NGƯỜI LÍNH VNCH NĂM XƯA

(gởi Phạm văn Nếp)
Bạn về gõ cửa đêm thâu
Ta nghe âm vọng nỗi sầu xa xưa
Phạm Tín An Ninh

Sau ba năm ngồi bên nhau ở trường Võ Tánh, chia tay, mỗi thằng đi mỗi ngã. Anh bạn của tôi thì vào trường luật, còn tôi thì vào trường…lính. Khi còn đi học, bạn chăm chỉ và giỏi hơn tôi nhiều. Hai đứa học trò nghèo, cùng ở quê lên tỉnh học, nên dễ dàng là bạn tâm giao. Con nhà nghèo nhưng tôi lại mê truyện François Sagan và thơ Xuân Diệu, biết yêu hơi sớm, nên thay vì theo bạn học thêm vài ba chữ, thì tôi lại đắm say ngụp lặn trong một cuộc tình kiểu Aimez-vous Brahm. Mà dường như tình yêu nó làm cho người ta đổi thay ghê gớm lắm.

Không biết tình yêu ngày ấy có làm tôi “…chết ở trong lòng một ít, và… lạc lối giữa u sầu mù mịt” như ông Xuân Diệu hay không, nhưng nó đã biến tôi thành một thằng lính. Để cho có vẻ lãng mạn một chút, tôi tự cho mình là một thằng lính đa tình.

Trước ngày chia tay, anh bạn dẫn tôi về thăm quê. Từ Nha trang chúng tôi di Xe đò Khánh Hòa. một trong những chiếc Xe Renault sơn màu nửa xanh nửa trắng, quen thuộc một thời với đám học trò từ Vạn Giã, Ninh Hòa vào Nha Trang đi học. Qua khỏi đèo Rọ Tượng một lúc, xuống Xe, anh bạn đèo tôi trên Xe đạp về làng. Đi dọc theo con đường đất, hai bên bát ngát những ruộng đồng, Hun hút phía xa xa, nằm ẩn hiện sau ngôi đình với bao tàn cây cổ thụ, là làng Tam Ích. Cái làng quê đẹp như bức tranh vẽ và thần tiên như trong cổ tích. Ngay cả cái tên của bạn tôi cũng mộc mạc dễ thương như cánh đồng tôi vừa mới đi qua. Làng Tam Ích hiền hòa, êm đềm với tiếng gió đồng nội hòa cùng tíếng sóng rì rào tạo thành khúc nhạc huyền dịu của đất trời, và Hun đúc cái hiền lành thánh thiện trong tâm hồn người bạn thời niên thiếu của tôi… Vậy mà chiến tranh cũng đã một thời cướp đi cái yên bình đầm ấm của ngôi làng. Ăn cơm chiều sớm, hai đứa chúng tôi chào những người thân, rồi đèo nhau Ra phố Ninh Hòa ngủ qua đêm. Nếu chiến tranh ngày đó đã cướp mất của tôi bao nhiêu điều tốt đẹp, thì trong đó có cả cái lần tôi không được ở lại làng Tam Ích một đêm để cùng anh bạn tôi kéo giành bắt cá, đi câu, và ngồi ngắm ánh trăng lung linh trên đầm Nha Phu trong một vùng biển trời tĩnh mịch.

Ra khỏi quân trường tôi về Nha Trang tìm thăm bạn tôi một lần. Hai thằng rủ nhau Ra tiệm sách Vĩnh An Thành, bên cạnh chợ Đầm, vờ mua sách để ngắm dung nhan cô chủ mà anh bạn của tôi đã từng say đắm một thời. Rồi kể từ đó biền biệt xa nhau. Chiến trường ngày càng ác liệt, những thằng lính đánh giặc như tôi chỉ biết có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Phố phường, bạn cũ trường xưa, là một quá khứ thật dễ thương, nhưng cũng đành phải mờ nhạt phía sau lưng.

Mười năm sau, khi cùng đơn vị sống chết từng phút từng giờ với chiến trường Kontum trong “mùa hè đỏ lửa”, bất ngờ tôi gặp lại người bạn làng Tam Ích ngày xưa. Anh sinh viên trường luật ngày nào bây giờ chỉ huy một đơn vị CTCT, vừa từ Ban Mê Thuột lên hỗ trợ tinh thần cho đơn vị tôi. Bộ “chinh y” chưa làm cho chàng at thay đổi. Vẫn nét mặt thư sinh cùng nụ cười hiền hậu ngày xưa. Hai thằng ôm nhau trong lúc đạn pháo trên các chiến xa T-54 thi nhau bắn vào căn cứ. Nửa khuya hôm ấy đơn vị tôi nhận lệnh di chuyển bất ngờ. Vậy là tâm tình chưa cạn thì hai thằng đã phải lặng lẽ chia tay, chưa kịp bắt chước nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn nắm tay hò hẹn:

“Mai ta đánh trận may còn sống
Về ghé Pleiku* phá phách chơi..
Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui “

Chiến tranh đã làm bạn bè tan tác, nhưng đến khi kết thúc lại còn tan tác bi thảm hơn. Sau tháng 4/75, cái cổng trại “cải tạo” của nhà nước đã làm chia ly biết bao tình cảm con người. Bạn bè kẻ chết ở đầu non, người mỏi mòn góc bể. Người bạn làng Tam Ích bây giờ chỉ còn mờ mịt đâu đó trong ký ức hiu hắt của tôi.

Vậy mà Trời thương, hai thằng còn sống. Mang tấm thân tàn tạ về với gia đình. Tội nghiệp, nghe tin tôi về, anh bạn trọn tình, tìm đến nhà ông bà già vợ tôi ở Ninh Hòa thăm thằng bạn cũ. Lúc ấy “chính quyền Cách Mạng” không cho phép “tạm trú” với vợ con ở Ninh Hòa, tôi phải về sống với một bà cô ngoài quê nội, nên bạn tôi không gặp. (Ô hay, chẳng lẽ trên quê hương tôi đã từng có cái cảnh “gần trong gang tấc mà xa nghìn trùng ” như thế hay sao ?)

Đúng ba mươi năm sau, từ những phương trời xa lạ, bất ngờ đọc trang web Ninh Hòa, bạn nhắn tìm tôi. Kẻ bên bắc Mỹ, người tận bắc Âu xa tít mịt mù, vậy mà tôi có cảm giác hai thằng đang ngồi bên nhau như lúc còn ở trường Võ Tánh. Trên đầu giây điện thoại, hai đứa nhắc nhau bao kỷ niệm vui buồn về bạn cũ trường xưa, cùng chia sẻ mọi nỗi niềm oan khổ từ những ngày “vì sao mà ra nông nỗi..“.

Tội nghiệp người bạn một thời học hành chăm chỉ và khi làm lính thì vẫn hiền lành như một thư sinh, vậy mà hơn sáu năm tù đày trở về phải bỏ cái làng quê Tam Ích với biết bao dấu chân suốt một thời thơ ấu, dắt vợ con lang thang vào vùng kinh tế mới Đồng Bò. Chỉ hai năm sau, rừng thiêng nước độc đã cướp mất của bạn tôi người vợ hiền chung thủy cùng đứa con trai mà ngày cha vào tù nó chưa gọi được tiếng Ba.
Bạn chôn cất vợ con và chôn theo nỗi đau đớn tột cùng của đời mình, rồi trốn khỏi vùng kinh tế mới, đem hai đứa con còn lại gởi cho ông bà ngoại, đi làm bất cứ công việc gì để nuôi hai đứa con thơ. Con gà trống nuôi con trong túng quẫn, mà mỗi ngày vẫn nhìn con mình như nhìn về phía chân trời để có thêm nghị lực đứng lên và đi tới.

Cám ơn Trời Đất đã mở ra một lối thoát cho những người cuối đường bất hạnh. Mang hai đứa con đến Mỹ khi chúng vừa mới lớn, bạn tôi, con gà trống bây giờ lại nuôi con trên xứ lạ quê người. Bằng tấm lòng độ lượng của người cha, cuối cùng hai đứa con thơ cũng đến được chân trời. Ngày hai đứa con thực sự trưởng thành, như những con chim bắt đầu tự bay lên bằng chính đôi cánh vững chải của mình, người bạn của tôi tiễn cô con gái lớn theo chồng rồi trở về sống một mình với nỗi hiu quạnh của tuổi sáu mươi.

Hai năm trước đó, nhờ một nhịp cầu tao ngộ, bạn tôi gặp một cô “con gái” Long Khánh. “Hai người sống giữa cô đơn, hinh như nàng có nỗi buồn giống…tôi “ nên trở thành đôi bạn tâm giao. Nhưng chờ lo cho con cái lớn khôn và có cuộc sống riêng, mới đây hai người mới về chung một mái nhà, cùng san sẻ nỗi niềm và cho nhau một chút hơi ấm ở chặng tuổi cuối đời.

Gặp nhau trên điện thoại viễn liên, tôi nghe được một giọng nói phúc hậu hiền lành. Chị cho tôi biết anh bạn tôi có thú làm thơ, đọc sách, còn chị thì thích trồng và chăm sóc mấy cành hoa. Tôi đùa: ” thì chị cũng đang mỗi ngày chăm sóc một cành hoa Tam Ích đẹp đẽ đó thôi. Tôi hy vọng qua những ngày thiếu nắng thiếu nước, bây giờ cây hoa ấy được trồng trên vùng đất màu mỡ hiền hòa Long Khánh, chắc nó sẽ còn cho chị và cho đời nhiều bông hoa lắm đó “. Chị cười như cùng đồng cảm với những điều tôi vừa mới nói.

Tôi không biết nhiều về Long Khánh, ngoại trừ một lần duy nhất tôi ghé lại đây. Đó là cái ngày tôi ra khỏi trại tù Z 30 C. Sáu thằng tù vừa được thả, tiều tụy xanh xao, trong túi chỉ có vài đồng bạc, đứng giữa rừng buổi trưa nắng cháy, đón xe quá giang về Sài Gòn, nơi có gia đình của ba trong sáu đứa. Anh tài xế xe lam còn nặng tình với những thằng lính cũ, không đón khách mà dành cả chiếc xe chở bọn tôi về bến xe Long Khánh và hứa sẽ tìm xe quen gởi chúng tôi về tận Sài gòn. Thời buổi ấy, muốn mua được cái vé xe đò có khi phải nằm ở bến chờ đợi mấy hôm, huống hồ gì chuyện quá giang. Đến bến xe Long Khánh, không còn chiếc xe nào, anh tài xế xe lam tốt bụng mời chúng tôi vào quán ăn, đãi một chầu phở. Trong quán cũng có mấy người đàn bà, hình như buôn bán gần đâu đó. Biết chúng tôi là tù cải tạo mới thả, họ bàn với chủ quán, thay vì mang phở ra, dọn cho sáu thằng chúng tôi một bữa cơm thịnh soạn. Chúng tôi từ chối, nhưng các bà nhất định không cho, bảo chúng tôi đừng phụ lòng của người Long Khánh. Khi xe đến, các bà gặp tài xế, trả tiền xe trước cho chúng tôi. Đã vậy, khi về đến Sài Gòn, anh tài xế còn chuyển lại cho chúng tôi một gói tiền của các bà gởi biếu. Chúng tôi cầm tiền mà muốn rơi nước mắt. Trong cái cảnh bi thương giữa một thời nhá nhem tình nghĩa, vẫn còn có biết bao tấm lòng như người Long Khánh.

Bây giờ bất ngờ gặp chị, nghe lại giọng nói hiền từ của một người Long Khánh, tôi bất giác nhớ lại chuyện xưa, và càng trân trọng chị. Chị đã mở rộng tấm lòng, đón nhận một người bạn đời trên tuổi sáu mươi, mà những vết thương trong tâm hồn vẫn chưa lành được. Xin cám ơn Long Khánh, đã sản sinh cho đời những người con gái giàu tình nặng nghĩa. Tôi mừng cho người bạn thật dễ thương, hiền hậu của tôi, tìm được vòng tay, an ủi, vỗ về, sau những đớn đau mất mát tưởng chừng chẳng còn gì lớn lao hơn.

Ngồi nghe bạn kể về cuộc đời gió mưa của bạn, lòng tôi lắng xuống bâng khuâng. Tôi chợt nhớ một vài kỷ niệm thuở hai thằng còn đi học và cảm nhận có đôi điều dường như đã vận vào số phận của bạn, của tôi.

Ngay từ lúc còn là học sinh trung học, hai thằng đã nghèo mà lại còn mang cái bệnh “đa sầu đa cảm”. Tôi thì mồ côi mẹ từ lúc mới lên ba, cả một thời ấu thơ và lớn lên trong vòng tay tình nghĩa của cô, dì, ông bà nội ngoại, nên lòng sớm biết u sầu. Vậy mà tôi không mau nước mắt và biết làm thơ buồn như người bạn làng Tam Ích. Mới học đệ ngũ đệ tứ gì đó mà dám đứng ra thành lập một “thi văn đoàn” giữa đất Ninh Hòa. Cái xứ mà dường như bây giờ mỗi người là một nhà thơ.

(Tôi còn nhớ lúc tôi còn nhỏ, ba tôi thường bảo, những đứa trẻ sớm có tính đa sầu đa cảm thì sau này cuộc đời sẽ buồn ghê lắm. Ông kể cho tôi nghe chuyện nữ thi sĩ Tiết Đào bên Trung Quốc. Lúc còn rất nhỏ, nàng đã thích thơ phú. Cụ thân sinh là một nhà thơ nổi tiếng, nên bà thường theo cha để học làm thơ. Năm Tiết Đào mới lên mười, trong một hôm mưa bão, thân phụ nhìn ra ngoài trời thấy một cây ngô đồng bị gió mưa tơi tả, bảo Tiết Đào làm mấy câu thơ vịnh thử, nàng liền ứng khẩu:

Chi nghênh nam bắc điểu
Diệp tống vãng lai phong

Thân phụ nàng nghe xong thất sắc, vừa phục tài nhưng vừa lo lắng điều không may cho hậu vận của con mình. Sau này, khi một triều đại Trung Hoa thay đổi, gia đình bị tù đày khổ ải, nên Tiết Đào đã có thời phải đi làm kỹ nữ. Từ ấy trong văn chương mới có câu ” Gió lá cành chim”, “đón đưa ai gió lá chim cành”.

Chuyện ba tôi kể đã trên năm mươi năm, không biết tôi nhớ sai hay đúng, nhưng nó vẫn cứ nằm mãi trong lòng, để liên tưởng tới miền Nam nước tôi, sau thang 4/1975 đã có biết bao nhiêu nàng Tiết Đào như thế !)
………….
Năm đệ tam, trong giờ Việt văn của thầy Nguyễn Văn Châu, lúc cả lớp tranh luận về bài Tổng Vịnh Truyện Kiều, bạn và tôi đứng về phía Chu Mạnh Trinh hết lời bênh vực nàng Kiều:

“ Giả sử ngay khi trước Liêu Dương cách trở, duyên chàng Kim đừng dở việc ma chay, quan lại công bằng, án viên ngoại tỏ ngay tình oan uổng, thì đâu đến nỗi son phấn mấy năm lưu lạc, đem thân cho thiên hạ mua cười, mà chắc rằng biên thùy một cõi nghênh ngang ai xui được anh hùng cởi giáp…”

…”Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu…..”

Năm đệ nhất, hai thằng lại cùng say mê những giờ văn học sử Pháp của Thầy Cung Giủ Nguyên, nên đã nắn nót viết vào tập và đọc đi đọc lại đến độ thuộc lòng mấy bài thơ lãng mạn của Lamartine, Chateaubriand, Jacques Prévert, Victor Hugo.
Cuối cùng thì cuộc đời hai thằng, dù là nam nhi, nhưng nào có khác gì thân phận trôi nổi của nàng Kiều:

Một phen thay đổi sơn hà …
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu
(Nguyễn Du)

hay của những chàng thủy thủ mịt mờ trong Oceano Nox:
Où sont-ils les marins sombrés dans les nuits noires ?….
O flots ! Que vous savez de lugubres histories !
(Victor Hugo)

Gặp lại tôi sau gần bốn mươi năm, trong những lời tâm tình, bạn cho tôi biết thêm một điều nuối tiếc:
“Tớ buồn quá, vì không tìm thấy cái làng Tam Ích nhỏ nhoi, nghèo mà quá đổi thân thương của mình trên tấm bản đồ Ninh-Hòa.. Cái làng mà ngày xưa bạn có lần về thăm với mình rồi vội vã ra đi ấy ! “

Tôi nghe lòng lắng xuống và thấy thương người bạn hiền thời thơ ấu rồi thương cả chính mình. Thế hệ chúng tôi sao bỗng dưng phải mất đi bao nhiêu điều quí giá, để cuối cùng lại trở thành “khúc ruột ngàn dặm” của quê hương?

Hình ảnh bạn tôi cùng cái Làng Tam Ích ngày xưa như đang nhạt nhòa trong nước mắt. Im lặng giây lát, tôi lấy lại bình tĩnh, rồi cười với bạn :
” Thì bạn hãy viết thật nhiều về cái làng của bạn đi, để bạn có cái cảm giác của một Từ Thức trở về nơi xưa chốn cũ, tìm lại dấu vết một thời cùng những “hang động tuổi thơ”. Còn với mình, cái “làng Tam Ích dù không trọn một ngày” ấy vẫn mãi mãi còn lại trong lòng như một kỷ niệm dễ thương.

Phạm Tín An Ninh

http://www.quehuongngaymai.com/forums/showthread.php?213036

</div>
” data-medium-file=”” data-large-file=”” />

Kỵ Binh NguySaigon

Ngụy tui đã đọc ba bài giới thiệu cho quyển sách “Sau Cơn Binh Lửa” của tác giả Song Vũ :

– Một của Trung Tá phi công Võ Ý ,
– một của Thiếu Tá (?) Phạm Tín An Ninh, một sĩ quan Sư Đoàn 23 Bộ Binh, từng miệt mài chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên
– và một của Đỗ Trường , một nhà văn sinh tại Miền Bắc XHCN, hiện sinh sống tại Đức Quốc.

Bài viết của Đỗ Trường (*) đọc lên rất cảm động . Có thông cảm, có một chút thương cảm và ngậm ngùi . Song Vũ là lính hiện dịch . Ông chọn con đường binh nghiệp để phụng sự Tổ Quốc . Ngụy tui chọn con đường khác . Nhưng cuối cùng Ngụy tui và ông cùng chiến đấu dưới Quân Kỳ QLVNCH . Dù là lính trừ bị và dù không thích chiến tranh nhưng Ngụy tui cũng đã chiến đấu tới giờ phút cuối cùng .

Đọc “Sông Mao, Những Ngày Tháng Cũ” khi Song Vũ đã đụng với Tướng Tư Lệnh và đã chịu “bầm dập” một thời gian cũng như tôi đã mạnh mẽ phản bác Tướng Lý Tòng Bá đang là Chỉ Huy Trưởng TGB . Khi Tướng Bá về Trường Thiết Giáp để nói chuyện cùng các sĩ quan đang thụ huấn các khóa Trung cấp và Cao cấp, Ngụy tui chỉ là một sĩ quan nhí , chỉ huy đơn vị thấp nhất trong binh chủng Thiết Giáp Binh , nhưng không thể im lặng khi Tướng Bá bảo rằng cứ căng hàng ngang dùng tốc độ và hỏa lực mạnh tấn công vào mục tiêu là chiến thắng như ông đã từng làm khi còn chỉ huy Đại Đội 7 Cơ giới .

Tôi đã có ý kiến với ông rằng chiến trường ngày nay khác xa chiến trường ngày xưa. Xưa chống tăng chỉ có SKZ 57 ly bắn rất chậm cho nên khi khai hỏa là trước sau sẽ bị mất . Đại đội 7 Cơ Giới do ông chỉ huy đã chiến thắng tất cả các trận đánh trừ trận Ấp Bắc lần thứ nhất (trận đánh nầy huề theo nhận định của tôi) . Sang lần thứ hai tại Ấp Bắc bọn Cộng quân đã bị thiệt hại nặng nề khi các khuyết điểm đã được điều chỉnh, thêm mặt nạ cho Đại Liên 50 và Đại Liên 30 để che chở, bảo vệ cho xạ thủ . Ngày nay vũ khí chống tăng như đồ chơi cầm tay . B40, B41, SA7, AT3 , SKZ 82 ly bắn nhanh sức phụt hậu yếu có thể bắn từ trong hầm cá nhân rất nguy hiểm . Nếu theo chiến thuật như ngày xưa, Cua sẽ bị rang muối hết . Cho nên nhiệm vụ của sĩ quan Thiết Giáp phải biết quyền biến, phải biết tiên liệu cân nhắc chứ không nhắm mắt mà tấn công . Tướng Bá nhìn tôi ngạc nhiên nhưng không nói lời nào trong khi tất cả các sỉ quan có mặt đều im lặng và lo sợ cho tôi . Nhưng họ hiểu rằng những lời của tôi là những lời đúng đắn nhất của những người lính chiến đang đối mặt với địch quân tại chiến trường . Chúng tôi cũng rất thường bác bỏ những đề nghị của các cố vấn Mỹ . Các cố vấn Mỹ đi theo chúng tôi thật ra chẳng cố vấn cái gì cả, chỉ có mỗi nhiệm vụ gọi trực thăng để tản thương và gọi chiến đấu cơ Mỹ để yểm trợ . Cho nên dù trừ bị hay hiện dịch, chúng tôi, những sĩ quan rất trẻ, bước vào chiến trường với ba tín niệm Tổ Quốc –Danh Dự-Trách Nhiệm . Chúng tôi luôn có tinh thần độc lập , tự tin , nhiều sáng kiến trên chiến trường . Không phải là thứ robot như Bắc Quân . Cho nên không bao giờ những đơn vị QLVNCH gây tội ác như trường hợp Trung úy TQLC Hoa Kỳ Caley đã làm tại Mỹ Lai .

Ông Đỗ Trường hẵn phải thấy khi chúng tôi rút lui , đồng bào đã chạy theo chúng tôi . Khi Quân lực chúng tôi trở lại Huế năm 1972 , người dân Huế đã biết rằng họ sẽ sống còn . Những hình ảnh dã man trên 9 cây số Đại lộ kinh hoàng do Trung đoàn pháo Bông Lau của Bắc quân đã làm cả thế giới kinh tởm . Người pháo thủ của Trung Đoàn Pháo Bông Lau đã nghĩ gì , tay có run khi anh ta nã pháo để tàn sát chính đồng bào mà anh ta từng tuyên bố là sẽ giải phóng họ khỏi kiếp đời nô lệ của bọn Mỹ -Ngụy . Những sát thủ họ nghĩ gì khi họ chôn sống hơn 4 ngàn người dân Huế Tết Mậu Thân . Ai đã ra lệnh cho họ và ai đã biến những con người VN bình thường trở thành những tên đồ tể khát máu . Thưa ông Đỗ Trường đó chính là lý do đã 40 năm mà Song Vũ vẫn kiên nhẩn viết nên Sau Cơn Binh Lửa, để lại cho đời sau một khoảnh khắc của lịch sử, để biết rằng có hằng triệu thanh niên Miền Nam đã đáp lời sông núi đứng lên bảo vệ Tổ Quốc –Đồng Bào, chống lại bọn cuồng tín Bắc cộng trong nhiệm vụ bành trướng cho bọn cộng sản quốc tế . Ý niệm Tổ Quốc của những người lính chiến chúng tôi là Trung Thành với Tổ QuốcTổ Quốc trên hết . Tổ Quốc là nước Việt Nam Cộng Hòa . Ngược lại bọn Bắc cộng không hề có ý niệm Quốc gia . Tổ quốc của bọn Bắc Cộng là Quốc tế Cộng sản .

Tác giả Đỗ Trường không đồng ý khi KQ Võ Ý nhận định “Họ (Bắc Việt) không thắng bằng chính nghĩa, mà bằng ngu muội, dối trá và tàn độc…” Dối trá và tàn độc ai ai cũng đã thấy, đã biết khi bức màn sắt , bức màn tre sụp đổ . Hay nói đúng hơn nhờ chiến thắng mùa xuân 1975 mà đảng cộng sản đã hiện nguyên hình là bọn nói láo và tàn ác dã man . Bao nhiêu chiến binh Miền Bắc đã khóc khi đặt đôi dép râu vào Saigon . Bao nhiêu gia đình hai miền Nam Bắc đã khóc cho hơn 4 triệu thanh niên VN đã chết cho bọn dối trá lừa dân bán nước . Có lẽ tác giả Đỗ Trường không đồng ý chữ ngu muội. Vâng có thế nói rằng ngu dân thì đúng hơn là ngu muội . Bọn cộng sản theo đuổi chính sách ngu dân để dễ trị . Ngu dân qua nhiều hình thức . Lối tuyên truyền “mưa lâu thấm đất ” đã có tác dụng mạnh mẽ từ học đường cho tới ngoài xã hội . Ngay trong nội bộ đảng viên CS : sắt máu ngu dân đã biến những cán binh CS trở thành nhưng kẻ cực đoan , quá khích, cuồng sát sẵn sàng giết người không gớm tay khi nghe tiếng chuông báo tử như trong thí nghiệm Pavlov . Bản thân Ngụy tui trong tù đã bao nhiêu lần thắc mắc với những cán binh Bắc cộng ngu dốt cuồng tín nầy làm sao họ lái những chiếc Mig21 để không chiến cùng các phi công Hải Quân Hoa Kỳ lổi lạc . Làm sao họ có thể điều khiển những hỏa tiển SAM2 để bắn rơi B52 . Cán binh Bắc Cộng dù cấp sỉ quan không có kiến thức căn bản, chưa học xong Trung học . Từ tay chính ủy đến vệ binh đều có một kiến thức chung chung giống nhau khi được hỏi làm thế nào để bắn rơi B52 với SAM 2 . Họ trả lời đầy vẻ hãnh diện rằng-thì-là nhờ Khoa Học gia Trần Đại Nghĩa gắn một cục gì đó vào SAM2 nên bay cao hơn tầm bay của B52 . Hay đầy vẻ hãnh diện khi khoe khoang Bác sĩ Tôn Thất Tùng chữa Mig17 thành Mig21 bắn hạ Con Ma , Thần Sấm . Hay tại quê hương 5 tấn Thái Bình chỉ cần lấy que xâm xuống đất là dầu hỏa phọt lên ngay . Cho nên đã tạo ra những tràng cười bất tận như tủ lạnh TV chạy đầy đường, kem ăn không hết phải phơi khô …. Bắc Cộng đã tạo là những cán binh NGỐ cho nên cuồng tín , mới có cảnh xích chân vào súng cộng đồng, vào xe tăng gây khó khăn cho chúng tôi trên chiến trường . Không ai ngạc nhiên khi Bắc cộng có 4 triệu cán binh sinh Bắc Tử Nam trong khi Mỹ chỉ có 58 ngàn binh sĩ tử trận và VNCH có khoảng 260 ngàn chiến sĩ hy sinh . Và ngay bây giờ tại thời điểm nầy qua những câu tuyên bố của các giới chức như tổng bí thư , chủ tịt nước hay thủ tướng, bộ trưởng VC có chút đần đần có chút tiếu lâm . Chữ Ngu Muội của Trung Tá Võ Ý không chính xác phải dùng chữ Ngu Đần mới đúng . Vì ngu đần để dễ trở thành đồ tể khi cho một mũi thuốc kích thích hay một ngụm “Hùng Tâm”

Tác giả Đỗ Trường đã cho rằng Bắc cộng giỏi làm tư tưởng chính trị hơn VNCH, cho nên người lính VNCH đã thua ngay trên bàn chính trị . Tôi rất không đồng ý điểm nầy . Chúng tôi không thua trên bàn chính trị tại Miền Nam VN mà chúng tôi đã thua tại Washington, tại điện Capitol khi trật tự thế giới đã thay đổi . Người lính VNCH chúng tôi không bị tẩy não, nhồi sọ hay bị khủng bố bởi những cấp chỉ huy . Chúng tôi có chính nghĩa , chúng tôi có lý tưởng , chúng tôi (đa số) biết việc chúng tôi phải làm khi bọn Bắc cộng xâm lăng VNCH chúng tôi . Chúng tôi không cần những bài chính trị láo khoét , người lính VNCH chúng tôi không cần phải học những bài học đối trá phi đạo đức , chúng tôi không được huấn luyện dùng khủng bố để cai trị, làm người dân sợ để phải tham gia , cộng tác . Khi người lính Song Vũ hay Ngụy Saigon tôi quỳ xuống Vũ đình Trường trong ánh lửa lập lòe để nhận lãnh uy quyền chỉ huy với ba tín niệm Tổ Quốc –Danh Dự -Trách Nhiệm là chúng tôi đã nguyện hiến thân dưới cờ để phụng sự Tổ Quốc . Tôi muốn nhắc lại phụng sự Tổ Quốc chứ không phụng sự cho bác cho đảng nào . Chúng tôi chưa bao giờ nhận rằng Quân Lực VNCH chúng tôi là Quân đội nhân dân . Nhưng chúng tôi luôn tâm niệm: Vì Dân Chiến Đấu – Vì Nước Hy Sinh . Chính nghĩa ngời sáng, lý tưởng cao đẹp, chúng tôi đã xông pha khói lửa để Bảo Quốc An Dân .

Tiếc thay cuộc chiến đấu của chúng tôi chỉ từ huề đến thua . Vì chúng tôi không được Hoa Kỳ chấp nhận cho Bắc Tiến . Nếu chúng tôi thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Bắc và Quân Lực VNCH chúng tôi vượt vỉ tuyến 17 thì chưa chắc Bắc cộng đã chiến thắng chúng tôi . Chiến lược Hoa kỳ là ngăn chận làn sóng đỏ chứ chưa muốn chiến thắng bọn cộng sản quốc tế vì chưa đúng thời điểm . Thắng thua trong quan niệm chiến lược toàn cầu chứ không phải vì bọn Bắc Cộng hay về tư tưởng chính trị hơn Miền Nam chúng tôi . Sự đổ vỡ bằng sự rút lui không phải do tầng lớp lãnh đạo làm ung thối hàng ngũ chúng tôi mà hai năm từ năm 1973 đến 1975 chúng tôi đã chiến đấu trong thiếu thốn . Thiếu từng giọt xăng cho phi cơ, tàu chiến, xe tăng , thiếu từng viên đại bác yểm trợ cần thiết , từng trái lựu đạn, từng viên đạn M16 . Tan hàng chỉ là vấn đề thời gian . Thất trận là lẽ đương nhiên khi viện trợ năm 1975 là zero so với thời điểm 1972 là 2 tỷ 8 quân viện .

Những người lính QLVNCH chúng tôi chẳng có điều gì phải mặc cảm , phải hối hận , phải tủi nhục . Chúng tôi đã chiến đấu hết mình, đã chiến đấu tới cùng.

Chúng tôi đã chiến thắng Tổng Công Kích Mậu Thân 1968 của bọn Bắc Cộng , dù bị đánh lén , dù bị bội ước . Hơn 80 ngàn bộ đội CSBVXL đã đền tội trên toàn cõi Miền Nam VN .

Chúng tôi đã chiến thắng oanh liệt trận chiến 1972 Mùa Hè Đỏ Lửa . An Lộc vẫn ngạo nghể, Bình Long luôn Anh Dũng . Kontum kiêu hùng bên dòng Dakbla muôn đời êm đềm xanh biếc . Trị Thiên luôn Vùng Dậy và ca khúc Cờ Bay trên Thành Phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu . Quân Dân chúng tôi đã ôm nhau mắt lệ nghẹn ngào . Quỳ hôn đất thân yêu chào quê hương giải phóng . Hồi sinh rồi …Cờ Vàng đã được cắm lên Cổ Thành Đinh Công Tráng trong hoang tàn đổ nát nhưng sự anh dũng hy sinh luôn ngàn năm sống mãi trong tâm tưởng người dân Quảng Trị .

Hãy nhớ tháng Tư năm 1975 tại Long Khánh , Sư Đoàn 18 Bộ Binh cùng Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân, và các chiến sĩ Địa Phương Quân , Nghĩa Quân cùng các đơn vị yểm trợ đã chận đứng Quân Đoàn 4 Bắc Cộng trong trận đánh bi thảm nhưng rất hào hùng . Trong đêm 29 tháng tư, 1975 , Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh / LLXKQDIII đã đánh bại Sư Đoàn 341 Bắc Cộng giữ vững Biên Hòa để rạng sáng ngày 30 tháng Tư kéo về Saigon để bảo vệ thủ đô thân yêu của chúng tôi .

Trên hết và oanh liệt nhất là trận giải tỏa đồn Biên Phòng Đức Huệ tháng giêng năm 1974 của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh / LLXKQDIII do Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi chỉ huy . Chỉ trong một ngày đánh tan Sư Đoàn 5 Bắc Cộng gây kinh hoàng cho cả bộ Chính Trị của Bắc Cộng . Nhưng khi sức cùng lực tận phải buông vũ khí đầu hàng theo lệnh của Tổng Tư Lệnh. Nếu phải làm lại từ đầu chúng tôi vẫn làm như thế vì con đường đó là Chính Nghĩa là Trách Nhiệm là Danh Dự dù có phải tan xương nát thịt vẫn không sờn .

Chiến tranh VN đã chấm dứt . Nhưng với những chiến binh QLVNCH trận chiến vẫn còn đang tiếp diễn . Trận thư hùng không cân sức không bằng súng đạn mà bằng tinh thần, bằng lý tưởng Quốc Gia , Dân Tộc . Những người lính chúng tôi không cứ gì Song Vũ đã được huấn luyện, đã được trui rèn trong lửa đỏ , những kinh nghiệm máu xương đó, chúng tôi làm hành trang trong cuộc đời tù tội . Có người năm ba năm , Song Vũ 13 năm, Tướng Lê Minh Đảo , Tướng Trần Quang Khôi, Tướng Đỗ Kế Giai, Tướng Lê Văn Thân 17 năm . Những chiến sĩ đó đã làm gì để sống còn trong cuộc trả thù bẩn thỉu nhất thế kỷ . Đó là Tinh thần, Ý chí, Niềm Kiêu Hảnh , và Danh Dự của người chiến binh QLVNCH đã giúp họ chiến thắng . Không những cá nhân người lính chiến QLVNCH mà gia đình họ gồm vợ con cha mẹ anh em họ đã chiến đấu hết sức mình cho sự tồn tại dù thân xác có héo mòn , bệnh tật nhưng tinh thần và lý tưởng cũng như ba tín niệm Tổ Quốc _Danh Dự – Trách Nhiệm đã giúp người chiến binh ngày nào không buông xuôi . Họ vẫn đứng vững như tiền nhân đã đứng vững ngàn năm để chiến đấu để yểm trợ đồng bào quê nhà trong cuộc chiến đấu một mất một còn giữa chính nghĩa và hung tàn, giữa Dân Tộc và cộng sản để phục hồi, để duy trì những giá trị mà tiền nhân ta đã xây dựng bồi đắp hơn 4000 năm văn hiến

Không cần hoa hòe hoa sói, không cần văn chương phú lục . Ngắn gọn cũng đủ để thắp sáng chính nghĩa Quốc Gia cũng như để vẽ nên chân dung đích thực của người lính VNCH một thời mang gươm đi giữ nước . Xin trân trọng gửi đến tác giả Đỗ Trường lời cám ơn chân thành nhất của một người lính thất trận năm nào về những nhận định khách quan về con người và cuộc chiến năm xưa .

Kỵ Binh NguySaigon

(*) Bài viết: Song Vũ, người vẫn chưa thể bước ra khỏi cuộc chiến của Đỗ Trường tại đây:
http://diendanctm.blogspot.com/2014/07/song-vu-nguoi-van-chua-buoc-ra-khoi.html

https://baovecovang2012.wordpress.com/2017/06/21/nguoi-linh-vnch-nam-xua-kb-nguysaigon/

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s