáo. Sự giúp đỡ, đưa người di tản không kể quân nhân, dân chính được thể hiện rõ ràng sức mạnh của tình quân dân cá nước, không chỉ thể hiện bằng lời nói mà bằng cả hành động. Tôi cảm phục, ngưỡng mộ về hành động của HQVN. Tôi  nhớ đến một người bạn ở Trảng Lớn, cùng học trung học Trịnh Minh Thế, Tây Ninh, giờ đây là HQ Đại Uý Phạm Văn Diên. Tôi gặp Diên ở TTHL/HQ/CR, Diên kể lại Anh cũng đã tham gia trận Hải chiến Hoàng Sa với Trung Cộng ngày 19 tháng Giêng 1974.

Bất chợt, tiếng còi tàu rúc lên từng hồi, âm thanh như cuồng nộ, đứt đoạn; tiếng còi tàu cất lên như tức tối, giận hờn, uất nghẹn. Ngày xưa không biết tiếng còi tàu ‘súp lê một, súp lê hai…’ rời bến ra khơi thê lương ra sao, khi ‘anh khóa’ xuống tàu đi học xứ ngoài, và chắc hẳn người đi phải có người đưa tiễn. Cảnh biệt ly nào cũng là nỗi buồn trong đời.“Biệt ly nhớ nhung từ đây. Ôi còi tàu như xé tâm hồn…”

Nhưng vào lúc này, thời gian như ngừng trôi! Tôi lặng nhìn quang cảnh bến tàu, khuôn viên BTL/V2 DH, vắng lặng không một bóng người, có chăng chỉ còn lại vô số xe cộ, quân dụng bỏ chơ vơ trên bãi, nằm im lìm vô chủ. Tại đây, HQ Mỹ dùng làm căn cứ, đặt Bộ Chỉ Huy Chiến Dịch Market Time, một trong 6 chiến dịch quan trọng của Hải Quân Hoa Kỳ. Trong 8 năm trời, có biết bao nhiêu là con tàu thuộc chiến dịch, ghé bến rồi đi, thi hành những sứ mạng của hải quân trong thời chiến!  Sau Hiệp Định Paris tháng Giêng 1973, Bộ Chỉ Huy Chiến Dịch Market Time bàn giao cho HQVN, và Bộ Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải đóng căn cứ tại đây. Hôm nay đây, những con tàu của HQVN đang tách bến ra đi, đến một phương trời xa xôi không hẹn ước, không cả hẹn ngày trở lại. Người ra đi thì có nhưng người đưa tiễn thì không! Một nhạc sĩ tài hoa của Sàigòn hoa lệ đã chẳng viết lên giòng nhạc ‘Vắng con tàu sân ga thường héo hắt. Thiếu Anh lòng Em thấy quạnh hiu” đó sao! Cảnh biệt ly, xa cách nơi chôn nhau cắt rún, xa miếu đường tổ tiên, bỏ lại giòng sông thương yêu, cây đa bến cũ thân thiết gây cho ta biết bao là thương đau, xót xa, cay đắng hơn vạn lần cảnh chia ly giữa hai người trai gái yêu nhau.

Chúng tôi tự ý ra đi, không một nhật lệnh, một huấn thị của cấp chỉ huy ban ra. Không giống như hoàn cảnh của QK1, một nửa QK2, từ Ban Mê Thuột, từ Phú Yên, Bình Định phải đương đầu với sự tấn công tàn khốc của quân CSBV. Nha Trang, Canh Ranh còn đứng vững trong an ninh, trật tự. Cộng quân còn bị cầm chân ở mặt trận Khánh Dương. Tất cả bến tàu, quân cảng, phi trường, doanh trại, Quân Y Viện Nguyễn Huệ các trung tâm huấn luyện Hải Quân , Không Quân, Trường HSQ Đồng Đế,  Liên Đoàn 72 Y Dược; Bệnh Xá Quân Khuyển , Sở 5 Mãi Dịch, ở Nha Trang; các Trung Tâm Huấn Luyện Pháo Binh, BĐQ Dục Mỹ, Lam Sơn, ở Ninh Hòa; TTHL/HQ/Cam Ranh; Trung Tâm Hồi Lực, Bộ Chỉ Huy Phòng Thủ Căn Cứ Cam Ranh, BCH5TV và các đơn vị trực thuộc: BCH/QV5 và Căn Cứ Tiếp Liên, LĐ55 Đạn Dược, Liên Đoàn 5 Vận Tải, Trung Tâm Bảo Toàn Trung Hạng, Đoàn Bảo Toàn Cam Ranh, Tiểu Đoàn 662 Khai Thác Truyền Tin, Khu Quân Sản Tạo Tác và Chi Khu Khai Thác Tiện Nghi Cam Ranh;  các kho tàng quân nhu, nhiên liệu, đạn dược … cầu Long Hồ nối liền đất liền và bán đảo Cam Ranh còn nguyên vẹn, bỏ lại nguyên vẹn.

Bán đảo Cam Ranh, do công binh Quân Đôi Hoa Kỳ xây dựng từ năm 1965, trở thành một thành phố bán đảo nổi tuyệt đẹp đầy đủ mọi tiện nghi hiện đại với đường sá, cầu cống, kho nhiên liệu với những bồn chứa hàng trăm ngàn ga lông xăng; nhà máy nhiệt điện, cung cấp điện sinh hoạt và phòng thủ cho toàn bán đảo 24/24 giờ một ngày dường như vô tận; bến tàu với 5-7 cầu tàu; một phi trường tối tân với 2 phi đạo dành cho các máy bay phản lực chiến đấu, máy bay vận tải khổng lồ, và trực thăng tấp nập lên, xuống  lên xuống hàng ngày ; một hanga vĩ đại khép kín với tất cả những cơ xưởng dành cho máy bay vận tải khổng lồ vào đậu bên trong để bảo trì, sửa chữa ; những doanh trại rộng lớn, bao la đã từng là nơi ở và làm việc của trên 90 ngàn quân nhân Hoa Kỳ và nhân viên dân sự thuộc đệ tam quốc tịch.

Bỏ lại Cam Ranh, chúng tôi ra đi với hai bàn tay trắng theo cách riêng và phương tiện của mình. Tuy nhiên, rất may, cho đến khi buộc phải di tản, Cam Ranh vẫn bình yên; không có người phá kho hàng hôi của; không có tiếng súng nổ; không một đám cháy; không có bóng dáng cộng quân, kể cả tiểu đoàn Đặc Công Thuỷ CS tại địa phương – đã từ lâu vô phương hoạt động.

Cam Ranh đó! Chỉ như một thoáng trong mơ, chỉ một khoảnh khắc nữa thôi đã trở thành dĩ vãng, mang theo những mong ước tuyệt vời về một miền Nam phú cường sau khi chiến tranh chấm dứt. Tôi còn nhớ trong một lần đi xuống làng Cam Ranh ăn bữa cơm chiều ở một quán ăn với các món ngon miệng như canh chua cá mú, cá mú kho tộ, lòng heo chấm mắm nêm, cơm gạo tám thơm; Trung Tá Đoàn Ngọc Khiết, TP/KHHL, hào hứng nói với tôi về tương lai tươi sáng của Cam Ranh. Ông nói Cam Ranh rồi đây sẽ thay thế cho cảng Singapore, vì địa thế, cảng biển Cam Ranh thuận tiện hơn, an toàn hơn. Hàng năm Cam Ranh sẽ tiếp đón hàng chục ngàn thương thuyền khắp nơi đổ về. Cam Ranh sẽ tiếp nhận và là nơi trung chuyển hàng triệu tấn hàng đi lên miền Bắc Á bằng một con đường xe lửa được thiết lập từ trong bán đảo, chạy qua cầu Long Hồ, ra QL 1 nhập vào đường xe lửa xuyên Việt, chạy qua miền Trung, ra miền Bắc, chạy thẳng sang Tầu, lên Bắc Á. Sau khi các đơn vị tiếp vận thuộc BCH5TV di chuyển từ phía Nam lên phía Bắc bán đảo, phía Nam sẽ xây dựng khu kỹ nghệ, hệ thống kho bãi chứa hàng, xây dựng thiết lập thêm nhiều cầu tàu để tàu cặp bến và bốc hàng. Hiện nay thì có nhà máy Sữa Foremost đang hoạt động. Một kế hoạch phát triển miền Nam thời hậu chiến để người dân miền Nam sống trong thanh bình, hạnh phúc, trù phú khiến tôi nghe Ông nói mà cảm thấy ấm lòng. Nhưng bây giờ Cam Ranh sắp rơi vào tay quân CSBV và niềm mơ ước, náo nức trong tôi tắt lịm.

Đứng trên boong cơ xưởng hạm HQ800, tôi dõi mắt về hướng Phan Rang, phía Nam; tôi quay đầu nhìn về Nha Trang, phía bắc; Đặc Khu Cam Ranh, ở Ba Ngòi, phía Tây; nhìn lại lần chót Cam Ranh Bay đang lùi dần lại đằng sau. Tôi ngậm ngùi nói lời chào nhói buốt tâm hồn: “Tạm biệt Nha Trang! Tạm biệt Phan Rang! Tạm biệt Cam Ranh! Một phần đời ta ở đó! Một phần đời ta ở đó!”

Trời trong xanh, ánh nắng ngày đầu Tháng 4/1975 chan hòa trên biển xanh cát trắng, vùng biển thân yêu của Tổ Quốc. Sóng nhẹ lăn tăn, HQ 800 lướt sóng trùng dương hướng mũi về miền Nam, ra khơi. Chuyến hải hành bắt đầu.

Đứng sát lan can tàu, tôi suy nghĩ mông lung về những diễn tiến xảy ra dồn dập trong vòng hơn 20 ngày vừa qua. Từ sự kiện Ban Mê Thuột bị CSBV đánh chiếm đến sự triệt thoái của Quân Đoàn II và QĐ I, tất cả vượt ra ngoài sự tưởng tượng của một người lính bình thường. Là một người lính sống và chiến đấu vì lý tưởng tự do trong thời chinh chiến, giờ đây tâm hồn tôi rướm máu.

Một người lính trẻ trờ tới đứng sát bên tôi. Người lính rất trẻ, gương mặt tuấn tú, quân phục gọn gàng tươm tất. Nhìn bảng tên và phù hiệu đơn vị, tôi biết Em tên Hùng, thuộc Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Chúng tôi trò chuyện với nhau.

–    Hùng à! Em nhập ngũ rồi ra đơn vị bao lâu. Gia đình Em ở đâu? Tôi hỏi.

–    Em nhập ngũ hơn một năm thôi. Thụ huấn ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung xong, Em được thuyên chuyển ra SĐ 22. Gia đình, cha-mẹ Em ở Ngã Ba Ông Tạ.  Ra đơn vị em lội rừng không à!

–    Phù hiệu của Sư Đoàn 22 là trái núi nhấp nhô mà. Không lội rừng thì cũng trèo núi phải không? Hùng cười. Em hỏi:

–    Ngoài Bắc, Trung Uý ở đâu? Vào Nam năm 1954 phải không?

–    Quê nội ở Hưng Yên, quê ngoại, Phúc Yên. Tuổi thơ bị Việt Minh cướp đoạt. Cha bị Việt Minh bắt. May được một thanh niên con của một ông tá điền làm ruộng cho Ông Ngoại cứu. Năm 1947, nhà bị Việt Minh phá thành bình địa, bảo là tiêu thổ kháng chiến. Hai năm sau, tháng 8 năm 1949, gia đình trốn thoát Việt Minh, theo Cha Mẹ đi trên 3 chiếc sà lan của Quân đội Pháp ghép lại làm một, xuôi giòng sông Hồng cặp bến Phà gần Viễn Đông Bác Cổ, về Hà Nội. Lên trung học, theo gia đình di cư vào Nam. Học xong trung học, đi lính theo nhân sinh quan của Uy Viễn Tướng Công “Làm trai cho đáng nên trai. Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan.” Tôi nói một hơi!

–    Là Cụ Nguyễn Công Trứ phải không? Lúc di cư, em còn bé tí, chẳng biết gì về Bắc. Là dân di cư, lớn lên em cũng đi lính.

–    Không cứ gì thanh niên Bắc đi lính, đa số thanh niên miền Nam, miền Trung và các sắc dân thiểu số cũng gia nhập quân đội để chống CSBV và phiến cộng. Tất cả chiến đấu để bảo vệ miền Nam tự do, đơn giản như thế thôi.

–    Em thực không hiểu tại sao mình bỏ QK2, rút về Nha Trang rồi QK1 cũng rút, để rồi bây giờ phải bỏ cả Nha Trang, Cam Ranh di tản như thế này?

–    Mới đây, trưa ngày Thứ hai, một trung tá thuộc SĐ1BB cũng đã hỏi một câu tương tự như Em khi Ông đứng cùng một đoàn 5, 6 sĩ quan cấp tá của QĐ I trước cửa Bộ Chỉ Huy QuânVận 5 (CHQV5) sau khi từ sàlan lên bờ tại bến tàu Cam Ranh.

Sự thực không có gì là khó hiểu. Tất cả là do lệnh bỏ QĐII, rút về duyên hải của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Tư  Lệnh Quân Đội trong buổi họp ngày 14 -3 (tại tòa Bạch Cung Phương Đông do BCH5TV cai quản trong bán đảo Cam Ranh) sau khi cộng quân đánh chiếm Ban Mê Thuột. Cuộc triệt thoái trên liên Tỉnh Lộ 7 B đã thất bại nặng nề về người và của vì quân CS đã đuổi theo đánh phá. Hàng chục ngàn thường dân, quân nhân; hàng ngàn xe cộ, quân sự, cơ giới, chiến xa và xe dân sự di chuyển chen chúc trên một con đường đã bỏ hoang từ lâu không sử dụng chẳng khác nào những con cá nằm trong lưới.

Sau đó, Tổng Thống Thiệu lại ra lệnh rút bỏ QĐI, như một mắt xích đứt, các mắt xích kế tiếp đứt theo. Khi quân, dân các tỉnh phía bắc vùng 1 di tản, phương tiện chuyên chở không có; phi trường Đà Nẵng tê liệt, quân dân dồn cục là bia sống cho quân CSBV bắn giết; tàu HQ khó khăn vào bờ biển đón quân, dân. Cấp chỉ huy chiến trường tuyệt vọng tự sát, quân lính không có người chỉ huy, mất đơn vị cũng tự sát, tản mác. Còn nỗi đau thương, uất nghẹn nào bằng!

Em biết không, lệnh cho quân đội rút đi, lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Dân Sự Phòng Vệ và dân chúng tại địa phương bị bỏ mặc. Từ giữa năm 1954 đến nay, quân đội luôn là thành trì bảo vệ dân chúng. Mỗi khi có cuộc giao tranh, người dân luôn bỏ nhà cửa ruộng vườn để chạy theo người lính quốc gia. Tết Mậu Thân 1968, CSBV chỉ tạm chiếm Huế trong một tháng trời, đã giết gần  6 ngàn đồng bào; trong mùa hè đỏ lửa 72, người dân Quảng Trị chạy trên Đại Lộ Kinh Hoàng để về vùng Quốc gia đã bị CSBV thẳng tay bắn giết. Không nói đâu xa, bây giờ Em hãy nhìn trên boong con tàu này, có phải dân chúng, gia đình binh sĩ chen chúc lẫn binh lính không. Đó chính vì người dân không muốn sống dưới sự cai trị tàn bạo của CS. Khi quân đội rút đi, người dân chạy theo sau. Khó có vị sĩ quan nào có thể vừa chỉ huy binh lính chiến đấu, vừa lo bảo vệ dân chúng chạy giặc. Cũng vậy, có người lính nào vừa đánh giặc vừa lo che chở cho gia đình trong cơn hoảng loạn được không. Và đó là thảm họa cho đoàn quân và dân di tản.

Một nguyên nhân khác dễ hiểu hơn là người Mỹ đã rút quân đội về nước sau khi hiệp định Paris về Việt Nam đã được ký kết vào đầu năm 1973. Báo chí nói trong năm 1975, Mỹ sẽ cắt viện trợ và ngưng hẳn viện trợ cho VNCH. Chúng ta đã phải thi hành chương trình Chân Trời Mới, hay kế hoạch Tự Túc Tự Cường; bom, đạn, xăng dầu, tiếp liệu phẩm xài hạn chế; máy bay một số hàng trăm chiếc đã nằm ụ. Em có súng, nhưng rồi không có đạn tiếp tế bổ sung, rồi làm sao. Xa hơn nữa, trận giao hữu bóng bàn ngoại giao giữa những hảo thủ bóng bàn Trung Cộng và tuyển thủ Mỹ vào tháng 5 năm 1971 tại Thượng Hải, và cuộc gặp gỡ giữa Mao Trạch Đông và Tổng Thống Nixon, Hoa Kỳ tại Hoa lục đã là chỉ dấu cho thấy nhu cầu VNCH là tiền đồn chống cộng của Thế giới Tự Do không cần thiết nữa.

Là một sĩ quan tham mưu tiếp vận cấp úy, Trung Úy tự hào khi thấy QLVNCH đã vừa xây dựng miền Nam, vừa chiến đấu với CSBV và phiến cộng tay sai trong suốt 20 năm nay; chúng ta dù bị bó tay trong công tác phòng thủ, không được phép đổ quân ra tấn công hậu phương lớn miền Bắc của CSBV nhưng chúng ta vẫn đứng vững. Ngay cả khi CSBV và phiến quân MTGPMN bất thần đánh trộm trong dịp tết Mậu Thân 1968; ngay cả khi chúng tung hàng nhiều quân đoàn với xe tăng và đại pháo cùng lúc tấn công Quảng Trị, QĐI; Kontum, QĐII; và An Lộc, Bình Long, QĐIII. QLVNCH và người dân đã anh dũng đánh trả và chiến thắng. Bây giờ tình hình đã khác, quân viện đã không còn, e rằng chúng ta sẽ gặp khó khăn hơn trong những ngày sắp tới.

Người lính trẻ nghe tôi nói một hơi dài, Em lặng người thẫn thờ đứng im. Bất chợt, Em nói:

–    Để em đi mua cái gì cho Trung Uý ăn. Trưa rồi! Em có khối tiền, mấy tháng lương còn nguyên. Ở trong rừng đâu có tiêu gì.

Ngay tức thì, Hùng đi nhanh về phía cabin tàu. Tôi không kịp nói lời nào.  Một chập sau, Hùng đến bên tôi.

–    Em mua cho Trung Uý gói mì trụng nước sôi. Trung Uý ăn đi. Em cũng mua cho Trung Uý hai lon sữa bò, để dành khi nào cần. Chào Trung Uý.

Nói xong, Hùng bỏ đi ngay lẫn vào những người lính trên boong tàu. Tôi đứng yên, không kịp trả lại tiền cho Hùng. Tôi lúng túng đưa tay cầm bao nylon đựng gói mì gói, tay kia cầm bao nylon đựng hai lon sữa Ông Thọ, lòng tràn đầy xúc động trước tấm chân tình của ngưới lính trẻ. Chúng tôi, hai người lính vừa mất đơn vị, gặp nhau trong khoảnh khắc của buổi sáng hôm nay, chuyện trò với nhau chưa bao lâu đã trở nên thân thiết. Tình cảm Hùng dành cho tôi, trước đây tôi cũng đã từng dành cho những người lính nghĩa quân người Việt, Thượng, Chàm, Hoa ở một quận cận sơn thuộc tiểu khu Ninh Thuận khi tôi là đội trưởng ANTB quận trong 5 năm rưỡi trời; tôi cũng đã thương yêu chăm sóc những người lính Việt, Thượng thuộc đại đội THD/BCH5TV cũng trong thời gian 5 năm rưỡi trời. Bây giờ đây, tôi được một người Em quân đội trên bước đường di tản chăm sóc. Tình ‘huynh đệ chi binh’ vào lúc này mới cao quý làm sao!

Không cảm thấy đói, cũng không còn lòng dạ nào ăn nhưng tôi vẫn ăn hết gói mì. Liên tưởng đến người lính tác chiến ngoài chiến trường, những người lính thường xuyên đánh nhau với quân thù; nhịn đói, khát dưới giao thông hào, hầm chiến đấu; ăn gạo sấy trụng nước lạnh; uống nước vũng, tôi còn sướng hơn họ gấp nhiều lần. Đối với tôi, đó là những người lính VNCH ‘Anh Hùng’. Tôi ngưỡng mộ, chiêm ngưỡng và thương yêu rất mực người Lính VNCH trong suốt cuộc đời này.

Mặt trời đã đứng bóng. Nắng chói trang. Tôi thẫn thờ bước dần về phía mũi tàu, leo lên khu vực có hai khẩu đại pháo. Em tôi và các bạn vẫn ngồi yên vị trên hai khẩu súng; bên phải, hai người ngồi trên một khẩu súng, chụm đầu vào nhau; bên trái, cũng trên một khẩu súng, Em tôi cùng một người bạn ngồi một phía trên cao, một người khác ngồi phía dưới cũng quay mặt vào nhau. Bốn người đang say mê chơi ‘domino’ trên bàn cờ là một tấm carton cứng xếp đôi cỡ một bàn cờ tướng, đặt chính giữa trên nòng hai khẩu súng. Em tôi ngồi chầu rìa, đang lui cui nướng lạp xưởng trên ngọn lửa xanh rờn leo lét cháy được đốt bằng rượu Whisky trong một chiếc dĩa sứ mà Em tôi và các bạn đã mang theo khi rời nơi ở của tôi ở BCH5TV. Tôi tưởng chừng Em tôi và các bạn không ưu tư, lo lắng gì trong thời điểm khó khăn hiện tại. Có lẽ là quân y sĩ , các Em đã dày dạn kinh nghiệm và luôn thích nghi với những hoàn cảnh gian nan nguy hiểm ngoài chiến trường rồi chăng.

Nhìn Em tôi và các bạn, đầu trần, không quân phục binh chủng TQLC, không quân trang, quân dụng; tất cả đã phải bỏ lại để xuống biển bơi ra tàu HQ ở ngoài khơi Đà Nẵng. Tôi xót xa trong lòng. Nhiều người khác bất hạnh hơn, đã thương vong vì cộng quân pháo kích trên bờ; nhiều người khác nữa đã tử nạn vì đạn pháo hoặc không biết bơi trong sóng nước trùng dương. Tôi chợt nhớ trong bóp đựng giấy tờ tùy thân của tôi còn mang theo một tấm hình 4×6 chụp ngoài chiến trường Quảng Trị. Tấm hình chụp hai quân y sĩ Cọp Biển: Y sĩ Trung Uý TQLC Trung Chỉnh và Em tôi, Y sĩ TQLC Bùi Ngọc Bảng; cả hai đang vui vẻ tươi cười hân hoan khi ngồi trên pháo tháp của một chiếc xe tăng T-54 của cộng quân còn nguyên vẹn bị các chiến sĩ TQLC bắt sống. Thời gian đã qua, hoàn cảnh nay đã khác.

Lớp Em tôi, những Bác sĩ TQLC Nguyễn Quang Khoa, Lê Văn Ngoạn, Phạm Ngọc Trâm, Bùi Văn Rậu đang ngồi trên hai khẩu đại bác của HQ 800, và Bác Sĩ Trung Chỉnh, Phạm Vũ Bằng  ở đơn vị TQLC khác; những Bác sĩ Phạm Gia Cổn, Đặng Vũ Báy, Nhảy Dù; Nguyễn Mạnh Tiến (BĐQ) Thại, Một, Vân, Như (Bộ Binh)… tất cả đều rời giảng đường Y Khoa Đại  Học Đường Sàigòn và Trường Đại Học Quân Y, để rồi tất cả đều khoác chiến y, mũ đỏ, mũ xanh, mũ nâu, mũ đen nhuốm bụi sa trường; cùng với bao lớp trai thế hệ VNCH lao mình vào vòng lửa đạn.

Yem tro ham My Tho HQ.800 .jpg

HQ 800 từ từ xuôi về phương Nam. Biển lặng sóng êm. Trời sập tối, se lạnh. Màn đêm buông xuống. Trăng hạ tuần mờ mờ sương khói. Anh Em chúng tôi quây quần bên nhau ngồi dưới hai khẩu đại pháo qua đêm.

Bình minh một này mới lại bắt đầu. Chúng tôi cũng như đa số những người di tản trên con tàu HQ không có nước nôi để rửa mặt, xúc miệng, đánh răng. Cánh đàn ông lính tráng dường như đã quen với cuộc sống đầy gian truân cực khổ nhưng còn phụ nữ và trẻ nhỏ trong hoàn cảnh này gặp khó khăn khổ sở biết bao. Không biết có bao nhiêu gia đình mang theo thực phẩm, nước uống; không biết có bao nhiêu người chỉ lo di chuyển người và mang theo mớ đồ đạc cần dùng, nhưng thực phẩm thì không. Cũng như Anh Em chúng tôi, khi ra đi, chỉ nghĩ rằng qua đêm ở BTL/V2DH rồi sẽ về lại BCH5TV, nên không nghĩ rằng sẽ phải mang theo lương khô, vì thế núi C-Ration vẫn còn nằm im trên sân cờ BCH.

Chiều hoàng hôn trên biển xanh tĩnh lặng, trên HQ 800 cũng êm ả lạ thường, không có ai đi qua đi lại, có lẽ vì mệt mỏi cả về tinh thần lẫn thể xác. Trên không trung, vài con hải âu bay lượn trên HQ800, cất tiếng kêu rời rạc, lẻ loi. Bỗng nhiên có tiếng kêu từ boong tàu vang lên:

–    Hùng ơi, mi ở đâu, cháu mi sắp chết khát rồi!

Tôi nghe tiếng kêu rõ ràng nhưng có phải người được kêu là tôi không, hoặc là người khác, trùng tên như Binh nhì Hùng chẳng hạn; vả lại, tôi không có thân nhân, con cháu đi trên tàu, cũng chua từng có ai xưng hô với tôi như vậy. Tuy nhiên, tôi cũng đi nhanh về phía lan can nhoài mình xuống phía dưới. Ngay tức thì, tôi trông thấy gia đình Đại Uý Bùi Văn Pha, Thuộc Phòng Bảo Toàn/ BCH5TV. Ông và phu nhân cùng các con quây quần bên nhau. Trên tay bà Pha đang bế đứa con nhỏ. Trông thấy tôi ông nói:

–    Mi có sữa cho cháu mi đi, nó sắp chết khát rồi.

Không nghe gì thêm, tôi trở về chỗ ngồi, cầm lên bao nylon có đựng hai hộp sữa Ông Thọ, trở lại lan can tàu thả hai hộp sữa xuống.

–    Cũng may có hai hộp sữa của một người Em ở SĐ 22 mới cho, thôi Đại Uý cho cháu dùng tạm.

Đại Uý Pha nói hai tiếng cám ơn. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Trong suốt thời gian hai ngày trên tàu, dù khát, tôi cũng không hề đụng đến hai hộp sữa do Hùng mua cho với lời dặn “để dành khi cần”, bây giờ, hai hộp sữa thật hữu dụng. Ít ra thì cháu bé cũng có sữa uống trong cơn hoạn nạn.

Một buổi tối nữa ập đến. HQ 800 đã đi ba ngày hai đêm. Trên tàu bắt đầu chuyển động, xôn xao khi thấy đèn đêm lấp lánh trên bờ. Mọi người bảo nhau, tàu vô Vũng Tàu, tàu vô Vũng Tàu! Nhưng rồi niềm vui vụt tắt khi tàu quay mũi ra khơi. Vũng Tàu không cho HQ800 vô vì tàu bè khắp nơi chở đồng bào và binh sĩ di tản cập bến quá đông, không còn chỗ chứa. Theo lệnh Trung Ương, HQ 800 được lệnh đi Phú Quốc. Màn đêm buống xuống trên đại dương bao la, trong không khí se lạnh, Anh Em chúng tôi ngồi ngủ gà ngủ gật qua đêm.

PHÚ QUỐC

Thứ Bảy, ngày 5 tháng 4 năm 1975

7 giờ sáng, mọi người trên tàu như tỉnh hẳn ra sau một chuyến hải hành thiếu thốn mọi tiện nghi sinh hoạt kéo dài khi HQ 800 cặp bến Phú Quốc. Nhưng tàu không cặp bến sát bờ, lý do phía trong đã có nhiều xà lan, tàu thuyền nằm ụ. Mọi người được lệnh ở trên tàu, chờ lệnh. Tuy vậy, Anh em chúng tôi di chuyển từ khu vực mũi tàu nơi có hai khẩu đại bác xuống boong tàu. Em tôi và các bạn bảo mình cứ lên bờ đi. Và rồi Anh em chúng tôi lần lượt xuống tàu, chuyền từ xà lan này qua xà lan khác để lên bờ. Vừa đặt chân lên bờ, Bác sĩ TQLC Nguyễn Quang Khoa nói với tôi:

–    Em có người bạn là chỉ huy trưởng tiếp vận ở đây, Em vô gặp bạn em rồi trở lại. Anh và các bạn ở đây chờ.

Nói xong, Bác Sĩ Khoa đi ngay. Chẳng bao lâu sau, Bác Sĩ Khoa và một quân nhân đi ra chỗ chúng tôi đứng chờ. Bác Sĩ Khoa giới thiệu chúng tôi lẫn nhau. Thiếu Tá Mai, bạn thân thời trung học, hiện là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Phú Quốc (TT/YTTV/PQ). Thiếu Tá Mai vui vẻ mời Anh em chúng tôi về tư gia của ông nghỉ ngơi. Như vậy, chúng tôi không phải vô tạm trú tại trại tạm cư.

Quan nhan va dong bao di tan thang 4 nam 1975 .jpg

Tôi chú ý quan sát hoạt động của bến tàu Phú Quốc. Từ bến tàu đi lên, duy nhất một con đường chạy vô trung tâm đảo. Trên đường, lũ lượt dân chúng, quân nhân và gia đình từ các tàu, thuyền, xà lan ồ ạt lên bờ. Mọi người tay xách, nách mang, dắt dìu nhau thất thểu đi bộ vô đảo. Khung cảnh này tái diễn y như tình cảnh đoàn người di tản từ QK1 bằng đường biển đổ bộ lên bến tàu Cam Ranh trong mấy ngày cuối Tháng 3 mà tôi đã từng chứng kiến. Hai bên đường đi có binh sĩ Địa Phương Quân cảnh giới, an toàn. Có một số nút chặn do Quân Cảnh phụ trách để kiểm soát hành lý của những người khả nghi. Xa xa khoảng nửa cây số trước mặt là một dãy nhà trệt giống như cư xá gia binh nằm bên trái, đối diện là phi trường Phú Quốc, ngăn cách bằng con đường huyết mạch này. Cũng ngay trên đoạn đường này, có nhiều trạm đặt hai bên đường để cung cấp thức ăn sáng cho dân tỵ nạn như bánh mì, đường cát trắng, bánh ú, bánh tét còn nóng hổi được máy bay của Air Việt Nam chở từ Sàigòn đến. Nhiều máy bay vận tải chở phẩm vật cứu trợ bay lượng vòng vòng trên bầu trời Phú quốc để chờ đến lượt đáp xuống phi trường. Phải kể rằng, việc Trung Ương và Địa phương tiếp đón chăm lo cho đời sống đồng bào buổi đầu như vậy là vô cùng chu đáo.

Thiếu Tá Mai cùng Em tôi và các bạn rảo bước đi trước. Tôi xách theo chiếc Samsonite cỡ trung lẽo đẽo theo sau. Bất chợt, một HSQ Quân Cảnh ách tôi lại, yêu cầu mở Samsonite để lục soát. Tôi mở va li. Người HSQ Quân Cảnh lật qua quần áo, giấy tờ tùy thân. Anh lôi ra một bộ ‘poignard’, nói:

–    Tôi tịch thu bộ dao găm này.

–    Không sao, tôi sẽ báo cho cấp chỉ huy Quân Cảnh về việc này.

Nghe tôi nói, viên HSQ Quân Cảnh sắp bộ sưu tập dao găm vô vali trở lại và nói:

–    Thôi Trung Uý vô đảo đi.

Sự thực, bộ sưu tập dao găm không có giá trị gì nhưng đó là những kỷ vật trong đời quân ngũ, một thứ đồ chơi trong chiến tranh của tôi. Cùng với sách vở, báo chí tôi đã gom góp trong gần 20 năm, những món đồ chơi trong chiến tranh là thú vui của tôi. Nói đến sách vở, báo chí, tôi có trọn bộ tạp chí Chỉ Đạo, Cơ Quan Ngôn Luận của Bộ Quốc Phòng, do Chủ Bút Nguyễn Mạnh Côn gửi tặng hàng tháng; tạp chí Phụng Sự của Quân Đội, Chiến Sĩ Cộng Hòa của Nha Chiến Tranh Tâm Lý Chiến, do những  người Anh Văn Nghệ Quân Đội Huy Sơn, Viêm Hồng, Lan Đình, Tường Linh gửi tặng và tạp chí Thế Giới Tự Do của Liên Vụ Thông Tin Hoa Kỳ. Tất cả sách báo đã mất hết, chỉ còn bộ dao găm này.

Trên đường đi, tôi dừng lại một trạm phát thức ăn, nhận một ổ bánh mì nóng giòn với đường cát trắng lót lòng. Tôi ngậm ngùi tưởng nhớ đến những ngày tháng quân trường cách nay hàng chục năm, mỗi khi trước giờ ra bãi tập đều có dịp ăn sáng bánh mì đường cát trắng hoặc bánh ú nhân chuối sứ tím rịm tươm mật ngọt. Ôi những ngày xưa thân ái ấy nay còn đâu!

Đến tư gia Thiếu Tá Mai, Anh em chúng tôi tìm nơi để đồ đạc, chỉ là chiếc ‘sac maranh’ đựng quân trang và chiếc Samsonite của tôi thôi. Sau đó chúng tôi làm vệ sinh thân thể; phu nhân Thiếu Tá Mai ngay lập tức đã cho chúng tôi một bữa ăn sáng ngon miệng.

Tôi ra đứng trước hiên nhà, quan sát đoàn người di tản đi vô trong các trại tạm cư. Tốp này đi bộ, tốp khác có xe GMC của TTYTTV/Phú Quốc chở. Bên kia đường, ngăn cách bằng một hàng rào gỗ đơn sơ, phi trường hoạt động bốc rỡ hàng từ trên máy bay xuống rộn rịp, nhưng có vẻ như thiếu nhân viên điều hành. Phẩm vật cứu trợ, tiếp tế bốc rỡ chậm vì có ít nhân viên không quân và dường như chỉ có duy nhất một chiếc xe nâng hàng ‘forlift’ nhỏ. Trước mặt tôi là một HQ Thiếu Uý còn trẻ, dáng dấp phong trần trong quân phục hải quân bạc màu. Từ xa, một Hải Quân Đại Tá đến gần, nói chuyện thân mật với viên Thiếu Uý. Tôi nhìn bảng tên của ông: Thiện. Thì ra ông là HQ Đại Tá Nguyễn Văn Thiện, TLV4 DH. BộTư Lệnh đóng ở Phú Quốc. Tôi nhìn ngắm vị đại tá. Trong bộ quân phục HQ bạc màu, đầu trần, đi dày thấp cổ, tóc màu tiêu muối, da ngăm đen, mắt sáng tinh anh, phong thái và dáng dấp của ông nhuốm đầy vẻ nắng gió và sóng nước trùng dương. Sau khi hai người chia tay, viên Thiếu Uý ghé vô một quán nước ven đường cùng dãy tư gia của Thiếu Tá Mai. Quán nước này do một phụ nữ duyên dáng mặn mà làm chủ. Được biết chị là người tình của viên Thiếu Uý, từ Sàigòn ra đây sinh sống.

Tôi đặc biệt chú ý đến phi trường nhỏ Phú Quốc vào lúc này đang phải chật vật bốc rỡ nhu yếu phẩm từ Sài gòn chở ra tiếp tế cho đồng bào và binh sĩ hiện đang tạm trú tại các trại tạm cư trước đây là các trại giam tù phiến cộng. Không chỉ có máy bay vận tải của Air Việt Nam, còn có hằng hà máy bay vận tải của Không Lực Hoàng Gia Úc bay lượn trên vòm trời Phú quốc để chờ đáp xuống phi trường nhả ra đủ thứ nhu yếu phẩm tiếp tế. Ngay từ sáng sớm, máy bay của Air Việt Nam đã chở theo hàng trăm cần xé bánh mì, bánh tét, bánh ú nóng hổi để cung cấp cho dân tỵ nạn ăn sáng, và cả thực phẩm đóng hộp như thịt, cá, mì gói, sữa đặc… Rồi thì các vật dụng khác như quần áo, chăn, mùng, chiếu ngủ, giày dép; thuốc men; đặc biệt đồ dùng gia dụng gồm đủ thứ nồi niêu soong chảo bằng nhôm chất đống trong các thùng giấy carton, cần xé để đáp ứng như cầu của hàng chục ngàn người đã đổ dồn về Phú Quốc. Tuyệt nhiên không có sự tiếp tế từ phía Hoa Kỳ!

Sáng Chủ Nhật, sau khi ăn sáng xong, tôi ra bên ngoài đứng chơi cho hết thì giờ. Trông thấy một nền nhà không mái chỉ cách tư gia Thiếu Tá Mai một hai căn, có một bàn làm việc của một Thượng Sĩ Nhất và một Trung Sĩ Quân Cảnh Điều Tra Tư Pháp (QC/ĐTTP), tôi đến gần hơn, thơ thẩn ở đó; dường như biết tôi là người thân của Thiếu Tá Mai nên hai ông không nói gì.

Một chập sau, một quân nhân Địa Phương Quân áp giải một thanh niên và hai thiếu nữ đến bàn giấy của Quân Cảnh. Tôi chăm chú quan sát. Người thanh niên, người tầm thước, rất trẻ, ở trần, mặc duy nhất một chiếc quần sà lỏn màu đỏ tươi. Khuôn mặt khôi ngô, tóc cắt ngắn, thân mình nở nang như một lực sĩ đẹp. Hai tay bị còng phía sau. Hai thiếu nữ có dáng dấp gái quê, tuổi chừng ngoài 20, mỗi cô xách một chiếc va li (nghe nói đựng đầy tang vật, gồm tiền bạc, nữ trang). Được biết thanh niên này là một quân nhân của một đơn vị đặc biệt ưu tú của quân đội (tôi xin được miễn nêu tên đơn vị của anh. Chính tôi, khi ra trường lọt vào tốp 13/1665 SVSQ/TB/TĐ; tôi đã được đơn vị này tuyển lựa, nhưng xin phép được từ chối vì muốn về lại ngành ANTB cũ). Khi di tản trên tàu, anh đã bắt cóc, cướp, cưỡng hiếp một thiếu nữ là ái nữ của một sĩ quan cấp tá rồi giết chết ông khi ông phản ứng. Hai thiếu nữ bị cưỡng bách xách va li theo anh. Khi ở trên tàu, anh bị coi như hung thần, nhưng khi tàu cặp bến, anh đã nhanh chóng bị lực lượng an ninh Phú Quốc thanh lọc và bắt giữ sau khi đồng bào tố cáo. Một điều đáng ghi nhận, không một tên du đãng nào, một tên cướp của giết người nào từ khắp nơi di tản, trà trộn cùng đồng bào trên tàu thuyền, khi lên bờ Phú Quốc mà không bị bắt, bị xử tội như tên 5 Vĩnh hay còn gọi là Vĩnh cụt, một hung thần trên QL 1, đoạn cây số 9 Cam Ranh.

Ngay tức thì, vị Tư lệnh Hải Quân đến bên bàn làm việc của Quân Cảnh/ĐTTP. Ông nói với hai người Quân Cảnh gì đó, tôi không nghe rõ. Sau đó, Thượng Sĩ Nhất Quân Cảnh nói:

–  Trình Tư Lệnh, chúng tôi không thể làm vi bằng khẩu cung trường hợp này được. Làm vi bằng khẩu cung thì phải chuyển nội vụ qua tòa án mặt trận. Trường hợp này phải xử theo luật thời chiến.

Hải Quân Đại Tá Thiện không nói gì thêm. Ông bỏ đi. Người thanh niên can phạm và hai thiếu nữ cũng bị giải đi ngay. Tôi biết số phận người thanh niên tội phạm đã được quyết định. Trong những ngày gần đây, những tên cướp của, giết người khi đặt chân lên Phú Quốc đều bị bắt giữ và bị xử bắn.

Tôi đang định rời khu vực này thì một quân nhân khác bị giải đến. Người quân nhân này là một Trung sĩ Nhất, đầu đội mũ đen, khoảng gần 30 tuổi, da đen sạm, mặc quân phục với phù hiệu thiếp giáp. Anh không bị còng, vai mang ba lô. Người lính áp giải đặt lên bàn làm việc một xấp bạc mới 500.000$ rồi giao Trung sĩ Nhất thiết giáp cho QC. Trung Sĩ Quân Cảnh mở ba lô lục soát, nhưng không có gì khác. Sau đó ông yêu cầu người HSQ thiết giáp đưa bóp tiền cho ông. Lục soát bóp, ông rút ra một xấp tiền khá nhiều, đủ thứ lại giấy 500, 100, 50 chục… Trung sĩ Quân Cảnh thẩm vấn:

– Số tiền mới này ở đâu anh có?

– Tiền này của gia đình tôi chạy giặc mang theo.

– Anh có bao nhiêu tiền trong bóp.

Người HSQ thiết giáp lúng túng, di di đôi giày trận, không trả lời. Nhìn kỹ người HSQ thiết giáp, Tôi đã nhận ra anh. Ngay lập tức, tôi muốn giúp người lính này thoát khỏi cảnh tội tình, cho dù là không chứng minh được vì sao anh có một số tiền khá lớn như thế. Tôi đến gần anh hơn, hỏi:

– Bây giờ chi đoàn ra sao mà anh di tản một mình đến đây.

Không phiền vì tôi xen ngang vô công việc, ông Thượng Sĩ Nhất QC/ĐTTP nhìn tôi, hỏi:

–  Trung Uý biết anh này sao?

– Tôi biết anh cùng Chi đoàn Thiết Giáp đóng ở Sông Mao được tăng phái ra mặt trận Khánh Dương, Nha Trang; trên đường ra trận, anh ghé vô BCH5TV xin lệnh yểm trợ. Có lẽ đơn vị anh đã tan rã rồi nên mới di tản về đây. Thôi, xin Thượng Sĩ Nhất thông cảm cho anh vô trại tạm cư đi.

Ông Thượng Sĩ Nhất QC/ĐTTP không nói gì, từ tốn bỏ xấp bạc 500.000 đồng vô ba lô và đưa trả cho người lính thiết giáp số tiền lẻ cùng chiếc bóp. Ông nói:

– Thôi anh đi.

Người HSQ thiết giáp, đeo ba lô sau lưng, chụm chân giơ tay chào tôi và hai người QC/ĐTTP, lầm lũi bước đi.

Tôi nói lời cảm ơn hai ông QC/ĐTTP, theo chân người HSQ thiết giáp bước ra ngoài, lòng tràn ngập niềm vui, rảo bước băng qua đường, đi qua chỗ hàng rào trống, vô phi trường.

Trên phi đạo có hai phi cơ đang xuống hàng cứu trợ, một chiếc phi cơ Dakota của Air Việt Nam có toán không quân của phi trường Phú Quốc đang xuống hàng, còn lại là chiếc C-130 sơn màu bạc của Không Quân Hoàng Gia Úc Đại Lợi cũng do chính nhân viên phi hành cơ hữu xuống hàng. Từng nhân viên phi hành một vác các thùng hàng từ trong chuyển dần ra ngoài bửng phía sau. Tôi trèo lên bửng phi cơ tiếp một tay chuyển hàng. Một chập sau, một quân nhân Úc đưa cho tôi một trái mận lớn gần bằng nắm tay da màu tím Huế trông rất hấp dẫn. Cầm trên tay trái mận, nhìn anh, tôi nói “Thank you” nhưng không ăn.

Đang chuyển hàng trên tàu chúng tôi bỗng nghe một loạt đạn nổ giòn phía sau phi cơ; trông ra ngoài xa khoảng 400 mét, chúng tôi thấy một tiểu đội binh sĩ tay cầm súng M16 dàn hàng ngang do một quân nhân chỉ huy. Một người bị bắn nằm sóng soài trên bãi cát. Người quân nhân chỉ huy đi đến bên tử tội, rút súng lục kê vô tai tử tội bắn một phát. Tôi biết ngay đây là tiểu đội thi hành lệnh xử tử những thường dân và quân nhân phạm tội ác giết người, cướp của, cưỡng hiếp, khi lên bờ bị bắt do người dân tố cáo. Xong việc, những người lính dọn dẹp pháp trường đơn sơ được thiết lập ngay trên bãi biển Phú Quốc thơ mộng rồi di chuyển đi. Ngoài xa, vô số chiến hạm, thương thuyền, tàu bè nhấp nhô trên sóng nước chở đồng bào và binh lính di tản từ QK1 và QK 2 đến.

Sau bữa cơm trưa, trò chuyện với Thiếu Tá Mai về nhịp độ bốc dỡ của phi trường, tôi nói:

–     Trên HQ 800 có 15 quân nhân của Toán Điều Không Sư Đoàn 2 Không Quân tăng phái cho BCH5TV, Thiếu Tá ra tàu xin cho cả toán xuống tàu vào làm việc cho phi trường để tiếp nhận hàng cứu trợ thì rất tốt.

–    Tôi đi ngay bây giờ.

20 phút sau, Thiếu Mai cùng 15 binh sĩ SĐ 2 KQ từ bến tàu về đến phi trường. Ngay tức thì, Toán KQ bắt tay vô xuống hàng cứu trợ. Nhịp độ xuống hàng nhanh hơn trước rất nhiều và tàu bay không phải bay vòng vòng chờ đợi lâu trên trời như trước.

Mặt trời sắp lặn, chuyến bay chót đang xuống hàng, tôi từ bên này đường quan sát dòng người di tản từ bến tàu vô trại tiếp cư; từ bên kia đường ngoài hàng rào phi trường, Trung Sĩ Nhất Trưởng Toán Điều Không và một binh sĩ đang sắp sửa băng qua đường, trên vai mỗi người có hai thùng đồ. Tôi nhủ thầm, “có lộc rồi!” Đến trước mặt tôi, Trung Sĩ Nhất nói:

–    Đồ ăn nhiều quá trời! Em mang mấy thùng thịt hộp và mì gói cho Trung Úy ăn đỡ.

–    Không cần đâu Em! Có Thiếu Tá CHT Tiếp Vận ở đây lo hết rồi.

Nhưng nhớ đến những người còn kẹt trên tàu, tôi nói:

–    Thôi, cho Trung Úy trả lại hai thùng thịt hộp, chỉ xin hai thùng mì gói thôi. Cám ơn nhiều nghe!

https://i2.wp.com/www.navsource.org/archives/10/16/1016082114.jpg

Nói xong, nghiêng người thấp xuống cho một người lính đặt lên vai hai thùng mì, tôi đi ra bến tàu. Chẳng bao lâu, HQ 800 đã sừng sững trước mặt. Mọi người vịn tay vô thành tàu nhìn vô đảo. Tôi trông thấy Trung Tá Nguyễn Đình An, vị trưởng phòng KHTK của tôi và một số binh sĩ của BCH5TV. Một người lính của ĐĐ/THD/BCH5TV mừng rỡ dơ cao tay rồi leo xuống tàu, chuyền qua các sà lan, tàu thuyền lên bờ đến với tôi.

Tôi nói:

–    Em đem hai thùng mì này lên tàu chia cho anh em ăn đỡ.

Trên khuôn mặt mệt mỏi, ưu tư của người lính, một nụ cười chân chất, hiền hòa nở ra. Tôi mủi lòng thương cảm biết bao! Kịp khi em vừa leo lên tàu, Trung Tá An đã mau chóng đón lấy hai thùng mì và di chuyển vô trong.

Tôi quay về tư gia Thiếu Tá Mai, suy nghĩ mông lung. Không làm sao có thể diễn tả hết được tình người, nhất là tình huynh đệ trong cơn hoạn nạn, trong sự bế tắc bất ngờ. Thật vậy, chỉ mới rời Bộ Chỉ Huy vào lúc nửa đêm về sáng, đến gần trưa hôm sau, tôi đã được một người em quân đội, không cùng chung đơn vị một ngày, mua cho một gói mì trụng nước sôi và hai hộp sữa đặc để phòng hờ; và mới đây,  chỉ mới vừa lên bờ làm việc trọn một buổi chiều sau gần một tuần lễ không có thực phẩm trên tàu , những người lính Toán Điều Không/SĐ2KQ cùng di tản với tôi,  khi có thực phẩm để dùng đã vội nghĩ  đến và chia xớt cho tôi. Từ tình thương yêu gắn bó của những người lính không cùng chung đơn vị, tôi nghĩ đến hạnh phúc đơn giản nhưng thanh cao tôi được hưởng là kết quả do cha mẹ tôi dạy bảo, do các thầy giáo tôi dạy bảo trong học đường Việt Nam Cộng Hòa: “Thương người như thể thương thân”. Khi sống đời quân ngũ, tôi thương yêu những người lính như chính thân mình và hiển nhiên tôi đã được phản hồi.

Buổi sáng Chủ Nhật, sau khi chúng tôi ăn điểm tâm xong, một số các vị sĩ quan cùng di tản trên tàu HQ 800 gồm có Đại Tá Vũ Văn Lộc, Trung Tá Nguyễn Đình An, Trung Tá Phạm Quan Kim, Thiếu Tá Nguyễn Văn Hiến đến tư gia Thiếu Tá Mai. Ông mời tất cả các vị sĩ quan nói trên và tôi đi thăm doanh trại Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Phú Quốc tọa lạc gần đó. Đến nơi, chúng tôi quan sát doanh trại của TTYTTV: văn phòng làm việc, hàng chục nhà kho rộng lớn, khang trang mới tinh hảo nằm từng dãy đều đặn, thẳng tắp. Thiếu Tá Mai cho biết kinh phí xây dựng toàn bộ doanh trại TTYTTV là của quân Đội Mỹ đài thọ. Chúng tôi được mời vô phòng thuyết trình, tại đây, Thiếu Tá CHT thuyết trình về hoạt động của Trung Tâm, hiện nay dồn mọi nỗ lực vào công tác tiếp đón, tiếp tế nhu yếu phẩm cho dồng bào và quân nhân di tản từ miền Trung đến đang ở trong các trại tạm trú. Ông cũng trình bày về sơ đồ tổ chức TTYTTV trên một tấm chart. Về tổ chức, hầu hết các Ban đều đầy đủ quân số, riêng trên một khung hình chữ nhật đề Ban Điều Hành bỏ trống chức vụ sĩ quan trưởng ban. Là những người khách phương xa bất đắc dĩ phải di tản đến đây, chúng tôi chỉ chăm chú nghe mà không có câu hỏi nào sợ làm phiền vị CHT. Sau đó, Thiếu Tá CHT đưa chúng tôi trở ra. Đại Tá Lộc, Trung Tá An, Trung Tá  Kim, Thiếu Tá Hiến cùng đi với nhau. Tôi trở về tư gia của Thiếu Tá CHT. Trên đường trở về, tôi nói với Thiếu Tá Mai, CHT/TTYT/TV Phú Quốc:

“Vừa rồi, Thiếu Tá trình bày về sơ đồ tổ chức TTYT, riêng Ban Điều Hành còn khuyết. Nhân dịp có Đại Tá Vũ Văn Lộc ở đây, Thiếu Tá nhờ Đại Tá Lộc về Bộ TTM/TCTV trình Trung Tướng Tổng Cục Trưởng ban hành Lệnh Thuyên Chuyển cho tôi tình nguyện ở đây làm việc với Thiếu Tá.”

Thiếu Tá Mai vui vẻ nói:

“Được Trung Úy làm việc ở đây thì còn gì bằng.”

Thực sự, tôi muốn được làm việc, không muốn là một người lính ở vị trí bất khiển dụng trong hoàn cảnh này.

Dùng bữa ăn trưa xong, tôi lại băng qua đường vô phi trường quan sát công tác bốc rỡ hàng tiếp tế phẩm từ Trung Ương Sài Gòn chở đến cho dân tỵ nạn. Máy bay chở hàng vẫn chỉ là của Hàng Không Việt Nam và của Không Lực Hoàng Gia Úc. Đến xế chiều thì công tác tiếp tế tạm ngưng.

Cũng như tại Cam Ranh tuần trước, công tác tiếp nhận đồng bào và quân nhân cùng gia đình từ Quân Khu I và một nửa QK II đổ bộ lên Phú Quốc rất bận rộn, tất bật. Dòng người di tản lũ lượt từ các tàu bè lên bờ, di chuyển dần vào trong đảo. Từ các tỉnh miền ngoài di chuyển vào đến Cam Ranh là trạm tiếp cư đầu tiên, đã là một cuộc hành trình đầy khó khăn, gian khổ, với những phân ly đau thương khi mất mát người thân trong gia đình; với sóng gió, nắng cháy và đói khát trên tàu bè, xà lan lênh đênh trên sóng nước trùng dương. Khi Cam Ranh bỏ ngỏ, đủ loại tàu bè, phương tiện lại tiếp tục chở người di tản vô miền Nam; dù cặp bến Vũng Tàu hoặc Phú  Quốc thì người di tản cũng phải chịu đựng một chuyến hải hành dài hơn; chịu gian khổ và đói khát nhiều hơn.

Một thực tế được ghi nhận là người dân dù phải để lại nhà cửa, ruộng vườn, tài sản của bao đời tổ tiên gây dựng, ra đi với hai bàn tay trắng cũng chỉ là để theo chân người lính VNCH về nơi có sự bảo vệ, che chở, có cuộc sống tự do.

Sáng hôm sau, Thiếu Tá Mai mời Đại Tá Lộc, Trung Tá An, Trung Tá Kim, Thiếu Tá Hiến đến tư gia ông thảo luận về việc tiếp cư cho người di tản, lượng giá công tác cứu trợ và ước tính tình hình chiến sự tổng quát từ việc bỏ QK I và hai phần ba QK II đến những nỗ lực của quân đội và chính phủ trong việc bảo vệ phần lãnh thổ còn lại.

Cuối buổi họp, Thiếu Mai đưa đề nghị nhờ Đại Tá Lộc về Bộ TTM/TCTV, trình xin Trung Tướng Khuyên ban hành lệnh tuyên chuyển cho tôi, về làm việc tại TTYT/TV/ Phú Quốc. Bất ngờ, Trung Tá Nguyễn Đình An, Trưởng Phòng Kế hoạch Thống Kê/BCH5TV phản ứng. Ông nói:

“Tôi không đồng ý cho Trung Úy Hùng thuyên chuyển vì Trung Úy Hùng thuộc Phòng KHTK/BCH5TV.”

Tất cả các vị SQ có mặt trong buổi họp nín lặng, sững sờ. Tôi cũng im lặng không lên tiếng. Không khí căng thẳng, bế tắc. Em trai tôi, Quân Y Sĩ TQLC Trung Úy Bùi Ngọc Bảng và bốn Quân Y Sĩ TQLC cùng đơn vị ngồi chung quanh dự thính; thấy tình cảnh không vui này, em tôi quay sang tôi nói:

“Anh xa nhà đã lâu, theo Em, Anh hãy về Sài gòn cho Bố-Mẹ vui, rồi Anh xuống đây làm việc cũng được.”

Sự việc ổn thỏa, không ai nói gì thêm, sau đó giải tán.

Tôi nghĩ không ra tại sao trong tình thế này, Trung Tá An lại cản không cho tôi ở lại Phú Quốc làm việc. Ông biết là TTYT/TV Phú Quốc cần người làm việc mà! Nhưng đây không phải là lần đầu tiên Trung Tá An cản trở tôi nhận nhiệm vụ khác.

Chỉ mới sáu tháng trước đây, khi Đại Tá Tô Đăng Mai về nhận chức vụ Cục Trưởng Cục Quân Tiếp Vụ, Đại Tá Mai Duy Thưởng từ Bộ TTM/TCTV ra thay thế. Ngay trong ngày đầu tiên ở cương vị CHT, Ông gặp gỡ các vị SQ cấp Trưởng Phòng, Trưởng Khối. Qua ngày hôm sau, Trung Tá Phạm Đăng Kim, Trưởng Khối Nhân Huấn, qua Phòng KHTK gặp tôi, ông nói tôi được đề nghị chức vụ Chánh Văn Phòng/BCH5TV. Trung Tá Kim nói:

“ Đại Tá CHT yêu cầu tôi chọn cho Ông một chánh văn phòng . Mọi lần trước, Khối Nhân Huấn tự đề cử, nhưng lần này do ĐT/CHT căn dặn nên tôi đã mời tất cả các vị Trưởng Phòng, Khối cho ý kiến. Cuối cùng các vị đề nghị Trung Úy Hùng.”

Nghe Trung Tá Kim nói, tôi phân vân vô cùng. Nếu lên làm chánh văn phòng, tôi sẽ có một số quyền lợi tức khắc: được đề nghị thăng cấp đại úy nhiệm chức, rất mau chứ không phải chờ đợi lâu như các chức vụ khác. Có xe Jeep riêng để sử dụng v.v… Ngược lại, tôi sẽ phải chịu gò bó trong văn phòng BCH; tôi sẽ không được thỉnh thoảng đi theo các xa đoàn tiếp vận -không phải để vui chơi- để tận mắt theo dõi máy bay quan sát bao vùng; để quan sát các lực lượng diện địa bảo vệ xa đoàn trong lãnh thổ trách nhiệm của từng tiểu khu , đặc khu khi xa đoàn đi qua; tôi sẽ thôi theo dõi các Điểm Tiếp Tế Đạn Dược và Nhiên Liệu JP4 cho máy bay trực thăng từ Sông Mao, TK Bình Thuận cho đến … TK Quảng Đức; tôi sẽ không soạn thảo và ban hành các Đặc Lệnh Truyền Tin hàng tháng cho toàn Vùng Tiếp Vận; tôi sẽ không theo dõi việc bảo vệ an ninh cơ sở của các đơn vị tiếp vận đồn trú trong bảy tiểu khu và một đặc khu thuộc lãnh thổ QK II, và sau cùng, tôi sẽ thôi nhiệm vụ Sĩ Quan Hành Quân của BCH5TV và như vậy, tôi sẽ rất buồn vì phải xa rời những công việc thân thiết mà tôi phụ trách trong khoảng thời gian năm năm rưỡi qua.

Khi Trung Tá Kim, Trưởng Khối Nhân Huấn thông báo cho Trung Tá An, Trưởng Phòng KHTK biết tôi sẽ được bổ nhiệm vào chức vụ Chánh Văn Phòng cho Đại Tá CHT, Trung Tá An phản ứng ngay lập tức. Ông lên VP/CHT trên lầu, gặp ĐT. CHT trình bày rằng nếu ông chọn tôi làm Chánh Văn Phòng thì Phòng KHTK không có sĩ quan thay tôi làm việc. Trước thực tế này, ĐT CHT lệnh cho Khối Nhân Huấn tìm cho Ông một Chánh Văn phòng khác.

Rõ ràng, tình trạng và vị trí của BCH5TV, của Phòng KHTK và của cá nhân tôi trong sáu tháng trước và hiện nay hoàn toàn khác nhau, nhưng Trung Tá An đã giữ tôi ở lại bên Ông như lúc Quân Khu II còn lãnh thổ và BCH5TV vẫn còn tại vị và trách nhiệm trong Vùng 5 Tiếp Vận. Tuy nhiên, dù không được phục vụ tại Phú Quốc, tôi không buồn Trung Tá An trong vụ cản trở này. Tôi thực sự thông cảm và thương Ông hơn khi biết rằng Ông đã ra đi đơn độc, để lại toàn bộ gia đình và tài sản ở đường Gia Long, Nha Trang, một sản nghiệp gần trọn đời Ông gầy dựng. Ngay cả khi di tản, ở trên HQ 800, Ông cũng không có ai thân cận trong khi tôi có Em trai, các bạn, và khi đến bến bờ Phú Quốc, Anh Em chúng tôi đã được lên bờ, được tạm trú, nghỉ ngơi, ăn uống tại tư gia của Thiếu Tá Mai, CHT/TTYT/TV Phú Quốc.

Buổi chiều, từ TTYT/TV về, Thiếu Tá Mai cho biết Ông đã xin Đại tá Tư Lệnh Vùng IV Duyên Hải cấp Sự Vụ Lệnh (SVL) cho anh em chúng tôi về Sài Gòn. Chúng tôi rất vui khi nghe tin này. Thật ra, đơn vị tan rã, phải di tản là một điều quá đau lòng, nhưng khi đến Phú Quốc, thay vì vào trại tiếp cư như tất cả đông bào và các quan nhân khác, chúng tôi lại được Ông ưu ái, đưa về tư gia cho tá túc, cưu mang; vừa làm mất thì giờ của Ông, vừa là một gánh nặng cho phu nhân của Ông, chúng tôi cảm thấy áy náy vô cùng. Trong lòng những mong có một ngày sẽ có dịp đền đáp.

Thứ Ba, ngày 8 tháng Tư năm 1975, trước khi dùng bữa ăn trưa, Thiếu Tá Mai đưa cho anh em chúng tôi SVL về Sài Gòn do HQ Đại Tá Nguyễn Văn Thiện ký. Niềm vui xum họp bùng lên sau những tháng ngày xa cách gia đình trong trách nhiệm và bổn phận của một người lính, và đặc biệt trong tình hình xáo trộn bi đát khi để mất QKI và hơn một nửa QKII vào tay địch.

Sau bữa cơm chiều, Thiếu Tá Mai và anh em chúng tôi nói chuyện tình hình chiến sự đang trở nên nặng nề khi Cộng Quân đang nỗ lực tiến đánh hai tiểu khu còn lại của QKII: Tiểu Khu Ninh Thuận với Đại Tá Nguyễn Văn Tự và Căn Cứ Không Quân Thành Sơn. Kế tiếp, chúng sẽ đánh Bình Thuận với Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa. Nếu mất TK Bình Tuận, CSBV sẽ uy hiếp Long Khánh. Chúng tôi nhận định tình hình nói chung rất bi quan. Không biết diễn tiến sẽ ra sao.

8 giờ tối, chúng tôi chào tạm biệt Thiếu Tá Mai và phu nhân của Ông, đã chăm lo cho anh em chúng tôi về mọi mặt trong thời gian tá túc tại tư gia của Ông Bà. Sau đó, Thiếu tá Mai đưa tiễn chúng tôi tại phi trường. Tại đây, duy nhất một chiếc vận tải cơ C-130 của KLVN nằm chờ đón khách. Nhóm hành khách chúng tôi gồm có Đại tá Vũ Văn Lộc, năm  Y Sĩ TQLC gồm  Y Sĩ Trung Úy Nguyễn Quang Khoa, Lê Văn Ngoạn, Phạm Ngọc Trâm, Bùi Văn Rậu, Bùi Ngọc Bảng và tôi. Vẫy tay từ giã Thiếu Tá Mai, chúng tôi lần lượt lên tàu bằng tấm bửng phía sau, tiến dần lên ngồi chính giữa khoang tàu. Cuộc hành trình trở về của chúng tôi lần này mang nặng những thất vọng, đắng cay sâu xa, bi thương nhất trong cuộc đời.

Chúng tôi ngồi yên vị, một nhân viên phi hành đến ngồi bên cạnh tôi. Tôi hỏi chuyện:

–    “Trung Sĩ, tàu về, không có chở hàng triệt thối sao? Hành khách còn ai không?

–    “ Có Trung Úy, có một anh Quân Cảnh bị thương ở tay, nằm phía trên. Tàu của Em chở quân nhân ra Trại Cai Xì Ke, Ma Túy ở đây. Khi về, tàu thường không có hành khách hay hàng triệt thối như các phi trường khác. Có nhà văn DHC cũng ra đây cai nghiện, Trung Úy.”

Tôi biết anh Quân Cảnh bị thương ở tay, chính là người HSQ Quân Cảnh theo đơn vị từ Trung Ương biệt phái ra giữ gìn an ninh trật tự cho Phi Trường Cam Ranh. Anh thuộc toán QC hộ tống đoàn xe của Đại Tá Mai Duy Thưởng, CHT/BCH5TV và phái đoàn đi từ BCH5TV/BCH/PT/CCCR xuống quan sát công tác tiếp nhận và di chuyển người di tản tại bến tàu thì một biến cố xảy ra. Anh bị bắn vào trên khuỷu tay trái, bị thương, được chở về Phòng trực HQ do tôi phụ trách (tường thuật ở phần trên). Anh QC cùng đơn vị QC của Anh, đi trên HQ 800 với anh em chúng tôi đến Phú Quốc. Khi Anh bị thương vào xế chiều ngày 1/4/1975, các đơn vị quân y đồn trú trong Căn Cứ Cam Ranh đã không còn làm việc do đó sự cứu chữa cho Anh gặp bế tắc, ngoài một tuýp thuốc Atropin quá đát của tôi, do một Bác sĩ TQLC chích và băng bó cho Anh, chắc không có thuốc men gì khác. Nay Anh về Sài Gòn, cầu mong Anh được Tổng Y Viện Cộng Hòa chữa trị mau lành bệnh. Ông nhà văn người HSQ phi hành nói, tôi cũng biết vì đọc văn của ông thường xuyên. Lúc này tôi không hỏi Ông đã bình phục và về lại đơn vị chưa.

Chiếc C-130 cất cánh, bỏ lại Phú Quốc trong trời đêm, lướt gió mây bay về Sài gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông trong một miền Nam đầy khói lửa chiến tranh. Chẳng bao lâu, Saigon By Night đã hiện ra với muôn ngàn ánh đèn điện lấp lánh rực rỡ như sao xa. Tàu hạ dần cao độ, xuống thấp dần rồi chạm bánh xuống phi đạo. Tiếng động cơ nổ rền lên rồi thật êm, chạy từ phi đạo vào taxi way để vô bãi đáp. Chúng tôi lên xe buýt chở vào Terminal. Trên đường, qua khung cửa xe buýt, tôi thấy hàng chục máy bay Hercule C-130 sơn màu bạc, có in hình con Kaguru và quốc kỳ Úc của Không Lực Hoàng Gia Úc nằm trên bãi đậu. Đây chính là phi đoàn máy bay đã chở tiếp tế phẩm cho dân tị nạn tại Phú Quốc trong nhiều ngày qua.

Vào trong Terminal, anh em chúng tôi đảo mắt nhìn quanh, thấy vài chục người ngồi trên ghế dáng điệu bơ phờ. Vì mới 23 giờ và nóng lòng muốn về nhà ngay, em tôi và các bạn đòi đi bộ ra ngoài phi trường. Tôi đành đi lại một quầy trong đó có một quân nhân đang làm việc. Tôi chào và nói:

–    “Trung sĩ vui lòng gọi điện thoại báo cho Trung Tá CĐM có em Trung Tá muốn gặp.”

Người HSQ quay máy ĐT nói chuyện.  Sau đó Anh nói với tôi:

–    “ Trung Tá đang bận họp. Trung úy ở tạm đây đêm nay. Sáng sóm mai, Trung Tá cho xe đưa Trung Úy về nhà.”

–    “ Cám ơn.”

Ngay lúc đó, chúng tôi được báo phải ở lại phi trường qua đêm, vì phi trường đã có lệnh giới nghiêm.

Cũng như ở bến tàu của Bộ Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải vào lúc nửa đêm về sáng ngày 2 tháng Tư năm 1975, đêm hôm nay, anh em chúng tôi ngồi trên ghế của phòng khách phi trường Tân Sơn Nhất, chợp mắt trong mỏi mệt, mong cho hết đêm dài.

Từ khi mất Ban Mê Thuột rạng sáng ngày 11 tháng 3 đến lệnh bỏ QĐII-QK2, cuộc triệt thoái đẫm máu và nước mắt của quân và dân trên Liên Tỉnh Lộ 7 B, đến cuộc hải hành bất đắc dĩ về phương Nam, thực sự, trái tim tôi tan nát. Mộng ước một mai khi hòa bình, trở về mái nhà xưa ở miền Bắc giờ đây càng trở nên xa vời. HQ 800 của HQVN lướt sóng trùng dương trên vùng biển của Tổ Quốc thân yêu nhưng trong tận cùng  tâm hồn tôi, chỉ thấy về Phương Nam Mịt Mờ Khói Sóng, không thấy bến, không thấy bờ.

Lời kết. 42 năm trôi qua là một mốc thời gian dài hơn nửa đời người. Những biến cố dữ dội và cay đắng xảy ra trên mảnh đất miền Nam từ tháng 4 năm 1974 trở về trước đã khắc sâu trong tâm trí tôi, không bao  giờ phai nhạt. Từ 42 năm qua, tôi không được nghe nói, đọc tin tức về sự cứu trợ cho người dân tỵ nạn tạm trú ở Phú Quốc. Tôi là một trong những nhân chứng chứng kiến những máy bay vận tải khổng lồ C-130 của KL/HG Úc chở nhu yếu phẩm hàng ngày cho Phú Quốc. Đã có lúc tôi lên tàu để phụ xuống hàng cùng nhân viên phi hành người Úc. Vào thời gian ngặt nghèo này, hầu hết các quốc gia tự do dường như quay mặt làm ngơ (sau khi Hoa Kỳ không tiếp tục viện trợ) bỏ mặc miền Nam tự lo, sự cứu trợ đầy nhân đạo và nhân ái của chính phủ, người dân và KL/HG Úc là một điểm son rực rỡ mà chúng tôi trân trọng, tri ân. Giờ đây, trên đất nước Hoa Kỳ, tôi muốn thay mặt em tôi và các bạn, 15 quân nhân Toán Điều Không SĐ2KQ, các quân nhân THD/BCH5TV năm xưa, xin nói lời chân thành biết ơn đến:

–    HQ Trung Úy Nguyễn Văn Xuân, đã cho phép đoàn quân chúng tôi vào tạm trú tại khuôn viên BTL/V2DH. Nếu không, chúng tôi sẽ bị bỏ lại tại bán đảo Cam Ranh, hoặc phải tìm cách ra đảo, theo QL1 di chuyển bằng đường bộ về phương Nam. Điều gì sẽ xảy ra?

–    Hạm Trưởng, SQ, HSQ, và Thủy Thủ Đoàn HQ 800 đã cho phép chúng tôi lên tàu về Phú Quốc.

–    Em Hùng, SĐ22BB, đã cho tôi một gói mì và 2 hộp sữa đặc; nếu không có 2 hộp sữa của Em, không biết cháu nhỏ con của Đại Úy Bùi Văn Pha sẽ ra sao khi cháu khát sữa trên tàu.

–     Thiếu Tá Mai, CHT/TTYT/TV Phú Quốc và phu nhân, đã ưu ái, cưu mang anh em chúng tôi trong suốt thời gian tạm trú tại tư gia của Ông Bà tại Phú Quốc.

–    HQ Đại Tá Nguyễn Văn Thiện, TL/V4DH, đã ký SVL cho phép anh em chúng tôi về Sài Gòn.

Một lần nữa, xin quý vị nhận ở đây lời tri ân chân thành nhất của chúng tôi, một lời tri ân muộn màng. Trân trọng.

Bùi Quốc Hùng -Từ bàn viết Tacoma, Washington-Quốc hận 30 tháng Tư lần thứ 42. Trích Bút ký Quân Đội – Những Ngày Cuối Cùng Ở Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận – Bộ Chỉ Huy Phòng Thủ Căn Cứ Cam Ranh

•    Ghi chú:

Thân ái gửi đến các cháu, thế hệ thứ hai, con trai của các vị SQ đã tùng sự tại BCH5TV:

–    TQT, con trai của Trung Úy TBT., tử trận tại BCH5TV đêm 30/1/1968, khi VC tấn công vào dịp Giao Thừa Tết Mậu (VN)

–    Paul Đoàn, con trai của Thiếu Úy ĐCT., qua đời chỉ sau 6 tháng ở trại tù cải tạo Đồng Bò, Nha Trang năm 1975 (VN)

–    Trịnh Tấn Lộc, con trai út của cố Đại Tá Phạm Văn Chuyết, CHT/BCHQV2. Đại Tá đi tù cải tạo về, tạ thế tại Sài Gòn năm 1987 (Washington State, U.S.A)

http://www.lyhuong.net/uc/index.php/bandoc/4773-4773

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s