Nỗi Buồn Tháng Tư

Hoàng Minh Thúy
Thấm thoát lại đến tháng Tư, cái mốc thời gian gợi bao nỗi đau thương, tủi nhục của người Việt lưu vong mỗi khi nhớ đến tháng Tư năm 1975, nên có người gọi là “Tháng Tư đen”. Một nhà văn nổi tiếng và cũng là nhà thơ, đã hạ bút để diễn tả nỗi ưu hoài của ông trong tháng Tư quốc nạn:

Một năm người có mười hai tháng.
Ta chỉ riêng mình một tháng Tư.
(Thanh Nam )

Tháng 4 đến, chắc chắn sẽ gợi nhiều kỷ niệm, nhất là với các người lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã tức tủi tan hàng. Kẻ mất người yêu trong cơn hỗn loạn. Người thì tan nát gia đình sau tháng năm dài tù tội. Biển cả hóa nương dâu…

Với tôi, mỗi khi gần đến ngày Quốc Hận khiến cho tôi nhớ lại tháng 3, 1975, khi làn sóng dân, quân di tản từ miền Trung tất tả đổ dồn vào thành phố Nha Trang. Những trại tạm cư, nhà thờ, trường học, chùa chiền, đầy những khuôn mặt ngơ ngác, kèm theo tiếng khóc ai oán. Người mất cha, kẻ mất chồng, người băn khoăn về thân phận thân nhân còn kẹt lại ở các tỉnh địa đầu giới tuyến…

Tôi không có bà con, bè bạn trong rừng người di tản đó trong các trại tạm cư, chỉ có tấc lòng quặn thắt của tình người, khi nghĩ đến những phụ nữ cùng lứa với mình, đang lao đao khốn khổ vì thảm họa chiến tranh. Họ phải bỏ nhà cửa, xe cộ, ruộng vườn, để đứng, ngồi la liệt trên các tấm chiếu nylon ở một nơi đông đúc, hỗn độn như thế này ! Tội nghiệp nhất là các thiếu phụ trẻ tuổi, bụng to vượt mặt, hay con đang tuổi bồng ẵm trên tay. Một tay dắt con, tay kia dắt mẹ, chồng thì đang còn ở đơn vị, biệt vô âm tín, cuộc đời cô rồi sẽ trôi dạt về đâu?

Tôi rời Nha Trang vào tuần lễ thứ 3 của tháng Ba, về Saigon trên một chiếc trực thăng của Tướng Nguyễn Cao Kỳ, do Ðại Úy Nguyễn Quang Vĩnh lái. Khi đó, tôi vừa tròn 29 tuổi. Phi cơ đáp. Ngơ ngơ ngác ngác giữa rừng người ở trạm Hàng Không Quân Sự trong phi trường Tân Sơn Nhất. Vai đeo túi xách, tay dắt con trai tám tuổi, con gái hai tuổi còn ôm chai sữa, cố tìm trong đám đông một khuôn mặt thân quen để quá giang ra cổng trại Phi Long, từ đó đón xe taxi, về nhà cha mẹ trên Trương Minh Giảng gần nhà thờ Ba Chuông.

Khoảng cách từ cổng trại Phi Long đến nhà không đầy 3 cây số, tấp nập người di chuyển. Họ bươn bả, hấp tấp, chộn rộn, bàng hoàng, mệt mỏi, kinh sợ.

Rồi tháng 4 đến, nhằm ngày 19 tháng 3, Ất Ngọ, thành phố Saigon tràn ngập cờ đỏ sao vàng, dân ngơ ngác, quân hỗn loạn, quần áo lính vất đầy hai bên đường.

Tháng 5 tới, Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa bị gọi lên phường, khóm trình diện. Ở trong xóm, một Sĩ quan Hải Quân treo cổ, nhất quyết không nộp mình. Một Sĩ quan Bộ Binh, cho gia đình ăn cháo pha thuốc độc để tìm về bên kia thế giới, nơi không có bóng cờ máu, mà cả đại gia đình ông đã từ bỏ năm 1954, trên con đường hải hành gian khổ từ Bắc vào Nam .

Cứ như thế, cả con đường Trương Minh Giảng như lên cơn sốt. Ði về đâu, khi xe tăng của CS đã nằm ở cổng trại Phi Long (Không Quân) của phi trường Tân Sơn Nhứt ?

Một số khác đưa gia quyến về vùng ven biển, kiếm thuyền bỏ nước, vì nghe tin Ðệ Thất Hạm Ðội của Hoa Kỳ vẫn còn ở ngoài khơi. Tin tức loan truyền khắp nơi về một sự tắm máu sẽ xảy ra. Nhà nhà kín cửa, nói năng thì thào, ăn uống dè sẻn, điện nước không dám xài hoang phí.

Ngày tháng chậm chạp trôi qua, các phụ nữ nhuộm quần áo thành màu đen, móng tay cắt ngắn, không còn sơn bạc, sơn hồng. Sự căng thẳng ngày một kéo dài, mỗi khi nghe tiếng Loa vang hè phố. Sáng sớm nghe Loa, chiều tối cũng nghe Loa, kêu tên từng người đến trình diện chánh quyền. Trời ơi, có ai ngờ Saigon sẽ bị đau thương, tủi nhục như thế này ?

Tôi quay quắt chạy ra, chạy vào, tự hỏi mình làm sao “trốn”, để khỏi ra trình diện, khi Loa gọi tên những ai làm việc cho các cơ quan Dân Sự cũng như Quân Sự của Hoa Kỳ phải ra Phường trình báo.

Những người ở chung quanh khu phố của con đường Trương Minh Giảng này, ai cũng biết tôi một thời là nhân viên của cơ quan Viện Trợ Hoa Kỳ (USAID).

***

Rồi từ đó, chánh quyền mới luân phiên đổi tiền, để biến người có nhà thành kẻ không nhà. Người giàu hóa điên, vì bị tịch thâu tài sản. Công an Khu vực tự do vô ra gia cư của mỗi người, kiểm soát kín đáo các diễn biến trong gia đình. Dân chúng Saigon bắt đầu biết Cộng Sản là gì, họ không tịch thu của người giàu, phân phối cho người nghèo qua lời đồn đại, mà họ kiếm lý do để lấy hết, lấy sạch, qua các lần đổi tiền, hạn chế theo qui định mỗi đầu người. Ngày ngày dân Saigon xếp hàng mua nhu yếu phẩm theo Tờ khai Gia đình. Mọi thứ đều thành hàng lậu kể cả đậu, mè, trừ rau trái, hoa quả, vì chở đi xa không được. Một thành phần mới, không có trình độ văn hóa, nổi lên trở thành Phường Trưởng, Khóm Trưởng, Công An Khu Vực, nắm quyền sinh sát, hống hách, dọa nạt. Ðó là thân nhân trực hệ, có người theoCS ở trên rừng về. Dân Saìgon cảm thấy tủi, nhục, cúi đầu vâng, dạ, nhất là phải tụ tập hàng đêm nghe họ thuyết giảng trong các buổi học tập của xóm, nói những điều nghe không lọt tai. Khoai lang, khoai mì thay gạo. Đường, sửa, thịt…bán theo tờ khai Gia Đình ! Gạo trở thành xa xí phẩm…Tất cả biến thành hàng lậu ! Họ dùng thực phẩm để kiểm soát dân chúng…

Những sự việc này, ai đã từng kẹt lại sau tháng 4, 1975, đều không lạ !

Từ ngày đó, những người yêu, người vợ của lính, trạc tuổi 30, má hồng phai nhạt, trong đó có tôi. Các chị bới tóc cao, đội nón lá, tất tả ngược xuôi chợ trời, lăn lóc trên các tuyến đường xe đò, buôn chui, bán nhủi (bán xong nhủi vào khu hẻm liền, để khỏi bị công an bắt) để kiếm tiền nuôi con, thăm nuôi cho chồng, thăm nuôi anh em cật ruột trong lao tù khốn khổ.

Các nhân viên chính quyền, Quân nhân VNCH bây giờ thành tù “cải tạo”.

Họ bị chuyển đưa tù trại này sang trại khác, vất thư nhắn tin dọc theo đường di chuyển. Mấy bà nhận được tin, thì thào, loan báo cho nhau, để biết chỗ mà bới xách, thăm nuôi.

Quay đi, ngoảnh lại, cực khổ gian truân thắm thoắt cả chục năm, người chồng thân yêu mới được thả về. Các con không nhìn ra cha, gia đình tan nát vì miếng cơm, manh áo, xé nát họ ra từng mảnh ! Có anh đã nằm xuống, thân xác gửi cho cây rừng của trại tù heo hút sau những ngày lao động, thiếu ăn, thiếu thuốc men….Có anh tự tìm về cõi chết khi nghe vợ giao con cho ông bà nội, lập gia đình mới. Cả một bầu trời tang thương phủ chụp lên đời sống của dân chúng miền Nam.

Không thể sống trong chế độ cai nghiệt của CS, rồi người thì đi đường bộ, kẻ theo đường biển, tìm phương tiện vượt thoát. Kẻ may mắn ngày nay thành Việt Kiều ! Người bất hạnh làm mồi cho cá, làm phân bón cho cây rừng trong rừng già Thái- Miên-Việt !

Thắm thoát mà đã mấy chục năm !

***

Khi bạn đọc cầm số báo này trên tay, thành phố của chúng ta đang rộn ràng phát động tổ chức Lễ Tưởng niệm Tháng Tư Ðen :

Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận tại Houston năm nay có 2 phần, phần 1 là Lễ Truy Điệu cử hành lúc 5 giờ chiều tại khu Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, do các Hội đoàn Quân đội đảm trách.

Phần hai, tại khu thương mại Hồng Kông 4, sẽ là buổi lễ chính thức do Hội Đồng Đại Diện Cộng Đồng điều hợp, có văn nghệ đấu tranh với các giọng ca cây nhà lá vườn, bắt đầu từ 6: 30 cho đến 11 giờ đêm.

***

Báo số này theo lịch trình sẽ ra ngày Thứ Bảy 29 tháng 4. Tuy nhiên, chúng tôi đã “ép” ra sớm 1 ngày (Thứ Sáu) để mong bạn đọc bỏ thì giờ tham dự. Vì tại vũ trường Baby’Club, BS Trung Chỉnh từ Nam Cali qua, sẽ tổ chức Lễ Tưởng Niệm 30 tháng 4 (Chủ nhật 30/4) có văn nghệ đấu tranh với ca sĩ Ngọc Đan Thanh, Trung Chỉnh, Anh Khoa… và nhiều ca sĩ địa phương trong mục đích gây qũy, để xây Tượng Đài tri ân các tướng lãnh đã tự sát và anh hùng tử sĩ, trong khu Nghĩa Trang Quân Đội tại miền Nam Cali.

Chương trình bắt đầu từ 2 PM cho đến 5 PM, giá vé vào cửa $20 đô la. BTC hoan nghinh sự yểm trợ tài chánh của đồng hương.

***

Ðã hơn 40 năm, Houston vẫn luôn có chương trình tưởng nhớ ngày tang của một chế độ, mặc dù mười năm gần đây, không có biểu tình tuần hành, không tổ chức Đêm Không Ngủ như trước.

Thủơ đó, phương tiện truyền thông chỉ hai ba tờ báo, có tờ phát hành không đúng ngày. Muốn loan tin cho cộng đồng được rõ, Ban Tổ Chức in truyền đơn, rồi thay phiên nhau đi rãi, đi gắn trên kiếng xe, dán trên tường của các chợ Việt Nam Plaza, khu chợ Hoà Bình, các tiệm phở, cà phê, vũ trường quanh vùng downtown Houston..

Ngày đó (1985) mỗi tháng Tư về, Ban tổ chức Ngày Quốc Hận, Ngày Quân Lực, chung tiền thực hiện công tác: treo cờ, thiết lập khán đài, xin giấy phép biểu tình. Thương mại của người Việt Nam hãy còn èo uột, Ban Tổ Chức không đi xin Sổ Vàng như bây giờ (2017), tất cả mọi sinh hoạt đấu tranh đều bằng tiền túi của các vị trong Ban Tổ Chức: tiền nhịn cà phê, thuốc lá của các ông và tiền phấn son của quí bà. Tuy đồng hương hãy còn nghèo, nhưng tinh thần rất cao. Chương trình nào cũng sôi nổi, đầy hào khí, đông nhất khoảng 200 người, lúc đó, BTC mới có lời kêu gọi, người tặng vài đồng, kẻ vài chục, góp quỹ chi trả. Chương trình không có ca sĩ, chỉ có hợp ca các bài hát đấu tranh, chính huấn, nhất là chương trình Ðêm Không Ngủ tổ chức trong đêm Thứ Bảy, mỗi người có cơ hội lên máy vi âm trình bày vấn đề thời sự trong năm, hay chia xẻ sự đớn đau riêng sau tháng 4, 75.

Ðồng hương lúc đó chưa ổn định cơ ngơi, nhưng sốt sắng tham dự vì hiểu rằng:

Bạn bè anh giờ này đang đốt lửa.
Anh ngại gì không góp chút củi khô ?
(Tác giả ?)

Nửa đêm ban ẩm thực dọn cháo gà, bánh mì thịt. Nhiều đêm mưa rơi tầm tã, khi tan hàng cứ lội mưa mà chạy ra xe. Rất cảm động, khi nhiều anh chị dắt theo con cái khoảng 9, 10 tuổi như con của chúng tôi, để vui buồn theo đời sống đấu tranh của cha mẹ. Thời gian này, ai nấy đều cảm thấy có bổn phận với thân phận người Lính còn ở trong các trại tị nạn Ðông Nam Á (chờ cứu xét định cư), những người lính còn bị giam ở cái gọi là trại “Cải tạo” từ Nam tới Bắc, thiết tha với các tổ chức Phục quốc của nhiều đảng phái (Lê Quốc Túy, Hòang Cơ Minh, VN Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt…) Bởi vì, mỗi người trong cuộc sống mới, đều có chung cảm nghĩ như tâm sự của nhà thơ BÐQ Trạch Gầm :
30 tháng 4, ta ôm mặt khóc.

Trên cầu Saigon cạnh phố Hùng Vương.
Mười năm binh đao, mười ngày kết thúc.
Ta, còn nguyên, mà mất cả Quê hương.

***

Hơn 40 năm đi qua.

Hôm nay một thế hệ đã trưởng thành, trở thành những doanh gia, chuyên viên đủ mọi ngành nghề, góp phần làm phồn thịnh cho nền kinh tế Houston . Những khu khu đất hoang vu tiêu điều của vùng Tây Nam trở nên sầm uất khang trang với hàng trăm cửa hàng. Tình hình chính trị thay đổi rất nhiều. Cùng lúc đó, các thiếu nhi theo cha mẹ đi biểu tình, đi canh thức Ðêm Không Ngủ, bây giờ đã có gia đình riêng. Người lính trẻ năm xưa bây giờ đã già, không còn năng lực của một thời tóc đen, một số chuyển sang sinh hoạt với hội Ðồng Hương, hoặc tìm vui thú cây kiểng. Thành phần tham dự công việc cộng đồng ngày càng rơi rớt, còn lại rất ít những khuôn mặt cũ. Cũng có người trở mặt quay lưng, vì quyền lợi vật chất quyến rũ, hợp tác làm ăn với chánh quyền CSVN.

Hôm nay, nếu tổ chức các chương trình của ngày Quốc Hận, ngày Quân Lực để hâm nóng bầu không khí cũ, mà không có danh ca về tăng cường, đồng hương sẽ không tham dự đông đảo, vì phim bộ Ðại Hàn, phim bộ Hồng Kông, đèn màu của phòng trà, tiếng nhạc của vũ trường… vẫn có khả năng lôi cuốn hơn. Người người theo nhau du lịch VN, áo gấm về làng đông quá, nên không tìm đâu ra sự gắn bó đậm đà của tình chiến hữu như ngày xưa.. Ngày Tưởng Niệm Quốc Hận, đi lòng vòng quan sát, bạn sẽ cảm thấy không khí hôm nay, vui như đang xem đại nhạc hội để… giải trí !

Mấy năm gần đây, nhờ hệ thống điện toán ngày càng tân kỳ, giải quyết phần nào sự khắc khoải của mỗi cá nhân, trong mỗi hoàn cảnh. Cùng lúc các đài phát thanh, hệ thống truyền hình, báo chí tràn ngập thành phố, mở mang kiến thức cho khán thính giả. Các bài viết được dịp phổ biến, nhờ vậy mà hồi ký của các nhân vật có thẩm quyền trong chế độ cũ, lần lượt phơi bày mặt trái của mọi vấn đề, chính trị lẫn tôn giáo trong cuộc chiến, dẫn đến biến động tháng Tư đen.

Ðọc xong, càng thêm ngậm ngùi, thương cho thế hệ tuổi trẻ Việt Nam, sinh nhằm thời ly loạn.

***

Tháng Tư, cũng là tháng sinh nhật của tôi. Như thông lệ, tôi không tổ chức tiệc mừng, mà tự thưởng cho mình một thời gian riêng tư, để loanh quanh đi tìm các bài thơ, bài nhạc, với những kỷ niệm học trò một thời gắn bó, có bạn bè, người yêu đều là Lính. Vừa để mắt tìm trong “Net”, lòng vẩn vơ nhớ những kẻ đã hy sinh, những người bạn học chung lớp, thành kẻ thương tật khi vừa ra khỏi quân trường.

Họ đang ở đâu, có còn tồn tại sau Tháng 4 Quốc nhục ?

Tôi tìm thấy nhiều bài thơ rất ý nghĩa, của những người thanh niên trẻ, bỏ tay viết thay tay súng, để bảo vệ quê hương, vẫn luôn giữ được tính tính đôn hậu, như thứ tình yêu mơ màng thật dễ thương, qua một bài thơ của tác giả Trần Ngọc Nguyên Vũ…

Bài thơ mang tên “Giao Thừa Trông Ánh Hỏa Châu Rơi”, xin chép lại để chia xẻ cùng bạn đọc :

Ai về phố núi Cao nguyên ấy.
Xin chuyển giùm tôi một lá thư
Tới ngừơi con gái buồn-muôn-thuở…
Từ độ xa nhau chẳng giã từ

Em gái xa nhà, tôi lính trận
Gặp gỡ qua giây phút ngại ngần
Thị trấn về đêm heo hút lạnh
Mưa rừng, quán vắng bỗng thành thân….

Tôi còn bà mẹ bầy em nhỏ.
Em cũng mẹ già, mấy đứa em
Cũng chiều tựa cửa ngồi trông đợi
Cũng mỏi mòn trông dưới ánh đèn.

Sinh ra thời loạn nhiều gian khổ
Phận má hồng thân lắm bụi trần
Tôi trải đời trai theo khói lửa
Em giặt lòng, vò nát tâm can

Em kể chuyện mình cay đắng quá
Cả đời chẳng được một lần vui
Thôi thì vận nước còn trôi nổi
Hãy mỉm cười thay những ngậm ngùi

Tôi móc hết tiền lương vừa lãnh
Nhìn em xỏa tóc phủ vai gầy
Nghẹn ngào khoé mắt rưng rưng lệ
Em nói lời nghe mưa bóng mây

Mai tôi ra trận, không cần đến
Em giữ mà may chiếc áo dài
Sắp đến tết rồi, về thăm mẹ
Mua quà cho mấy đứa em trai

Rồi đây trên bước đường xuôi ngược
Em dạt về đâu một kiếp người?
Tôi ở tiền đồn ngoài BenHet
Giao thừa trông ánh hỏa châu rơi!

Bạn có thấy chăng, người lính trẻ của chúng ta rất đôn hậu và dễ thương không, với lời thổ lộ : “Tôi móc hết tiền lương vừa lãnh”, tặng cho cô gái nghèo đang mở quán mưu sinh để nuôi mẹ già, em dại, vì anh lính nghĩ rằng, ngày mai anh sẽ ra chiến trường, biết có còn sống mà tiêu xài tháng lương vừa lãnh !

Người lính đó, bây giờ về đâu trong cõi đời nghiệt ngã ? Có phải anh vẫn hiển hiện trong cuộc sống lầm than, cơ cực, qua lời thơ kể chuyện của nhà văn Mường Giang :

Có lần từ Mỹ về Phan Thiết
Theo bạn nhậu chơi tận Phú Long
Bữa tiệc nhà giàu đầy rượu thịt
Ðời vui như cảnh lạc tiên bồng

Ðang lúc ngả nghiêng cười ngặt nghẽo
Bỗng ai vừa trổi khúc ly ca
Tiếng đàn vọng cổ hờn, than, oán
Não nuột trời ơi, nước mắt nhòa

Ra ngó, gặp anh người hát dạo
Cụt chân, mù mắt, lết xe lăn
Phong trần, nhuộm bạc đời trai trẻ
Nhưng nét nam nhân vẫn khắc hằn

Mấy chục năm sầu, bao biển lệ
Mà anh vẫn giữ áo hoa rừng
Chiến y chằng chịt trăm lần vá
Bạc phết, đoạn trường lắm thảm thương

Anh hát toàn bài chinh chiến cũ
Ðiệu ru nước mắt, nát tim người
Hò, xề, sang, xứ như òa thét
Khiến kẻ vong gia cũng tả tơi.

Tàn tiệc, mỗi người trôi một nẻo
Loạn ly đời thế, mấy ai vui
Tôi về xứ lạ, làm bồi Mỹ
Quên chuyện long đong, khóc lẫn cười

Nhân có bạn từ Phan Thiết tới
Hỏi tin người hát dạo thương binh
Mới hay anh đã ôm đàn chết
Giữa một đêm mưa trước mái đình

Buổi đó vì đời làm lính trận
Tàn cơn lửa loạn chịu thương đau
Nay trơ nắm đất mồ vô chủ
Ðịnh mệnh gì đâu quá nghẹn ngào !

Tháng 4 trên xứ người, đọc hai câu :

– Mới hay anh đã ôm đàn chết.
“Giữa một đêm mưa trước mái đình”
, lòng xót xa buồn.

(Thật sự, mỗi lần đi gửi tiền cho anh em TPB, Nhóm chúng tôi rất xót xa, khi nghe nhân viên của công ty LẸ gọi đến, yêu cầu thay tên anh khác, vì người nhận đã qua đời cách đây vài tháng),

Cô bán quán ngày xưa, nếu qua được cuộc chiến, nay chắc thành bà nội, bà ngoại. Nếu may mắn có được gia đình ấm êm, sống trong hạnh phúc, cô có còn nhớ anh lính trẻ đã gặp trong thành phố buồn, của một thời lặn lội mưu sinh?

Tháng 4, thành phố Houston sắp bước vào mùa Hè, ngày nắng ngày mưa, khi lạnh, khi nóng. Mỗi khi trở trời, gặp ai cũng than thân thể bời rời, đau nhức. Bước vào tuổi 70, làm sao tìm được năng lực và thể chất của tuổi 30 ?

Mỗi lần bệu rệu như vậy, tôi mong mọi người hãy nghĩ đến các thương binh ở quê nhà.Vết thương sau hàng chục năm, nhưng vẫn chưa lành, vì tâm trạng của một kẻ bị quên lãng. Trong thân thể hãy còn lưu dấu vết của chiến tranh, còn miễng đạn chỗ nọ, chỗ kia, mỗi khi thời tiết thay đổi, gây nhiều đau nhức. Thật sự họ đã lần hồi nằm xuống trong đơn lạnh cô đơn, sĩ số TPB còn ngoi ngóp chẳng bao nhiêu người. Họ đang sống trong tăm tối của cảnh đời thiếu thốn, chờ đợi tình yêu thương của đồng đội cũ, như sự an ủi sau cùng…

Tháng 4 về của ngày Quốc Hận, tháng 6 tới với lễ kỷ niệm Quân Lực… Những ai may mắn thênh thang ở hải ngọai, hãy rộng lòng chia xẻ, góp chút tình cho anh lính thương tật, trước khi anh về cõi vĩnh hằng, như lời một thương phế binh nhận được 100 đô la.

Anh Thương Phế Binh đã dặn dò con, có nội dung với đại ý như sau :

– Con hãy giữ 100 đô la này, để dành mua cho ba cái hòm, để khi chết đi, ba được ấm áp, vì được nằm trong vòng tay của tình chiến hữu.

Hoàng Minh Thúy
(Tạp Chí Xây Dựng – Năm Thứ 34 – Số 862 – phát hành ngày 29-4-2017 tại Houston – Texas )

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s