Tổng tư lệnh Quân đội Pháp Jean Marie Gabriel de Lattre de Tassingy vận động quân viện và tài chính cho Đông Dương

on

Vuong Hong Anh

LTS. Trong tinh thần tưởng niệm ngày 20 tháng 7 năm 1954, Việt Báo giới thiệu đến bạn đọc loạt bài chiến sữ ” Vĩ tuyến 17, Hiệp định Genève, 50 năm nhìn lại”, đăng vào số báo thứ Bảy hàng tuần. Loạt bài này được biên soạn dựa theo các tài liệu sau đây: Quân lực VNCH trong giai đoạn 1946-1955( Khối Quân sử/Phòng 5/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH); Đông Dương Hấp Hối của cựu Đại tướng Quân đội Pháp Henri Navarre; hồi ký của các cựu Tướng lãnh VNCH: cựu Trung tướng Trần Văn Đôn, cựu Thiếu tướng Đỗ Mậu, cựu Đại tướng Cao Văn Viên; Việc từng ngày 1945-1964 của tác giả Đoàn Thêm; tài liệu riêng của VB.

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/d/d5/Jean_de_Lattre_de_Tassigny_%281946%29.jpg/220px-Jean_de_Lattre_de_Tassigny_%281946%29.jpg
* Tổng tư lệnh Quân đội Pháp Jean Marie Gabriel de Lattre de Tassingy vận động quân viện và tài chính cho Đông Dương.
Ngày 7 tháng 12 năm 1950, Đại tướng Jean Marie Gabriel de Lattre de Tassingy, Tổng thanh tra Quân lực Pháp, được chính phủ Pháp bổ nhiệm giữ chức vụ làm Cao ủy kiêm Tổng tư lệnh Quân đội Pháp tại Đông Dương. Cũng cần ghi nhận rằng báo chí Việt ngữ và tài liệu quân sử thời bấy giờ ghi cấp bậc của ông là “Đại tướng 5 sao” (Général d’Armée) để phân biệt với cấp Đại tướng (4sao, Général de Corps d’Armée), theo quy định tạm thời về dịch thuật danh từ quân sự của Bộ Quốc phòng Quốc gia Việt Nam. Từ năm 1954, cấp bậc Géneral d’Armée (Đại tướng 5 sao) của Pháp được dịch là Thống tướng. Đây là lần đầu tiên mà cả 2 chức vụ cao nhất về dân sự và quân sự của Pháp tại Đông Dương được giao cho một tướng lãnh nắm trọn quyền tổng chỉ huy.
Vừa đảm nhận chức quyền, Đại tướng de Lattre gửi cho Chính phủ Pháp một tờ trình đặc biệt xin tăng thêm viện binh. Tổng tư lệnh de Lattre phân tích rằng tại Bắc Việt, với quân số từ 22 đến 25 tiểu đoàn không thể chống lại 60 đến 80 tiểu đoàn của đối phương. Tại Bắc Việt, chỉ có 14 tiểu đoàn chống lại 18 và tại Nam Việt chỉ có 9 tiểu đoàn để chống lại 14 tiểu đoàn Việt Minh. Trước thực trạng này, về Lục quân, ông xin tăng cường 11 tiểu đoàn Bộ binh, 3 tiểu đoàn Pháp binh, 1 đơn vị thám thính xa, các đại đội phòng không, và vũ khí để bảo vệ các pháo lũy, 1 tiểu đoàn công binh để xây dựng các sân bay quân sự . Về quân viện quốc tế, trong thời gian giữ chức vụ Tổng Tư lệnh Quân đội Pháp tại Đông Dương ( tháng 12/1950-tháng 1/1952), Đại tướng Jean Marie Gabriel de Lattre de Tassigny (ba đã thành công trong việc thuyết phục Hoa Kỳ viện trợ quân sự và tài chính cho chiến tranh Đông Giưã tháng 9/1951, Đại tướng de Lattre de Tassigny công cán tại Hoa Kỳ. Trước đó, vào đầu tháng 5/1991, ông đã tham dự hội nghị Tân Gia Ba, một hội nghị được tổ chức với mục đích quy tụ các quốc gia thuộc vùng Đông Nam Á thành một khối để đối phó với sự bành trướng của Trung Cộng về phía Nam. Hội nghị này là đầu mối để biến thành hội nghị Liên minh phòng thủ Đông Nam Á sau này. Tại hội nghị Tân Gia Ba, Đại tướng de Lattre de Tassigny đã bày tỏ thiện chí chống Cộng của Pháp tại vùng Đông Nam Á, nhất là đang biến Bắc Việt thành tiền đồn chống Cộng.
Trở lại với chuyến đi của Đại tướng de Lattre de Tassigny tại Mỹ, ông không được sự chú ý của chính giới Pháp trong lúc đầu, vì các chính khách Hoa Kỳ không bằng lòng chính sách của Pháp tại Đông Dương nhưng nhờ sự hỗ trợ của Đại tướng Eisemhower (Tổng thống Hoa Kỳ 1953-1961), ông đã thành công. Ngày 28-9-1951, hai ngày sau khi Đại tướng de Lattre de Tassigny kết thúc cuộc công du, hải vận hạm Eartham Bay của Hải quân Hoa Kỳ đã chở từ quân cảng ở Manila của Phi Luật Tân đến Sài Gòn rất nhiều vũ khí nhẹ và đạn dược, quân dụng đủ loại. Cũng trong ngày 28-9-1951, một loại chiến cụ quan trọng khác của Hoa Kỳ do chính Lực lượng Không quân Hoa Kỳ mang tới Việt Nam tiếp trợ cho chiến trợ cho chiến trường Đông Dương. Đó là 30 phóng pháo cơ B-26 của Hoa Kỳ đã cất cánh từ Phi Luật Tân bay thẳng tới phi trường Cát Bi gần Hải Phòng để giao cho Không quân Liên Hiệp Pháp. Cuộc chuyển giao các phi cơ này đã diễn ra trong vòng bí mật.
* Phi cơ của Hoa Kỳ tại chiến trường Bắc Việt
Loại phi cơ B 26 của Hoa Kỳ xuất hiện trên chiến trường vào mùa thu năm 1951, ghi dấu một tín hiệu mới cho cuộc diện chiến trường Đông Dương, nhất là về các hoạt động không yểm chiến thuật. Loại phi cơ B 52 bay với tốc độ nhanh, mang được nhiều bom hơn loại JU 52 đã cũ, mỗi một phi cơ B26 có thể mang đến 8 trái bom, mỗi trái nặng 500 cân Anh và 6 hỏa tiễn. Trong số 30 phóng pháo cơ này, Không quân Hoa Kỳ đã biến cải 12 chiếc thành loại phi cơ soi sáng gọi là luciole, nghiã là phi cơ đôm đốm. Mỗi phi cơ này có khả năng thả hỏa châu soi sáng trong 1 giờ đồng hồ liền và các phi cơ có nhiệm vụ soi sáng đã thay phiên nhau bay thường trực trên không phận Bắc Việt mỗi tối để sẵn sàng yểm trợ cho các đồn bót và các đơn vị Liên Hiệp Pháp đẩy lùi các cuộc tấn công đêm của các đơn vị Việt Minh. Lần xuất trận đầu tiên, các phóng pháo cơ B 26 đã tham gia giải tỏa cho chiến trường miền Thái bị các binh đoàn Việt Minh uy hiếp trong tháng 10/1951.
Cũng cần ghi nhận rằng lực lượng Pháp trở lại miền Thái từ năm 1946 nên hoạt động quân sự của lực lượng Việt Minh rất yếu. Cao ủy Pháp tại Đông Dương gọi miền Thái là xứ Thái theo như chính sách và đường lối chính trị của chính phủ Pháp lúc bấy giờ. Miền Thái gồm các tỉnh Sơn La và Lai Châu ở Tây Bắc của Bắc Việt. Tại khu vực này, có 2 sắc tộc Thái sinh sống là Thái trắng và Thái đen. Dân số của 2 sắc tộc Thái này lúc bấy giờ vào khoảng 685,000 người. Người Thái trắng sinh sống ở Lai Châu và giáp vùng Lào Cai. Người Thái đen cư ngụ ở Sơn La và Điện Biên Phủ. Dân miền Thái thực sự biết đến chiến tranh kể từ đầu tháng 2/1951, khi mà lực lượng Việt Minh mở cuộc tấn công đầu tiên vào khu vực trù phú của miền Thái: đó là Nghĩa Lộ nằm đối diện với chiến khu Việt Bắc của Việt Minh. Lực lượng Pháp đã kịp thòi điều động lực lượng tiếp ứng tăng cường cho binh đoàn trú phòng tại Nghiã Lộ, và dưới hỏa lực không yểm của các phóng pháo cơ B26, lực lượng Việt Minh đã thảm bại với hơn 300 xác chết bỏ lại chiến trường.
* Phòng tuyến De Lattre tại chiến trường Bắc Việt
Tổng tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Pháp tại Đông dương de Lattre de Tassigny đã quyết định lập một phòng tuyến chạy bao quanh châu thổ để ngăn cách đồng bằng với rừng núi Bắc Việt. Quyết định này được ban hành sau trận đánh Vĩnh Yên. Công tác được bắt đầu từ tháng 2/1951 và xúc tiến mạnh mẽ vào tháng 3/1951 khi ông được tăng thêm viện binh và vũ khí từ Pháp qua. Và công tác này lại càng được ông chú ý hơn sau trận đánh Mạo Khê. Chiến lũy này được gọi là phòng tuyến De Lattre chạuy theo một hành lang trắng, rộng 3 cây số vuông. Dọc theo hành lang này, các đồn binh canh gác được thiết lập để ngăn chận các sự xâm nhập của lực lượng Việt Minh từ chiến khu Việt Bắc xuống, trong khi đó, các cuộc hành quân tảo thanh cứ tiếp tục được mở trong vùng ruộng luau đồng bằng để tiểu trừ các đơn vị Việt Minh địa phương.
Tướng de Lattre de Tassigny dự trù sẽ thiết lập 1,700 pháo đài. Các pháo đài này sẽ thành lập những tuyến kháng cự để chống lại trường hợp có quân Trung Cộng tràn sang hay để ngăn cản các lực lượng lớn của Việt Minh tiến vào vựa lúa miền Bắc VN. Đến tháng 8/1951, đã có 800 pháo đài được hoàn thành với sự trang bị đầy đủ vũ khí, quân số và quân dụng. Khác với những tháp canh tại miền Nam, các pháo đài này đều được xây chìm xuồng lòng đất. Các pháo đài còn gọi là các điểm tựa, thường mỗi khu phòng thủ thường có 4 cái quy tụ trên một diện tích hình tam giác gồm có pháo đài chính có liên lạc truyền tin, bộ chỉ huy với 3 pháo đài phụ có hỏa lực bắn chéo yểm trợ lẫn nhau.
Phòng tuyến “de Lattre” gồm có nhiều khu pháo đài như trên, mỗi khu pháo đài cách nhau khoảng 1 cây số, ban đêm địch quân có thể lợi dụng các khoảng trống này vào hành lang một cách dễ dàng vì kẽm và mìn chỉ đủ để dùng phòng thủ các khu pháo đài mà thôi. Các pháo đài hầu hết được xây bằng xi măng cho nên người ta đã gọi là pháo đài bê tông. Các pháo đài được thiết lập theo hàng lang trắng không mở theo chiều sâu, nghĩa là những khu pháo đài nếubị đánh thủng, đối phương tràn vào mà không gặp trở ngại nào khác nưã. Các đơn vị trấn giữ phòng thủ tại các pháo đài có nhiệm vụ vừa phòng thủ vừa mở các cuộc hành quân hạn chế trong khu vực trách nhiệm, để ruồng xét các đơn vị đối phương. Theo ghi nhận của Đại tướng Navarre, Tổng tư lệnh Quân đội Pháp tại Đông Dương (1953-1954) sau này ghi lại thì Đại tướng de Lattre đã sử dụng tới 20 tiểu đoàn để bảo vệ phòng tuyến này.
Ngoài những tốn kém về kinh phí, và quân số dồn cho phòng tuyến, De Lattre còn ra sức thiết lập các pháo đài bê tông xung quanh Hải Phòng và Hà Nội để tạo thế phòng thủ vững chắc cho đồng bằng và các địa điểm then chốt của Bắc Việt. Các hệ thống pháo đài và pháo lũy này không rõ có giá trị trên phương diện phòng thủ chiến lược hay không, vì các đơn vị chủ lực Việt Minh vẫn từ Việt Bắc xâm nhập qua các khe hở của phòng tuyến để vào đánh phá trong miền đồng bằng Bắc Việt. Sau này, Đại tướng Henri Navarre khi xây dựng quan niệm chiến lược mới tại Bắc Việt đã cho rằng phòng tuyến De Lattre vô ích vì không ngăn chận được địch quân mà còn làm mất một số rất lớn các đơn vị bị cầm chân tại đây.

https://vietbao.com/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s