Vài kỷ niệm về công tác xây dựng Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa

Nguyễn Thành Nam

Hồi giữa thập niên 1960, sau khi chính phủ VNCH thông qua quyết định xây dựng nghĩa trang quân đội thì được giao cho Cục Công Binh, Bộ Công Chánh và trường Ðại học Kỹ Thuật Phú Thọ phối hợp tổ chức các cuộc thi thiết kế để chọn đề án trúng giải. Cục Công Binh sắp xếp lại thành mô hình lên Tổng Thống duyệt xét, rồi phân phối cho các đơn vị thi công.
Tôi còn nhớ một ngày khoảng đầu Tháng Mười 1965, sau cuộc hành quân cùng SÐBB 25 giải tỏa vùng Tam Giác Sắt (Bình Dương) dưới áp lực nặng nề của CS, tiểu đoàn 302 công binh Chiến Ðấu đang nghỉ dưỡng quân và bổ sung quân số. Tiểu đoàn trưởng là Ðại úy Nguyễn Thành Nam (hiện định cư tại Ðức Quốc) nhận lệnh từ Trung Tá Nguyễn Văn Chức, Liên Ðoàn trưởng Liên Ðoàn 30 Công Binh Chiến Ðấu trở về nhận nhiệm vụ xây dựng Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. Trung Tá đã nhắc nhở là việc xây dựng công trình này rất quan trọng, vì có tầm vóc quốc gia. Trung tá nói: “Tôi cũng biết đơn vị của anh đang dưỡng quân, nhưng tình hình khẩn cấp nên xin anh khuyến khích anh em các cấp cố gắng hoàn thành công tác này. Nếu cần thêm những phương tiện gì tôi sẽ cung cấp đầy đủ theo nhu cầu của công trường”.
Sau khi đơn vị tôi trình diện Ðại Tá Võ Thành Lượng (đã qua đời tại Canada), cục trưởng Cục Công Binh, tôi qua sở Kỹ Thuật Cục Công Binh nhận hồ sơ, đồ án, bản vẽ v.v… của công tác xây cất và hướng dẫn anh em đến địa điểm công trường.

Từ saigon theo xa lộ Biên Hòa khoảng 22 km, vị trí nghĩa trang nằm phía trái xa lộ. Tình trạng nguyên thủy theo hướng Ðông-Tây cách xa lộ khoảng 100 m, một quả đồi dài gồm có hai phần là một quả đồi thấp nhỏ (sau này xây cất Cổng Tam Quan và Ðài Liệt Sĩ) và một quả đồi lớn dài dự trù xây cất nghĩa trang chôn cất tử sĩ khoảng 26 ngàn ngôi mộ. Diện tích tổng quát là 126 mẫu, riêng khu chôn cất là 58 mẫu. Phần đất còn lại dự trù sau này sẽ xây các cơ sở tôn giáo như chùa và nhà thờ để tiện việc làm nghi lễ an táng tùy theo tín ngưỡng.
Gần cuối nghĩa trang phía tay phải, nhà thầu bắt đầu khởi công xây cất liên đội chung sự và các nhà quàn, nhà ướp lạnh tử thi chờ thân nhân tử sĩ đến, kho vật liệu tống táng v.v… do thầu khoán Trần Kim Sa (hiện ở Canada) thực hiện.
Công tác xây cất nghĩa trang chia làm hai giai đoạn.

Giai đoạn I:
Giao cho Liên Ðoàn 30 Công Binh Chiến Ðấu, liên đoàn trưởng là Trung Tá Nguyễn Văn Chức (sau lên chuẩn tướng làm cục trưởng Cục Công Binh và Thứ Trưởng Ðịnh Cư trong nội các Nguyễn Bá Cẩn hiện cư ngụ tại Sacramento, CA). Trực tiếp xây dựng là Tiểu Ðoàn 32 Công Binh Chiến Ðấu sử dụng hai Ðại đội A và B. Riêng ÐÐ C thì biệt phái cho công trường Dinh Ðộc Lập để thực hiện những công trình sau:
– Lấy đất đỏ Biên Hòa đắp con đường chánh dài khoảng 100m đủ rộng cho xe chạy hai chiều từ xa lộ vào đầu nghĩa trang, từ đó chia làm hai nhánh chạy bọc quanh nghĩa trang và các đường nhỏ phân chia các lô. Sau đó sẽ cán đá trải nhựa.
– Một công tác khác là nhận cây bạch đàn từ vườn ươm cây Gia Ðịnh trồng dọc theo hai bên đường lớn từ xa lộ vào nghĩa trang.
– Xây cổng tam quan và Ðài Liệt Sĩ trên ngọn đồi thấp từ xa lộ đi vào, đúc bực thềm xi măng lên xuống từ bốn phía của Ðài Liệt Sĩ theo sơ đồ bản vẽ của Sở Kỹ Thuật Cục Công Binh.


– Ðúc tượng beton ngay phía bên trái đầu đường dẫn vào khu nghĩa trang, cách đó có làm bãi đáp trực thăng. Khi hoàn tất trung Úy Nguyễn Thanh Thu điêu khắc gia từ Quân Ðoàn III Biên Hòa chở bức tượng Thương Tiếc đặt lên bệ.
– Toàn khu nghĩa trang rộng lớn phân chia theo hình lưới nhện mà ở giữa xây dựng Nghĩa Dũng Ðài với Vành Khăn Tang (Giai đoạn II). Tất cả chia làm 8 khu, phân khu đúng như lưới nhện, trong nhỏ ngoài lớn. Các lô đánh dấu thứ tự như sau: Phía tay phải là Ðài Liệt Sĩ và Nghĩa Dũng Ðài có các lô H, A, I và B. Phía trái có các lô D, C, E, G, không có lô F có lẽ vì trong tiếng Việt không có vần F.
Lô H nằm phía tay phải con đường chính từ Ðài Liệt Sĩ vào Nghĩa Dũng Ðài là lô quan trọng, dự trù sẽ chôn các thành phần quân dân chíng cao cấp có công trạng đặc biệt với đất nước như Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington của Hoa Kỳ. Lô H còn chia ra 5 lô nhỏ là H1, H2, H3, H4 và H5.
H1 dành cho mộ dân chúng có công với tổ quốc như Tổng Thống, Thủ Tướng… Tới năm 1975 chưa có một ngôi mộ nào.
H2 dành cho các chiến sĩ vô danh.
H3 dành cho các tướng lãnh gồm có mộ của Ðại tướng Ðỗ Cao Trí, Tướng Phước, Tướng Ánh (không quân), Tướng Hiếu, Tướng Soạn, Tướng Ðồng và hai tướng nữa không biết là ai. Sau năm 1975, sáu ngôi mộ này đã cải táng dời đi chỉ còn hai ngôi mộ của Tướng Ánh và Tướng Phước.
Cho đến cuối năm 1966, khi giai đoạn I gần xong, Ðại Tá Võ Thành Lượng Cục trưởng Cục Công Binh và phái đoàn đến quan sát công trường và công tác do các nhà thầu thực hiện. Trước đó Liên Ðội chung sự do nhà thầu xây cất cũng gần hoàn tất, đã bắt đầu nhận tử thi các chiến sĩ từ các mặt trận chở về chôn cất.
Ðến năm 1967, Tiểu Ðoàn 302 Công Binh Chiến Ðấu nhận lệnh đi hành quân mở đường với Trung Ðoàn 9/SÐ 5 BB từ Chơn Thành đến sông La Ngà dài 20km để công binh xây dựng sân bay cho Lục Lượng Ðặc Biệt do trung Tá Lê Nguyên Vỹ (sau lên Chuẩn tướng Tư Lệnh SÐ 5 BB và tự sát khi CS chiếm miến Nam) chỉ huy. Vì thế nên LÐ 30 CBCÐ bàn giao công trường lại cho Liên Ðoàn 5 Công Binh Kiến tạo.

 

Giai Ðoạn II:
Liên đoàn II CBKT do Trung Tá Nguyễn Thiện Nghị (Sau lên Ðại tá làm Cục Trưởng Cục Công Binh hiện ở San Jose)) làm trung Ðoàn Trưởng có Tiểu Ðoàn 54 CBKT do Ðại Úy Lê Văn Tâm chỉ huy hai đại đội 541 và 542 có nhiệm vụ thực hiện Nghĩa Dũng Ðài. Công trình này có ba phần:
1. Một tháp hình chữ thập: đáy là 6m và đỉnh là 3m. Chiều cao từ đỉnh đồi lên tới đỉnh tháp là 48m. Bên trong tháp có 15 tầng, mỗi tầng rộng 3m11. Một thang sắt được bắc từ dưới lên.
2. Vành Khăn Tang: cao 5m xây chung quanh trụ Ðài. Ðường kính vành khăn là 24m đặt trên 4 trụ xi măng.
Mặt ngoài Vành Khăn Tang sẽ được gắn các công trình điêu khắc bằng đồng. Hình ảnh dựng nước và bảo vệ từ đời vua Hùng đến hiện tại (trước năm 1975) do điêu Khắc gia Nguyễn Văn Mầu (Biên Hòa) thực hiện theo giao kèo 20 năm. Mặt ngoài Vành Khăn Tang dự trù sẽ khắc tên các anh hùng tử sĩ.
3. Sân Ðài: mặt bằng có đường kính là 34m chung quanh trồng cỏ nhung.
Dự trù thì ngày 19 Tháng Sáu năm 1975 sẽ khánh thành đợt I (chưa gắn hình điêu khắc) theo lời yêu cầu của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nhân dịp ông đến thăm Nghĩa Trang vào Tháng Mười Một năm 1974. Việc thám sát tìm địa điểm thích hợp về phong thủy cho nghĩa trang được xem xét rất cẩn thận. Thời gian tôi đi tù ngoài Bắc cũng như thời gian vượt biên tạm trú tại trại tị nạn Palawan, Philippines, tôi đã nghe các cựu quân nhân các binh chủng cho biết phái đoàn tìm đất cho nghĩa trang gồm Cục Công Binh, Cục Quân Nhu, Bộ Ðịa Chánh, có thầy địa lý người Hoa tháp tùng, các địa điểm đều trình lên Tổng Thống duyệt xét, sau đó mới quyết định nơi xây dựng nghĩa trang.
Viết đến đây tôi chợt nhớ đến ông thầy địa lý người Hoa này. Vào khoảng giữa năm 1962, khi ấy tôi đang là trung Úy làm tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 202 thuộc Liên Ðoàn 20 CBCÐ do thiếu tá Nguyễn Văn Bạch (sau lên Ðại tá, đi tù, ra tù sang Mỹ và đã chết) đang công tác làm hệ thống đường vòng chống phục kích đèo Mang Giang trên quốc lộ 19 (giữa Pleiku và An Khê) bất ngờ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đến công trường với ông thầy địa lý người Hoa này. Tổng Thống không hỏi han chi đến công tác công binh đang làm mà cả ba vị tổng thống, thầy địa lý và Thiếu tướng Tôn Thất Ðính khi ấy à Tư Lệnh Quân Khu II và Ðại Úy Lê Công Hoàn, tùy viên của Tổng Thống, leo lên đầu ngọn đồi lấy máy đo cao độ, dùng địa bàn nhắm hướng. Mọi người chỉ thấy ông thầy địa lý nói chuyện riêng với Tổng Thống rồi xem bản đồ, lấy tay chỉ về dẫy ngọn đồi nhỏ chạy dài về hướng bìa rừng. Sau đó thì công binh được lệnh làm con đường từ Quốc lộ 19 đến các quả đồi đó theo thứ tự P1 (điểm), P2, P3 v.v… Tuần nào Tổng Thống cũng ra xem xét công tác và chỉ thị thêm. Khi làm đường đến P10 thì được lệnh ngưng công tác.
Sau đó chúng tôi mới biết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đi tìm long huyệt mà không tìm được vì đi tìm càng xa càng đi sâu vào vùng bất an ninh nên phải hủy bỏ.
Như vậy công tác xây dựng Nghĩa Trang QÐBH đã bắt đầu từ Ðệ I Cộng Hòa (khoảng đầu năm 1963) do Tổng Thống Ngô Ðình Diệm chỉ thị. Sau vì cuộc chính biến 1 Tháng Mười Một 1963 đưa đến sự sụp đổ của Ðệ I Cộng Hòa. Cũng như từ Tháng Mười Một 1963 đến giữa năm 1965, hết chỉnh lý lại đến các vụ đảo chánh liên tục, các chức vụ trong chính phủ và quân đội thay đổi liên tục, kéo dài mãi đến 19 Tháng Sáu 1965 mới giao chính quyền cho quân đội.

Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu với tư cách là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia (Quốc Trưởng) mới ra lệnh khởi công từ đầu Tháng Mười 1965 với tất cả mô hình bản vẽ đã làm sẵn từ thời Ðệ I Cộng Hòa.
Khoảng Tháng Ba 2007, có anh em từ hải ngoại về thăm lại nghĩa trang cho biết sơ khởi:
– Số mộ còn tương đối nguyên vẹn nghĩa là còn mộ bia, tấm phủ ciment trên mộ còn 4,527 mộ.
– Số mộ bị đập phá tan hoang, mất bia hoặc mất tấm ciment trên mộ là 2,781 mộ.
– Số mộ bị phá mất mộ bia và tấm ciment nhưng vẫn còn nấm mộ là 2,454 mộ.
– Số mộ phỏng đoán được thân nhân bí mật đem đi nơi khác khoảng 2,910 mộ.
– Số mộ bị san bằng hoặc bị cỏ mọc khuất lấp khoảng trên 2,700 mộ.
– Ba ngôi mộ chôn tập thể 63 tử sĩ tại lô I sau ngày 30 Tháng Tư 1975.
Tổng cộng ước khoảng 15,439 mộ của tử sĩ VNCH.

Ngày dự định bắt đầu dân sự hóa Nghĩa Trang QÐBH đã qua mà chưa thấy nhà cầm quyền CS Hà Nội quyết định ra sao. Nhưng chắc chắn nguyện vọng của toàn dân và các gia đình nghĩa tử đều mong muốn một điều là giữ lại để làm di tích lịch sử như Nghĩa Trang Arlington Hoa Kỳ. Vì dầu sao đi nữa thì hình ảnh Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa đã ghi lại một dấu tích lịch sử, là quê hương tâm linh của những nạn nhân chiến cuộc mà không bao giờ có thể xóa nhòa trong lòng mọi người.

Bây giờ người chết thì đã yên phận dưới huyệt mộ, còn đâu nữa hận thù, còn đâu nữa phân tranh nên nếu có quật mồ họ lên đi nữa thì cũng chỉ còn nắm xương tàn. Có dân sự hóa để khỏi mang mặc cảm là đối thủ của chính quyền, thì họ cũng đã thành vô hình, lấy gì để cải tạo hay thay đổi căn cước?
Dân sự hóa chẳng qua là thay đổi mấy tấm ciment che đắp hay tấm bia trước mộ mà thôi, chứ hồn thiêng của các anh hùng liệt sĩ, họ đã nhập vào hồn thiêng sông núi thì làm sao mà gỡ ra?
Vì thế mà người viết cũng mong mỏi thêm một điều là nhà cầm quyền CSVN nên cho phép thân nhân mang hài cốt các tù cải tạo trong các trại tù trên toàn cõi đất nước VN đem về nghĩa trang QÐBH chôn cất, cũng như các thương phế binh VNCH còn ở tại VN sau khi chết cũng được an táng tại đây như tù cải tạo, để họ còn có chỗ đi về…
Cho di chuyển người lính làm mẫu cho bức tượng Thương Tiếc (nghe tin đã tử trận và rất linh thiêng) đem về dựng tại mộ Chiến Sĩ Vô Danh ở lô H2 để mọi người đến viếng nghĩa trang chiêm ngưỡng. Và cũng là để ghi dấu một sự kiện lịch sử “bất khả tư nghị” này.

Có như vậy thì hồn thiêng sông núi sẽ gìn giữ cho Tổ Quốc VN, cho các thế hệ tương lai con cháu một nguồn tâm linh và đời sống sẽ được bình an.

Nguyễn Thành Nam,
Wiesbaden, Germany

nguoi-viet.com
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s