Mảnh đạn B40 và phép lạ nhiệm màu

on
Nguyễn Trãi

Chiếc xe Jeep chạy khá nhanh vì loạt đạn AK vừa bắn ra từ bên hông phải của khu nhà thờ PhùMỹ bị đổ sập, phía sau là một đoàn xe GMC kéo súng đại bác 105 ly và đạn cùng những phụ tùng lỉnh kỉnh .
Đến sát đầu “Cầu Cương” mà tài xế Nguyễn Xuân Lý không có dấu hiệu gì giảm tốc độ. Hắn sợ quá mà quên rồi chăng, chỉ trong tích tắc nữa là chiếc xe lao xuống sông Tôi hét lớn “cầu sập” và như một phản xạ , tôi nắm tay lái bẻ mạnh sang trái , chiếc xe cua gắt , một quả B40 cũng vừa đến đúng lúc làm chiếc xe lật nhào .

Mỗi người tự động bị văng ra nhiều hướng , tôi cũng văng ra bên phải chiếc xe chừng hai thước. Chiếc nón sắt không kịp tìm thấy ở đâu, liếc nhìn thấy nơi cánh tay trái gần cổ tay chảy máu ròng ròng , tôi lượm ngay cây M16 nằm cạnh đó do tôi làm văng theo , bò thục mạng xuống một đường mương dẫn nước cặp theo con đường đất chạy tạm thay cho cây cầu đã bị sập từ năm nào .
Tôi không hề biết mình đã bị thương với sáu mảnh đạn B40 ghim vào người. Bằng một bản năng sinh tồn, không biết đau đớn, tôi bò men theo con mương tiến sát gần với cái lô cốt nằm cạnh đầu cầu bên kia.
Chừng còn khoảng bảy tám thước tôi dừng lại, nằm rạp người xuống núp dưới đám cỏ lau sậy cao gần tới ngực. Nhìn ngược phía sau thấy đoàn xe ngừng dọc trên quốc lộ .

Tất cả lính của tôi đều nằm mẹp hai bên lề đường đang bắn về hướng lô cốt, nơi phát ra quả đạn B40 . Tôi đưa cây súng M16 lên định bắn vào tên Việt Cộng vừa nhô đầu cao ra khỏi lô cốt. Không thể nào bắn được, cây súng bị quặp xuống tức khắc vì vết thương khá lớn nơi gần cổ tay. Nhìn xuống phía đùi bên phải ống quần bị rách và máu cũng đang chảy ra. Tôi biết là mình đang có nhiều vết thương chứ không phải một.
Hai bên cứ bắn qua bắn lại , không hiểu có ai bị gì không , còn tôi thì bất khiển dụng . Nhìn về phía sau thấy một người lính tài xế xe kéo súng , tôi gọi lớn át cả tiếng súng nổ : “ Ba !” – tên người lính là Kiều Xuân Ba – một thời cũng là tài xế xe Jeep của tôi .

Kiều Xuân Ba ném một quả lựu đạn về phía trái ra ngoài đồng ruộng rồi vội vã chạy lom khom đến chỗ tôi ngồi bệt xuống thở hổn hển. Ba ngồi quay lưng về phía lô cốt mà quên mất chỗ ấy có địch đang núp và bắn trả. Ba rút một cuộn băng cá nhân trên chiếc nón sắt của hắn băng vết thương ở cánh tay trái cho tôi . Đoạn cuối cuộn băng chưa kịp cột lại, tôi nghe tiếng “bịch”, thân người của Kiều Xuân Ba ngã đổ xuống. Ba chết tức thì .
Như một phản ứng tự nhiên, tôi ngóc đầu dậy xem ai bắn và bắn từ hướng nào. Ngay tức khắc tôi nghe “chát” rất lớn bên tai, đưa tay vội chụp lấy chỗ vừa bị trúng đạn . Tôi cảm giác ướt nơi bàn tay nhưng tôi hoàn toàn bị mù hẳn, và ngã nằm xuống sau đó nhanh như cắt . Từ đó tôi bất tỉnh và coi như đã chết . Trước khi ngã xuống tôi còn kịp nghĩ “ mình chết rồi “ và không hề biết đau đớn là gì .
Không biết bao lâu, tự nhiên tôi tỉnh dậy và nghe tiếng súng nổ , thấy lại ánh sáng mặt trời, và biết mình không bị mù mắt, mà trước đó hoàn toàn là một màu đen nghịt. Tôi hoàn toàn mất hết cảm giác như một người đã chết không biết bao nhiêu lâu – thì ra tôi hiểu mình vẫn chưa chết .

Ba viên đạn AK bắn từ sau ót tạo ba lỗ đạn đi vào cách nhau hai centimet, nhưng ba viên cùng thoát ra một chỗ tạo một lỗ hổng lớn trên má bên trái gần cái cằm. Khi tôi tỉnh dậy máu vẫn còn tiếp tục ra nhưng không thấy cảm giác từ chỗ vết đạn vô cũng như ra. Kiều Xuân Ba vẫn nằm bất động ngang vai tôi . Cuộc đọ súng vẫn còn tiếp diễn như lúc đầu. Tôi không thể tiếp tục nằm đây, đầu óc tôi trở nên minh mẫn hơn , Tôi rút khẩu rulô cầm trên tay chờ nếu địch đến sẽ bắn và tự sát, tôi nghĩ như vậy .

Tôi quyết định bò ngửa ra phía sau đồng đội. lúc này nhớ lại bài học “ bò dưới hỏa lực ” từ giai đoạn một trong trường Bộ Binh Thủ Đức. Bò nhưng mà mắt tôi vẫn quan sát cái lô cốt , khi nào thấy bọn địch ló đầu ra khỏi lô cốt thì tôi nằm im không nhúc nhích.

Tôi đã bò được đến chiếc xe Jeep bị lật, loay hoay tìm ống liên hợp gọi cho Trung Đoàn 47 Bộ Binh dẫn đường phía trước. Xe bị lật, tiếng kêu rè rè của chiếc máy VRC 47 vẫn còn, nhưng bóp ống liên hợp không ngắt được tiếng kêu.
Một trong những người lính từ phía sau nhìn thấy tôi nên la lớn “đại uý bị thương, đại uý bị thương” . Rõ ràng rằng từ đầu đến giờ không ai biết tôi bị thương ngoại trừ Kiều Xuân Ba thì đã chết vì băng vết thương cho tôi .
Mọi người dồn hết hỏa lực súng cá nhân bắn về phía lô cốt để cho hai người lính khác chạy đến kéo tôi ra phía sau , và đặt nằm bên lề đường dưới thấp , địch quân không còn nhìn thấy được .
Tôi hỏi người lính đang băng vết thương cho tôi “Trung uý Sinh đâu?” Người lính trả lời “ dạ ở đàng sau”.
“ Gọi Trung Uý Sinh lên đây” , Trung uý Lê Văn Sinh khoá 26 Thủ Đức là Pháo Đội Phó . Lúc tập họp Pháo đội ban lệnh hành quân, tôi bảo Trung Úy Sinh đi sau cùng quan sát đoàn xe.

https://dongsongcu.files.wordpress.com/2017/01/me1bb99t-phc3a1o-c491e1bb99i-cua-phao-binh-su-doan-22-bo-binh-dang-tac-xa-dai-bac-105-ly-yem-tro-quan-ban-hanh-quan.jpg?w=788&h=512

Một lúc thì Sinh đến, tôi bảo “ anh tháo súng ra trực xạ , tuị nó đang trong lô cốt trước mặt”. Tôi bảo Sinh lấy trong túi quần bên hông đùi của tôi có gói tiền “ nuôi ăn binh sĩ ” và bảo “ anh giữ lấy tiền để nuôi ăn cho Pháo Đội , còn tôi chắc không sống được”. Sinh cầm tiền trong tay dính đầy máu vì vết thương gần đó đang chảy không dứt . Sinh nói trong nghẹn ngào như đang khóc “ Trời ơi tiền máu không hà !”
Một lúc sau một người hạ sĩ nhất Văn phòng Tiền phương cầm một cây AK đến khoe “ tụi nó chết hết rồi đại úy” và đưa khẩu súng AK lên như muốn làm bằng chứng . Từ lúc này liên lạc được với Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 47, tôi báo cáo tình trạng Pháo Đội bị phục kích và tổn thất đồng thời xin Trung Đoàn yểm trợ bằng trực thăng võ trang .
“ Giờ phút này không có trực thăng nữa!” Đại Tá Lê Cầu, Trung Đoàn Trưởng trực tiếp nói chuyện với tôi qua máy PRC 25 . Tôi yêu cầu xử dụng Pháo Đội B đi đầu bắn yểm trợ ngay cho tôi. Trung Tâm Phối Hợp Hỏa lực Trung Đoàn hỏi : “ bắn ở đâu?” Tôi nói “ hai bên Cầu Cương cách 500 mét ” Tôi đang lo địch quân xáp lá cà . Sau khi tác xạ cho tôi xong, mọi người lính đang bận rộn thu dọn chiến trường , tôi không biết suy nghĩ nào nữa và thiếp đi
Bỗng Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực, Trung Tá Nguyễn Trùng Hanh, Tiểu Đoàn Trưởng 220 Pháo Binh đang đi cạnh Trung Đoàn ra lệnh tôi “ xử dụng lựu đạn M 14 đi”, một loại lựu đạn có độ nóng 2000 độ làm chảy nòng súng đại bác . Chỉ nghe tên gọi loại lựu đạn này là tôi rởn tóc gáy vì hình dung đến một cuộc “ tan hàng”. Cả một đời làm pháo thủ không bao giờ có ai mong muốn được nhận lệnh về nó .
Trung Uý Sinh được uỷ nhiệm công việc “xử dụng lựu đạn M14”đốt cháy phá hủy sáu nòng đại bác 105 ly .
Một chiếc xe GMC được chọn còn khá nhất trong mười mấy chiếc. Họ bỏ tôi ưu tiên nằm trên băng ca , tám người lính pháo thủ khác cũng được nằm trên sàn xe trong đó có một thiếu úy . Nghe tiếng ra lệnh của Trung Uý Sinh “ Thượng sĩ Thường Vụ cho đẩy chiếc Jeep qua một bên cho chiếc GMC qua chạy được”
Chiếc xe chở tôi và tám người lính bị thương khác cứ chạy được một chút thì phải dừng lại , người tài xế leo lên phía sau xe dùng bông gòn thấm nước biển thoa vào môi miệng tôi vì tôi kêu khát quá. Nó hiểu là bị thương ra máu nhiều quá , uống vô sẽ chết. Chiếc băng ca ướt đẫm máu dưới lưng, mắt tôi bắt đầu không nhìn thấy gì nữa chỉ thấy nhiều mầu ngũ sắc chóa lòa.
Có tất cả 9 vết thương được băng bằng băng trắng trông rất thảm hại. Xe chạy đến vài giờ đồng hồ sau thì gặp được Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 47 BB. Tôi không nhìn thấy nhưng nghe tiếng nói là biết có Ông Trung Tá Nguyễn Trùng Hanh leo lên xe thăm , Đại Uý Chương Trưởng Ban 3 Pháo Binh, và có cả Đại Tá Lê Cầu cũng leo lên GMC hỏi thăm vài ba điều khi chiếc xe của tôi kẹt bên này suối không qua được . Đích thân ông Đại Tá ra lênh lính Bộ Binh của ông khiêng tôi và những quân nhân bị thương của tôi qua bên kia suối và chở đi tiếp bằng một xe GMC của Bộ Binh
Tôi thầm cám ơn ông, cám ơn tình đồng đội trong lúc khốn cùng . Và tôi cũng thừa hiểu đây là một phần thưởng ông dành cho tôi trong suốt thời gian nhiều năm tôi đã yễm trợ đạn đại bác cho ông mỗi khi lâm trận một cách tận tình, nhanh chóng mà Trung Đoàn ông rất hài lòng .
Qua bên kia suối , xe chạy một lúc lâu , ánh nắng gay gắt trong ngày cuối tháng ba đã làm khó chịu không thể nào mở mắt được, và tôi cũng chỉ thấy vòng ngũ sắc xanh đỏ tím vàng .
Bỗng nghe tiếng rất lớn từ người tài xế Bộ Binh “ Bắn vô xe , bắn vô xe!” Họ phản ứng tự nhiên để hủy hoại quân cụ súng đạn trước khi bỏ chạy .
Tôi la lớn “đừng bắn, có người trong xe !”. Tôi và một ông thiếu úy Pháo Binh cùng bảy pháo thủ bị chính thức bỏ lại chiến trường . Tôi hiểu đến chiều tối này hay chậm lắm ngày mai địch quân cũng sẽ đến và đương nhiên tôi phải chết vì vết thương đã và đang ra nhiều máu quá. Tôi không nghĩ là mình sẽ bị bắt khi còn sống , không dám nghĩ chuyện gì sẽ xãy ra nữa, và “coi như bây giờ mình bắt đầu chết từ từ ”. Không thể trông nhờ vào bất kỳ ai có thể cứu mình được , vì tự bản thân mọi người lính khác cũng lo chưa xong. Tôi hoàn toàn tuyệt vọng và chấp nhận định mệnh đã an bài. Tôi cố lết đến gần bên hông thành xe và dùng hết sức mạnh còn lại của một cánh tay phải , kéo thân người lên cao và gối đầu lên thành ghế của xe. Và đây chính là phương cách duy nhất đã cứu tôi – nhờ vậy mà có người thấy được .
Tiếng Hạ Sĩ Loan , người Châu Đốc , thường hay làm thịt chó trong đơn vị bị tôi gọi lên la rầy có khi phạt hắn . Loan nói lớn “ Trời ơi sao đại úy ở đây … !” Loan đã cõng tôi đi giữa nắng trưa gay gắt. Chỉ còn một cánh tay tôi bám vào cổ Loan nên thân nguời tôi cứ bị tuột xuống ..
Giữa cánh rừng thưa cây thấp, Loan gặp được Trung Uý Sinh, như thêm một cơ hội may mắn lại đến. Sinh đi tìm thêm sáu người lính Pháo Binh trong đơn vị cùng thay nhau khiêng tôi bằng cái võng nylông. Tôi bảo Sinh lấy trong túi quần tôi cái bóp, cố mang về Sài Gòn trao cho vợ tôi và kể lại chuyện này vì tôi nghĩ sẽ không sống được nữa. Sinh đã chảy nước mắt khi cầm trong tay cái bóp , trong đó có sáu ngàn tiền riêng của tôi và hai tấm hình của vợ. Cả toán thay nhau khiêng tôi . Mất sáu tiếng đồng hồ nữa mới đến hàng rào bên ngoài của phi trường Phù Cát. Phải theo dấu chân người dẫm đi trước và bước lên đó, nếu không thì đạp phải mìn cài đặt xung quanh phi trường
Vừa vào được bên trong phi trường, gặp Trung Sĩ Khôi , khẩu trưởng từ sáng giờ đi lạc, Sinh bảo Khôi “ khiêng đại úy một lúc ”. Có chiếc trực thăng HU1B đang nổ máy gần cái mả vôi tổ ong và cây cổ thụ. Sinh chạy đến xin cho tôi được tản thương về Nhatrang .
Trung Uý Sinh và Trung Sĩ Khôi khiêng tôi bỏ lên trực thăng . Tôi nằm trên đầu trên vai những người lính bộ binh . Cất cánh lên cao chừng mười thước thì phát ra một một tiếng “ rắc ” rất lớn và chiếc trực thăng chao đảo, rớt xuống đất. Mọi người văng ra khỏi trực thăng , kéo tôi văng theo nằm cách trực thăng chừng năm thước .
Khi tỉnh dậy tôi thấy có hai cái xác không có đầu nằm song song nhau. Tôi nghĩ hai cái xác ấy là của Trung Uý Sinh và Trung Sĩ Khôi vì đã khiêng tôi lên rồi còn đứng dưới đất gần chỗ trực thăng cất cánh. Vã lại nhìn một trong hai cái xác không còn phần trên từ ngực trông rất quen dáng của Trung Uý Sinh
Chỉ còn lại có ba người lính đứng cách tôi khá xa. Tôi đưa tay vẫy họ lại và bảo Nghiêm , người lính “ tà lọt ” của Trung Uý Sinh : “ hãy tìm một trong hai cái xác không đầu ấy xem có tiền không ? ” vì tôi đã giao cho Sinh một trăm ngàn đồng tiền nuôi ăn binh sĩ ; mục đích để xác định có phải là Trung Uý Sinh hay không.
Nghiêm vừa nói trong mếu máo “ em sợ quá, ghê quá đại úy ơi” Cuối cùng Nghiêm cũng nói câu tôi nhớ đời “ đại úy ơi , đại uý chết rồi thì thôi , còn nếu còn sống , em báo đại úy biết là tiền đã tìm thấy rồi , thằng Tấn đang giữ” . Tôi nói nhỏ chắc Nghiêm không nghe được: “ vậy đúng rồi!”
Chỉ còn lại ba người lính. Họ cố gắng trong đêm đã khiêng tôi len lỏi chui qua các hàng rào kẽm gai rất khó khăn, cuối cùng cũng đặt tôi xuống một cái vòm cong dùng để sửa chữa máy bay. Tôi bảo những người lính cứ để tôi ở đây còn các em hãy chạy trốn tìm về nhà đi, tôi biết họ có gia đình xung quanh vùng này.
Sáng hôm sau tôi bị địch quân bắt .
Có tất cả chín vết thương đã được băng lại trong ngày hôm qua. Sáu mảnh đạn B40 còn dính trong người , ba viên AK thì đã đi ra khỏi mặt tôi ngay từ lúc bắn vào. Cái mặt bị một lỗ thủng lớn bằng cái khu chén. Thiệt là hi hữu, ba viên đan vô ba nơi từ sau ót, nhưng ra cùng một nơi . Chính vết thương này làm máu ra nhiều khiến tôi bất tỉnh, tưởng đã chết rồi.
Một đoạn đường gian truân kế tiếp kể từ lúc các người lính của tôi bịn rịn rời tôi khoảng 10 giờ đêm 31 tháng ba năm 1975 ngay tại Phi Trường Phù Cát .
Đúng là cái số của tôi chưa chết nên cái thân xác bẩn thỉu đầy vết máu với những cái băng trắng lòng thòng, được qua nhiều bàn tay cứu giúp của người dân ở vùng Ngã Ba Gò Găng, Quận Phù Cát.
Cũng do lòng thương của dân đối với người lính VNCH mà tôi được họ chuyền tay giúp tôi và đưa đến một nhà hộ sinh tư nhờ cứu cấp .
Tôi nằm trong nhà hộ sinh này đúng bốn ngày, bằng một bàn tay săn sóc băng bó , nấu cháo đút cho tôi mỗi bữa của một cô nữ y tá hộ sinh nông thôn trong một nhà bảo sanh mà ông chủ lại là tên chủ tịch xã Cộng Sản nằm vùng vừa được nắm quyền chưa quá 12 tiếng đồng hồ . Cô y tá dáng người nhỏ bé tận tình săn sóc , thay áo quần, đút cháo , và mỗi đêm kéo chiếc giường nằm cạnh tôi, cô nói “để em nằm gần anh ban đêm xem lỡ anh có chuyện gì không”
Những ngày này tinh thần tôi đã tỉnh táo và nhìn thấy sự săn sóc của cô ta y như vợ của mình. Tôi thầm biết ơn mà chưa có dịp nói được lời nào
Mười sáu ngày sau tôi được về đến gia đình tại Nhatrang, cũng nhờ lòng tốt của người dân khiêng tôi lên xe đò. Tôi thoát ra từ nhà hộ sinh này cũng bằng tình cờ do nhiều sự giúp đỡ khác nhau của nhiều người. Đúng là cái số của tôi còn nhiều may mắn.
Bệnh viện Nhatrang chạy loạn không còn bác sĩ. Gia dình tôi nhờ một y tá trong làng mỗi ngày đến thay băng rửa vết thương . Ba tôi mua cua biển nấu cháo cho ăn cả chục ngày để thịt lồi lên làm đầy vết thương.
Cảnh tượng ở quê tại Nhatrang đêm đêm họp đấu tố y như phim ‘ Chúng Tôi Muốn Sống “, tôi tìm cách vào Sài Gòn bằng một giấy thông hành đi mổ vết thương .
Nằm trong căn nhà mình được sinh ra và lớn lên, hàng đêm , cứ vào khoảng bảy tám giờ tôi nghe tiếng quát tháo của ông chủ tịch xã VC mới vừa được lên nắm quyền trong những buổi họp “đấu tố”, làm tôi liên tưởng đến cuốn phim “Chúng Tôi Muốn Sống” được coi từ thuở nhỏ .
Tôi nghĩ thầm : “không thể nào sống ở điạ phương này, phải tìm mọi cách để vào Sài Gòn” – vào nhà vợ .
Bàn tay trái nơi có mảnh đạn B40 chưa lành vẫn còn ra máu, tôi đi trình diện tạiTrường Đại Học Phú Thọ để trả nợ 10 ngày “ học tập” cho xong . Mấy cán bộ VC không cho tôi vô, tôi lại dại dột năn nỉ để được “ học tập”. Tôi muốn trả cho xong “ nợ quỷ thần”
Ra đến miền Bắc , chỗ mảnh đạn đã lành, nhưng bàn tay không cầm được vật nặng quá hai kí lô, và cả bàn tay gần như mất cảm giác, lúc nào cũng thấy bị tê buốt .
Cán bộ quản giáo không tin tôi và cho là “ chây lười lao động”, có lần lấy cây kim dài đâm vào lòng bàn tay để xem tôi có bị đau không .
Năm mảnh đạn B40 khác nhỏ hơn và nằm bên ngoài nhiều hơn , nên chỉ hai hay ba năm sau ngày ra Bắc là nó tự động bị đẩy ra ngoài , ung lên thành mủ , tôi chỉ lấy dao cạo râu rạch và lấy nó ra dễ dàng
Sau bảy năm, tôi được thả ra. Ngày trở về nhà từ trại tù Hàm Tân Z30 C, tôi chống nạn gỗ, một tay cầm chiếc đàn guitar tự đóng ngoài Bắc, hình hài tôi không khác một người đi ăn xin có biết chút ít ca hát kiếm sống .
Tôi về khá bất ngờ cả nhà không biết trước , mọi người trong gia đình vợ tại Sài gòn ôm chầm lấy tôi mà chỉ biết khóc .
Tôi đi bệnh viện Chợ Rẫy xin mổ mảnh đạn, mấy bác sĩ đều kết luận “ mổ sẽ bị liệt cánh tay” ; tôi không dám yêu cầu nữa.
Đầu năm 1990 , tôi đi theo diện HO1, khi qua cổng phi trường ở Mỹ, còi báo động kêu lên, tôi phải ở lại và bị rắc rối vì mảnh đạn trong cánh tay.
Tôi tin tưởng vào nền y khoa tối tân của Mỹ, nên đã nhiều lầu yêu cầu chụp hình và xin giải phẫu mảnh đạn B40 . Tất cả các bác sĩ cũng đều cả quyết “ nếu lấy mảnh đạn ra chắc chắn bàn tay sẽ bị liệt”. Tôi chấp nhận cứ để như vậy cho đến khi mình chết đi. Lâu lâu cũng bị đau nhức , bàn tay ấy cũng yếu hơn tay kia và nhất là trời lạnh thì đau nhức hơn. Có lần phải đi làm MRI về bệnh nhức đầu, vừa bỏ vào máy chừng 10 phút, máy báo động kéo ra cho biết có vật lạ bằng kim loại trong người , đó là một mảnh B40 nhỏ trên trán và một mảnh lớn trên cánh tay. Họ không dám làm MRI nữa. Ngày tôi bị thương là 31 tháng 3 năm 1975, đúng chính xác 37 năm sau cũng ngày ấy, chỗ mảnh đạn nơi cánh tay sưng lên rất to , đỏ mọng . Tôi đi gặp bác sĩ gia đình, họ gởi tôi đến một bác sĩ chuyên khoa người Mỹ . Tôi vào nhà thương mổ chỗ sưng ấy. Khi về nhà, ngày hôm sau có y tá người Mỹ đến nhà thay băng. Vết thương được khoét rộng, clean hết máu mủ bên trong , vết thương không được may khép kín miệng, họ để trống cho y tá mỗi ngày rút cuộn băng cũ đầy mủ máu ra, và nhét cuộn băng mới thay vào. Tôi đau đớn thấy bảy tám ông trời. Cứ như thế đến 69 ngày liên tục, vết mổ lành hẵn và đầy đặn thịt lồi lên. Bác sĩ có cho biết chỉ mổ chỗ sưng mà không thể lấy được mảnh đạn (vì nguy hiểm bởi các giây thần kinh, động mạch tĩnh mạch đã bao kín mảnh đạn). Vết mổ lành sau 69 ngày. Khoảng 20 ngày sau đó ngay chỗ mổ sưng lên lại y như lần đầu. Tôi gặp bác sĩ gia đình, ông ta lại chuyển đến bác sĩ mổ kỳ trước. Vừa nhìn thấy chỗ sưng , ông bác sĩ này hẹn ngay cho lần mổ thứ hai . Ông ta nói : sẽ clean thật kỹ bên trong , lần này vết mổ được khâu vá kín mít nên không cần y tá tới nhà thay băng. Hai tuần lễ sau khi mổ lần thứ nhì, khi tái khám, tất cả đều ngon lành và ông ta hẹn hai tuần nữa đến cắt những đường chỉ khâu . Tôi thấy nhẹ nhõm trong người và yên chí từ nay hết bị hành hạ mặc dù mảnh đạn vẫn còn nằm bên trong. Nhưng ba tuần sau đó, chỗ vết mổ sưng lên lần thứ ba giống y chang hai lần đầu. Tôi gặp trực tiếp bác sĩ mổ trở lại. Ông ta nhìn rồi lắc đầu nói “ tôi đầu hàng!” Ông bác sĩ này chuyển tôi đến một bác sĩ khác chuyên về nhiễm trùng. Đến đây, họ khám nghiệm , nghiên cứu hồ sơ từ các nơi điều trị cũ, lấy máu lẫn mủ gởi đến hai phòng “ lap” khác nhau để xét nghiệm. Tôi còn được đưa đi chụp hình X quang xác định vị trí mảnh đạn , và đi scan xương gần đó xem có bị ung thư xương mà tạo ra mủ hay không .Tất cả đều có kết quả, mủ và máu không có virus. Cả ba ông bác sĩ ba nơi đều kết luận ba lần như nhau: “nên chấp nhận tình trạng ra mủ như vậy đến suốt đời”. Tôi chưa chịu thua, bèn đi gặp thầy thuốc Bắc , uống đến 65 thang thuốc Bắc mà vẫn cứ ra mủ. Tôi đành chấp nhận chỗ vết mổ ra mủ suốt đời, mỗi 24 giờ thay băng một lần . Mảnh đạn đã không thể nào lấy ra được thì cũng chấp nhận mang nó đến khi về bên kia thế giới. Không còn một giải pháp nào để giải quyết tình trạng máu và nhất là mủ ở đâu trong cánh tay cứ ứa ra đúng trọn hai năm liền kể từ ngày mổ đầu tiên. Đã hai lần mổ , ba ông bác sĩ y khoa thứ thiệt của nền Y Khoa Mỹ cũng tuyên bố bó tay, và khuyên tôi chấp nhận tình trạng ra mủ như vậy cũng như mảnh đạn cứ để yên cho đến khi chết. Thuốc Bắc có đến 65 thang cũng không hề hấn gì . Tôi xoay ra cầu nguyện, cầu xin Cha Trương Bửu Diệp giúp con . Đặc biệt vợ tôi cầu nguyện hằng giờ trước bàn thờ có hình Cha Trương Bưu Diệp mà bà rất tin tưởng .Với một niềm tin rất mạnh trong lòng, bà vẫn hằng cầu nguyện ngày này qua tháng nọ với Cha Trương Bửu Diệp.
Bỗng một hôm tôi thấy chỗ mủ chảy ra hằng ngày khô lại và lành, để lộ bên trên một cái mày màu nâu của máu khô có chiều dài khoãng hai centimet. Tôi thử kéo cái mày màu nâu lên. Một cục máu và mủ đã cứng từ lâu có chiều dài cũng chừng hai centimét và to bằng ngón tay giữa. Cục máu lẫn mủ khô ấy được kéo lên đã để lại cánh tay tôi một lỗ sâu hút. Tôi tiếp tục băng chỗ ấy lại và từ từ nhiều ngày sau nữa thịt tự động mọc ra thêm làm kín mặt cái lỗ trống. Rõ ràng chính phép lạ của Cha Trương Bửu Diệp đã cứu tôi thoát ra khỏi tình trạng ra mủ suốt đời , và đặc biệt hơn nữa , mảnh đạn đã cũng đi ra theo với cục máu lẫn mủ cứng ấy. Tôi đã quên không xẻ cục máu mủ khô ấy để biết thật rõ có mảnh đạn trong đó hay không . Tôi xin đi chụp X quang và kết quả là bàn tay tôi trở lại bình thường, không còn mảnh đạn nữa.
Ngày tôi bị thương là 31/3 /1975 . Đúng 37 năm sau cũng ngày đó nó sưng lên. Trong hai năm liên tục kể từ ngày bị sưng, mảnh đạn di chuyển từ chỗ bị bắn, len lỏi luồng lách xuyên qua các khe hở của các giây thần kinh, các động mạch và tĩnh mạch để đến chỗ mổ , rồi khô cứng lại cùng với máu mủ mà ra ngoài , cũng vào khoảng tháng ba năm 2014 Tổng cộng 39 năm mảnh đạn ở lại trong tôi. Quả đúng là chỉ có một Phép Lạ mới làm được như thế . Hôm Lể Giỗ Cha Trương Bửu Diệp tại một Nhà Thờ gần nhà tôi được tổ chức hôm tháng 3 năm 2014, tôi đã xin phép Cha Chủ Tế lên Cung Thánh kể lại chuyện cái mảnh đạn và phép lạ của Cha Trương Bửu Diệp đã ban cho tôi với tấm lòng Tạ Ơn Cha.
Câu chuyện hoàn toàn thuộc về tâm linh , và tuỳ vào niềm tin của từng người có hay không . Nhưng đối với tôi là một bằng chứng và là sự thật. Cả gia đình tôi ai cũng tin rằng có phép lạ của Cha Trương Bửu Diệp.
Nguyễn Trãi
(Houston, TX)

https://hoiquanphidung.com/showthread.php?24549-M%E1%BA%A3nh-%C4%91%E1%BA%A1n-b-40-v%C3%A0-ph%C3%A9p-l%E1%BA%A1-nhi%E1%BB%87m-m%C3%A0u

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s