Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo

on

linhvnch.wordpress.com

Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo (tiếng Anh: Central Intelligence Office hay Central Intelligence Organization,[1] viết tắt là CIO) là cơ quan tình báo chiến lược trung ương của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, được Hoa Kỳ tài trợ, trực thuộc Phủ Tổng thống,[2] tức Nha Hành chính và Nhân viên Phủ Tổng thống. Trụ sở Phủ Đặc ủy đặt tại số 3 Bạch Đằng,[3] Sài Gòn.
Phủ Đặc ủy được thành lập năm 1961 theo sắc lệnh số 109/TTP do tổng thống Ngô Đình Diệm ký ngày 5 tháng 5 năm 1961 tuy nhiên đến năm 1962 mới bắt đầu hoạt động thu nhận nhân viên và đào tạo tác vụ.[1]

Trước khi thành lập cơ quan này thì nền Đệ nhất Cộng hòa đã có SEPES nhưng đơn vị đó chỉ chú trọng đến việc thu nhập tình báo chính trị mà thôi trong khi những thông tin và hoạt động ngoài tầm chính trị quốc nội thì không có hoạt động. SEPES chỉ mở thêm tác vụ hướng về Bắc Việt sau khi Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung khám phá ra hệ thống tình báo của lực lượng cộng sản hoạt động phía nam vĩ tuyến 17. CIO vì thế được lập ra với nhiệm vụ điều tra, thu thập tin tình báo chiến lược của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các nước liên quan; cùng cố vấn cho chính phủ về an ninh quốc gia qua Ủy ban Quốc gia Phối hợp An ninh và Tình báo.[1]

Sau cuộc đảo chánh năm 1963 thì Hội đồng Quân nhân Cách mạng ra lệnh bắt các giám đốc và chủ sự của SEPES và Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung vì cho họ thuộc phe phái Cần Lao nên Phủ Đặc ủy trở thành cơ quan tình báo duy nhất còn lại. Hoạt động dù vậy hạn chế vì tình hình chính trị bất ổn, liên tiếp những chính phủ được lập lên rồi đổ. Mãi đến năm 1967 thì Phủ Đặc ủy Tình báo Trung ương mới có địa vị vững vàng
Nguyên thủy Phủ Đặc ủy chia thành hai phần: Nha Nghiên cứu và Nha Điều vụ. Nha Nghiên cứu lãnh phần kế hoạch và phân tích thông tin tình báo trong khi Nha Điều vụ là phần thi hành công tác thu thập và điệp vụ.[1]

Sau năm 1963 thì Phủ Đặc ủy được tổ chức lại và đến năm 1968 thì theo cơ chế mới, có Nha Kế hoạch Điều vụ (ban A). Ủy viên ban A cũng là người soạn báo cáo gửi lên tổng thống.
————–
Dương Văn Hiếu biệt danh “Hùm xám của Chế độ” là người chỉ huy Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung, cơ quan tình báo, phản gián của Ngô Đình Cẩn, vào những năm đầu của nền Đệ Nhất Cộng Hòa.

Dương Văn Hiếu sinh tại Hà Nam, trong một gia đình trung lưu, học trường trung học Louis Pasteur và Thăng Long, Hà Nội; Có bằng diplôme d’Eùtudes primaires supérieures.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, Dương Văn Hiếu được ông Võ Như Nguyện, Giám đốc Công an Trung Phần tuyển vào ngành công an. Giữa 1957, ông giữ chức Trưởng ban Khai thác Nha Công an Cảnh sát Trung nguyên Trung phần, sau đó trở thành Trưởng ty Công an Tỉnh Thừa Thiên và Đô thị Huế. Giữa 1957, Dương Văn Hiếu được bổ nhiệm Trưởng Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung.

Dưới sự chỉ huy của Dương Văn Hiếu, Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung từng bắt ông Mười Hương [1] vào 06/1958 [2], Vũ Ngọc Nhạ [3] vào 12/1958, Lê Hữu Thúy [4] vào năm 1959, Nguyễn Vĩnh Nghiệp [5] vào năm 1960, đại tá Lê Câu [6] người chỉ huy chỉ huy Quân báo Miền Nam của Hà Nội vào năm 1961[7]. Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung cũng từng theo dõi Phạm Ngọc Thảo [8] và đề nghị tổng thống Ngô Đình Diệm lưu ý tới ông. Sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm, Dương Văn Hiếu bị bắt, điều tra, và bị kết án khổ sai chung thân đày ra Côn đảo.

Đến năm 1964, thì Dương Văn Hiếu được phóng thích và phải hành nghề mua bán thuốc tây để sinh sống. Sau năm 1968, Dương Văn Hiếu có một thời gian làm việc cho Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo nhưng không được trọng dụng nên ông bỏ việc.

Đêm 28 tháng 4 năm 1975, Dương Văn Hiếu rời Việt Nam trên một chiếc tàu Hải quân Việt Nam Cộng Hòa cùng với Trung tướng Nguyễn Văn Là, cựu Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia.
————
Ngô Thế Linh tên khai sinh là Ngô Xuân Tường, sinh ngày 6 tháng 12 năm 1928, tại làng Thổ Hoàng, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình giàu có và sùng đạo Công giáo. Ông là con trai duy nhất của Cụ Ngô Xuân Huân (Tộc trưởng đời thứ tám của dòng họ “Ngô Xuân”) và là em họ của thi sĩ Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu).

Từ năm 1946 Ngô Xuân Tường đã tham gia vào những hoạt động chống Việt Minh cùng với linh Mục Cao Văn Luận. Do bị Việt Minh truy lùng, Ông dùng ghe nhỏ vượt sông và đi lẫn qua các làng nhỏ dọc theo bờ biển để đi vào Nam và đổi tên là Ngô Thế Linh.

Năm 1953, Ngô Thế Linh tốt nghiệp Sĩ quan Khoá 3 Thủ Ðức (cùng khóa với thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam), với cấp bực thiếu úy, về làm việc ở Bộ Chỉ huy Quân khu II tại Huế.

Ðầu năm 1959, qua sắc lệnh của Tổng thống Ngô Ðình Diệm, đại úy Ngô Thế Linh thành lập Sở Bắc, cũng gọi là SB (Special Branch) hoặc là Phòng 45B, là một tổ chức tối mật trực thuộc Sở Liên lạc, Phủ Tổng thống. Sở Bắc hoạt động và điều hành các điệp vụ ở miền Bắc và ở Lào với sự yễm trợ của Trung ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) tại Sài Gòn, nhằm thu thập tin tức tình báo chiến lược bên ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Trong thời gian chỉ huy, Sở Bắc Ngô Thế Linh đã thực hiện trên bốn mươi vụ đưa biệt kích và gián điệp xâm nhập Bắc Việt qua đường biển, đường bộ, và đường không (thả từ máy bay).

Năm 1964, Ngô Thế Linh được giao nhiệm vụ thành lập Sở Phòng vệ Duyên hải và trở thành chỉ huy trưởng của Sở này. Sở Phòng vệ Duyên hải có nhiệm vụ cài gián điệp ra miền Bắc, đem Lực lượng Biệt Hải ra Bắc đánh phá hải cảng, kho đạn, tàu bè tại các quân cảng.

Năm 1965, Ngô Thế Linh được bổ nhiệm chức vụ phó giám đốc Nha Kỹ thuật.

•1965-1970: Phó Giám Ðốc Nha Kỹ thuật, Bộ Tổng Tham mưu, Quân Lực Việt Nam Cộng hòa.

•1970-1972: Phó Giám Ðốc Nha Kỹ thuật kiêm Chỉ Huy Trưởng, Sở Công Tác, Nha Kỹ thuật.

•1972-1975: Phó Giám Ðốc Nha Kỹ thuật kiêm Chỉ Huy Trưởng, Trung tâm Huấn luyện Biệt Kích Yên Thế.

Ðại tá Ngô Thế Linh từng được thưởng các huân huy chương: Bảo Quốc Huân Chương, Lục Quân Huân Chương, Tham mưu Bội Tinh, Chiến Dịch Bội Tinh, Anh Dũng Bội Tinh…

Ngày 30 tháng tư năm 1975, Ngô Thế Linh rời Việt Nam trên tàu Hải quân với những nhân viên và sĩ quan của Nha Kỹ thuật.

Ông mất ngày vào ngày 25 tháng 2 năm 1999 tại Hoa Kỳ
—————
Phan Quang Đông nguyên quán tại thôn Lệ Định, Sơn Tiến, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Từ 1939 đến 1944, học sinh trường Saint Baptiste de la Salle Nha Trang. Năm 1944-45, học trường Chính Hóa, Vinh.

Sau Cách mạng tháng 8, gia nhập giải phóng quân, đến năm 1946, giải ngũ vì lý do sức khỏe. Từ 9/1946 đến 1950, tiếp tục học tại trường Hùynh Thúc Kháng, Hà Tĩnh.

Từ 1950 đến 1953, dạy học tại trường Tư Thục Công giáo Thiên Khải đường Nghệ Ạn.

Từ 04/1954 đến tháng 09/1954 học trường sinh viên Sĩ quan Thủ Đức rồi đào ngũ.

Tháng 2/1955 vào làm việc cho Sở nghiên cứu Chính trị của Bác sĩ Trần Kim Tuyến, sau đó đi học khóa tình báo tại Philippines. Từ 03/1956 đến 10/1956 làm Trưởng ban Phỏng vấn di cư vượt tuyến tại Quảng Trị.

Từ 10/1956 đến 7/1957, tổ chức tình báo tìm hiểu hoạt động Bắc Việt báo cáo cho Sở Nghiên cứu Chính trị tại Sài Gòn.

Từ 07/1957, tổ chức người vượt tuyến để lấy tin tức Bắc Việt Tháng 05/1961 xây dựng và chỉ huy Trung tâm Kiểm Thính Huế có nhiệm vụ theo dõi việc chuyển quân và các hoạt động quân sự của quân Bắc Việt tại Lào và miền Nam.
Bị kết án

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, một nhóm tướng tá quân đội làm đảo chính và hạ sát Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu. Phan Quang Đông cho hủy toàn bộ hồ sơ, tài liệu, danh sách nhân viên và máy móc truyền tin liên lạc ngoài Bắc nhằm bảo mật và bảo vệ sinh mạng cho nhân viên, những điệp viên đang hoạt động và đang kẹt lại tại miền Bắc.[2] Ngày 30 tháng 1 năm 1964, tướng Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm lại làm một cuộc đảo chính và bắt giam các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân và thành lập Tòa án quân sự đặc biệt đem Phan Quang Đông và Ngô Đình Cẩn ra xét xử. Phiên tòa xử Phan Quang Đông diễn ra 3 ngày tại Huế. Phan Quang Đông bị kết tội làm mật vụ cho chính quyền Ngô Đình Diệm, đàn áp, thủ tiêu, bắt giam và hành hạ dã man, tàn bạo những người đối lập. Ngày 28 tháng 3 năm 1964, Phan Quang Đông bị kết án tử hình và bị tịch thu toàn bộ tài sản. Ngày 9 tháng 5, Phan Quang Đông bị xử bắn tại sân vận động Tự Do tức sân Bảo Long ở Huế. Buổi tử hình ông diễn ra rất ghê rợn. Vợ Phan Quang Đông đang bụng mang dạ chửa sắp đến tháng đẻ, đã ngất lịm ngay tại pháp trường khi chứng kiến cảnh chồng bị trói vào cọc…[3]

Ngoài ra là Nha Tình báo Quốc nội gồm các đơn vị: Điệp báo (ban K), Phản gián (ban U) và Chính trị (ban Z); Nha Tình báo Quốc ngoại; và Trung tâm Quốc gia Thẩm vấn (cơ quan này chỉ làm nhiệm vụ tiếp nhận các tù binh từ các quân khu đưa về thẩm tra). Trong vùng kiểm soát của Việt Nam Cộng hòa thì có bảy Đoàn công tác đặc biệt phân bố trên các vùng chiến thuật, trực thuộc Nha Tình báo Quốc nội. Mục đích chính của các đoàn này là thu thập thông tin và xâm nhập các tổ chức của lực lượng cộng sản. Họ hoạt động song song với các đơn vị của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ở nước ngoài, có các biệt nha trực thuộc Nha Tình báo Quốc ngoại như ở Lào (2 đơn vị), Cao Miên, Thái Lan, Pháp, Nhật, và Hồng Kông.[
Trong những hoạt động đáng ghi nhận của Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo là việc phát giác ra liên lạc giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Paris vào năm 1969 khi Hoa Kỳ muốn tìm cách điều đình chấm dứt chiến tranh. Trạm tình báo ở Paris gửi báo cáo về Sài Gòn sau khi săn được tin qua ngả tình báo của Sûreté Pháp. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu triệu đại sứ Hoa Kỳ Ellsworth Bunker vào để trả lời. Phía Việt Nam Cộng hòa sau đó tiếp tục theo dõi nhưng giữ im lặng.[1]
Các Đặc ủy trưởng qua các thời kỳ

Trung tá Lê Liêm
Đại tá Nguyễn Văn Y
Trung tướng Mai Hữu Xuân
Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan
Trung tướng Linh Quang Viên
Đại tá Nguyễn Khắc Bình

https://linhvnch.wordpress.com/phu-dac-uy-trung-uong-tinh-bao/

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s