601 của chúng tôi

Nguyễn Trọng Đức

Vào đầu năm 1970, Đại Tá Nguyễn Khoa Nam về nhận bàn giao chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Lể bàn giao do Thiếu Tướng Nguyễn Viết Thanh, Tư Lệnh Quân Đoàn IV chủ tọa.

Đại Tá Nam về làm Tư Lệnh Sư Đoàn nhằm vào lúc Sư Đoàn 7 Bộ Binh có rất nhiều việc cần phải hoàn chỉnh và cũng là thời gian toàn thể đơn vị chuẩn bị di chuyển vào doanh trại mới (căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho). Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn và các đơn vị trực thuộc cùng với Trung Đoàn 12 Bộ Binh đều vào đồn trú trong căn cứ Đồng Tâm. Trung Đoàn 11 Bộ Binh và Thiết Đoàn 6 Kỵ Binh về căn cứ Bình Đức, Mỹ Tho. Chỉ riêng Trung Đoàn 10 Bộ Binh vẫn yên vị tại Bến Tre.

https://i1.wp.com/i1215.photobucket.com/albums/cc506/TatVinh/Tuong_Nam_Le_Phat.jpg

Mấy chục năm đã trôi qua, hôm nay hồi tưởng lại giai đoạn đầu lúc Đại Tá Nam mới nhậm chức Tư Lệnh Sư Đoàn, chúng tôi vẫn còn cảm thấy không khí rộn ràng, bận bịu với bộn bề công việc; đủ mọi vấn đề phải giải quyết trong giai đoạn này. Ông Tư Lệnh của chúng tôi tuy không tuyên bố ầm ĩ, nhưng chúng tôi thấy ông đã tuần tự đi vào từng vấn đề, từng tiết mục một cách nhịp nhàng và việc đầu tiên ông làm tại đơn vị mới là ra lệnh cho mọi quân nhân lập tức mang nón sắt 2 lớp cùng vũ khí tùy thân bất cứ ở đâu. Có lẽ là để hoàn tất mọi công việc một cách chóng vánh và hiệu quả hơn, Đại Tá Tư Lệnh đã đề ra thời khóa biểu phụ trội cho các sĩ quan cấp trưởng như sau:

Hàng ngày, ngoài giờ làm việc như thường lệ, các sĩ quan cấp trưởng thuộc Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn và các đơn vị trưởng trực thuộc sẽ họp với vị Tư Lệnh hai lần: một lần vào sáng sớm và lần nữa vào buổi chiều:

Buổi sáng: Buổi họp sáng sớm bắt đầu khoảng 90 phút trước giờ làm việc thường lệ. Buổi họp này được thực hiện ở ngoài trời, mọi người ngồi trên ghế xếp theo hình vòng cung mà không có bàn. Buổi họp sáng tuy cũng bận rộn và sôi nổi nhưng ít nghi lễ hơn nên không cảm thấy căng thẳng.

Buổi chiều: Buổi họp chiều bắt đầu ngay sau khi buổi thuyết trình tại phòng hội Trung Tâm Hành Quân chấm dứt và cũng kéo dài khoảng 60 phút (dĩ nhiên vẫn sau giờ làm việc quy định).

Thực sự thì các buổi họp sáng và chiều trong giai đoạn đó cũng đã mang nhiều lợi ích, giúp cho sự cộng tác và hiệu năng làm việc giữa mọi người chúng tôi trở nên chặt chẽ, hăng say và tích cực hơn. Điều này đưa đến kết quả thấy rõ là Bộ Tham Mưu Sư Đoàn nắm vững mọi vấn đề hơn từ quân sự, an ninh, tình báo cho đến nhân sự, hành chánh. Nhưng thú thực, hàng ngày phải hai lần họp với Tư Lệnh, chúng tôi cũng “oải” lắm và không khỏi có ý tưởng suy diễn. Chúng tôi đã nghĩ rằng: ngoài các lý do công vụ bề bộn nêu trên, phải chăng Tư Lệnh không có gia đình, ngoài lúc bận rộn công việc, có thể là ông cũng cô đơn trong căn nhà lưu động; nên dù sao sự có mặt của chúng tôi trong các buổi họp sáng chiều cũng làm ông vui hơn. Ôi! Chúng tôi cũng kẹt với ông có đến nửa năm trời, sau khi mọi chuyện đi vào ổn định, chúng tôi mới được “tha tào” dần dần.

Trong suốt thời gian khoảng 5 năm giữ chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, Thiếu Tướng Nam đã cho chúng tôi nhiều kỷ niệm về một cấp chỉ huy khả kính mà tất cả chúng tôi đều cùng yêu mến và quý trọng.

Kỷ niệm đầu tiên là không một quân nhân nào của Sư Đoàn 7 mà không thường trực mang nón sắt 2 lớp với vũ khí tùy thân. Cái nón sắt của quân nhân Sư Đoàn 7 là cái nón sắt không lưới cũng không vải bọc, trong kho phát ra thế nào thì cứ như vậy đội lên đầu. Thường nhật, chúng tôi hay đội mũ vải, vừa nhẹ nhõm thỏa mái vừa dễ làm việc, nên lúc bắt buộc phải đội nón sắt lên đầu, quả thật chúng tôi cũng hơi khó chịu, nhưng đội riết rồi cũng quen.

Cũng về chuyện cái nón sắt, chúng tôi còn nhớ trong một lần liên hoan chiến thắng của Sư Đoàn, có sự yểm trợ văn nghệ của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Lệ thường, Tướng Nam vẫn hay thăm hỏi các văn nghệ sĩ đến giúp vui cho Sư Đoàn. Đột nhiên danh hài Khả Năng đã phát biểu cùng Tướng Nam như sau:

– Thưa Thiếu Tướng, lần này đoàn văn nghệ trở lại Sư Đoàn 7 Bộ Binh thấy cây cối dọc theo các đường trong căn cứ đều vươn cao và xanh tươi hơn, chỉ riêng sĩ quan trong Bộ Tham Mưu dường như thấp hơn đôi chút vì cái nón sắt.

Ông Tướng biết Khả Năng nói móc đã cùng cười với mọi người. Về cuộc sống hàng ngày của ông thì chẳng có gì rườm rà. Lần mà chúng tôi cùng đi với ông đến viếng một đám tang ở Mỹ Tho, trên đường từ căn cứ ra thị xã, ông hỏi chúng tôi có hay dùng mì gói ăn liền không và nên lấy mì 2 con tôm loại này khá ngon. Chúng tôi ( Đại Tá T. và Trung Tá Đ.) chỉ cùng vâng dạ, vì thực sự tụi tôi chỉ ăn mì gói khi nào kẹt mà thôi. Riêng cái món nước uống của ông thì chúng tôi thường xuyên “mượn đỡ” vì món nước uống này chế biến bằng các loại đậu rang vàng rồi pha như pha trà vừa thơm vừa dễ uống.

Có lẽ ông sợ thuộc cấp trong Bộ Tư Lệnh có thể nghĩ rằng ông ít quan tâm, nên lâu lâu chúng tôi lại được ông gọi tháp tùng. Nhưng thay vì tháp tùng thì cùng đi xe ông Tướng, trái lại ông đi bằng xe của chúng tôi (Ông có thể đi xe của bất cứ ai vì xe tư lệnh tuy có bảng sao nhưng luôn luôn bịt kín, chỉ mở khi có lễ nghi hoặc đón quan khách). Có một lần chúng tôi đi với ông từ sáng đến chiều, khi đưa ông về lại văn phòng Bộ Tư Lệnh, ông khen chiếc xe bảo trì tốt. Thì ra phải chăng chúng tôi đã bị kiểm tra bảo toàn bởi chính Tư Lệnh.

Anh em chúng tôi cũng biết Tướng Nam là người rất thanh liêm. Không người nào phải nộp tiền hay quà cáp gì cho ông Tướng trong thời gian ông ở Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Còn khi Đại Tá Nam được thăng Chuẩn Tướng, mọi người chờ đợi ông Tướng đãi tiệc khao lon, nhưng rồi vẫn không có gì cả, và cũng từ đó mỗi lần thăng thưởng chúng tôi cũng tự động im lặng vô tuyến. Tuy nhiên số tiền phủ Tổng Thống cho Tướng Nam trong dịp thăng thưởng đã được trao cho khối Chiến Tranh Chính Trị của Sư Đoàn để tặng các đơn vị (trung đoàn và tiểu đoàn bộ binh) mở tiệc khao quân.

601

Trong ám danh đàm thoại thì 601 là danh hiệu của Tư Lệnh Sư Đoàn 7. Là một đơn vị chiến đấu, các đơn vị thường xuyên điện đàm khi cần. Do đó sau một thời gian quen miệng trong đàm thoại vô tuyến, đến lúc nói chuyện trực tiếp với Tư Lệnh thay vì thưa gởi theo quân cách thì nhiều người lại thưa “601” một cách rất thản nhiên và ông Tướng cũng coi như tự nhiên luôn. Ngay như đến ngày nay, sau một phần tư thế kỷ, nhắc đến ông chúng tôi vẫn dùng danh hiệu 601 – Thí dụ chúng tôi vẫn nhắc nhở nhau: “Sắp đến ngày giỗ 601, anh hay chú nhớ thu xếp về v.v.. và v.v..” Tướng Nguyễn Khoa Nam hay 601, tên tuổi đó, danh hiệu đó, vẫn sống trong trái tim của những người một thời đã là quân nhân Sư Đoàn 7 Bộ Binh.

Khi được biết sẽ là Tư Lệnh Quân Đoàn IV, chúng tôi nghĩ là ông cũng vui dù rằng ông rất điềm đạm, nhưng cũng rất rõ ràng chúng tôi thấy ông bịn rịn. Chúng tôi thì khác hẳn, chúng tôi vui mừng lộ liễu. Ôi nhiều lý do khiến cho chúng tôi được vui mừng. Do vậy trong bữa cơm tạm biệt, ông hỏi các sĩ quan: “Tại sao các anh em có vẻ vui mừng khi tôi rời Sư Đoàn?” Câu trả lời quá dễ dàng: “Rõ ràng là chúng tôi rất vui và hãnh diện.” Dường như ông đã cố dấu xúc động.

Sau đây là kỷ niệm đáng nhớ nhất của chúng tôi với Tướng Nguyễn Khoa Nam mà cũng là đoạn cuối của mấy trang hồi ký này. Vào một buổi chiều trước ngày ông rời Sư Đoàn, ông gọi chúng tôi lên văn phòng và chỉ thị:

1.Bảo tôi viết một diễn văn để ông đọc trong lễ bàn giao chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn IV. Ông cũng không quên lưu ý tôi phải chú trọng đến phần nội dung theo ý của ông.

2.Ông hỏi tôi có dám lập một trường trung học trong căn cứ Đồng Tâm không? Có dám lập một ký túc xá nuôi các cháu cô nhi con tử sĩ của Sư Đoàn không?

Chúng tôi làm việc dưới sự lãnh đạo của ông đã 5 năm cũng không ngạc nhiên cái cách ông vẫn hỏi như vậy. Thay vì ông bảo làm được không thì ông hỏi thuộc cấp có dám không? Chúng tôi thấy vấn đề không dễ, tôi xin ông chỉ thị lại cho tôi, và ông chỉ thị rành mạch như sau:

“Nuôi các cháu con tử sĩ, dạy các cháu học hết bậc trung học.”

Chúng tôi trình bày với ông về quan điểm của chúng tôi:

1.Lập trường trung học không khó vì:

Hiện có nhiều sĩ quan trẻ có bằng cử nhân.

Sư Đoàn 7 đã được bộ Tổng Tham Mưu thuận cấp cho một ngàn căn gia binh. Sư Đoàn có thể xin trích trong số đó một phần để làm trường học và ký túc xá.

2.Còn vấn đề nuôi ăn cho các cháu thì quá khó; chúng tôi lo ngại nhất là việc này.

Chỉ thị của Tướng Nam:

– Không có gì phải bàn lui. Tôi (Tướng Nam) sẽ nói chuyện với Chuẩn Tướng Hai. Một mặt Sư Đoàn cứ chuẩn bị nhân sự và cơ sở để điều hành. Tôi (Tướng Nam) sẽ chuẩn bị một ngân khoản và sẽ gởi dần về Sư Đoàn, để đủ chi dùng khoảng hai năm. Trong vòng hai năm, Sư Đoàn đủ thời gian để xin điều chỉnh các cơ sở này trở nên của cơ quan phụ trách Quốc Gia Nghĩa Tử, lúc đó mọi chi phí trung ương sẽ đài thọ.

Ngay lúc đó, chúng tôi đã thầm nghĩ: “Tư Lệnh của chúng tôi rất sáng việc vì trong hai năm chúng tôi có thể hoàn thành việc trên.” Ngày nay nghĩ lại, chúng tôi càng cảm phục Tướng Nam về lòng yêu mến đơn vị và không quên các chiến hữu đã hi sinh.* Ông nguyên là Trung Tá, Tham Mưu Phó
Chiến Tranh Chính Trị của Sư Đoàn 7 Bộ Binh.

nguyenkhoanam.com.
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s