Phương Nam, ánh sao nơi cuối trời, tháng 4-1975

on
https://i1.wp.com/tqlcvn.org/images/TD9-TQLC%20TRANS.gif
1. Phần 1: Lệnh Triệt Thoái Bất Ngờ

Những ngày trong tháng 3 và tháng 4-1975.

(Tự truyện 20 ngày là tù binh và vượt thoát từ Đà Nẳng đến Vũng Tàu — từ 30/3/1975 đến 18/4/1975)

Cựu MX Lâm Tài Thạnh TĐ 9 TQLC

Đường đi khó
Không khó vì ngăn sông cách núi ..
Mà khó vì lòng người ngại núi e sông (Ng. BáHọc)

Xin đừng hỏi vì sao, Tôi vẫn nhớ
Mỹ Khê chiều sóng dậy, pháo rền vang
Quân triệt thoái, Tàu không vào bến đỗ
Lối sanh đào, vượt thoát phá vòng vây
Trên đầu súng, khói vương niềm uất hận
Chiến trận tàn, báo tử thiếu hồi chuông
Đà thành mất, sử xanh còn ghi dấu
Mãnh Hổ tình, huynh đệ nói chia ly
Tim rướm máu, xót đau lời tan
Cố tìm về quê Mẹ, đất phương Nam.
(Tây Đô )

1. – Thành phố bỏ ngõ trong ngỡ ngàng.

Tuyến kháng cự, phòng thủ sau cùng của Tiểu Đoàn 9 TQLC là đại chủng viện thánh Phaolồ (thuộc nhà thờ Chánh Tòa Công Giáo Đà Nẳng ) nằm dọc theo bãi biển Mỹ Khê, Non Nước trong bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng đây là một kiến trúc kiên cố với những bức tường che chắn, vững chắc có thể hạn chế sự xuyên thủng của các loại vũ khí cá nhân, tạo sự an toàn tối thiểu cho các quân nhân đang sẳn sàng chiến đấu, vị trí nầy được liên kết với nhau bằng nhiều dãy nhà cao tầng, rất tiện lợi và hữu ích cho việc quan sát, phòng thủ, ngăn chận các đợt tiến công, trong cuộc trì hoãn chiến không cân sức nhưng cần thiết nầy. (Xin xem Trận chiến sau cùng của TĐ 9TQLC / ĐSST 2004. Tác giả Cựu ĐÚy Đoàn Văn Tịnh Trưởng Ban 3 / TĐ 9).

Kể từ 11:30 sáng Ngày 29 Tháng 03 Năm 1975, mọi cố gắng liên lạc với Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 369 TQLC và các đơn vị yểm trợ, chỉ được trả lời bằng sự im lặng khó hiểu. Trong lúc đang di chuyển ngang qua một phi đạo cũ trong căn cứ Non Nước, tình cờ Tôi gặp Đ/Úy Trần Văn Hên là bạn cùng Khoá 17TĐ, Đại ĐộiTrưởng Đại Đội Duyên Hải thuộc Tiểu ĐoànYểm Trợ Thủy Bộ TQLC.

Đ/Úy Hên là người nhận lệnh và có trọng trách thiết lập đầu cầu di tản, triệt thoái, v,v… (Trích thư của Đ/Úy Hên : Chiều ngày 26 tháng 3 năm 1975 nhận lệnh của Sư Đoàn, Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ chuẩn bị lập đầu cầu di tản cho các đơn vị TQLC tại bãi biển Non Nước vào sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975. ĐĐ Duyên Hải phụ trách an ninh bãi và phương tiện cấp cứu trên biển như áo phao, xuồng máy an toàn bải v..v..) (Tiểu Đoàn 9 hoàn toàn không biết về Lệnh HQ nầy).
Tôi và Hên cùng nhau trao đổi một số chi tiết liên quan đến tình hình triệt thoái, lui binh. Hên khuyên Tôi phải rời căn cứ Non Nước, tìm một phương cách, giải pháp khác, để bảo toàn đơn vị. Chúng tôi chia tay nhau mà chưa ai biết được cuộc diện và số phận sẽ ra sao. Cuối cùng khoảng 12:30 trưa qua tần số liên lạc truyền tin với các đơn vị bạn, Tôi tiếp xúc được với Hà Nội ( Cố Thiếu Tá Trần Văn Hợp Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 2 TQLC đã chết trong Trại Tù khổ sai Cộng Sản ở miền Bắc vào năm 1978 ). *** sau đây là đàm thoại giữa Tôi và Th / Tá Hợp mà Tôi còn nhớ như mới xảy ra.
***
—-!!! _ Hà Nội đây Tây Đô.
** Tôi nghe Tây Đô 5 / 5.
—-!!! _Hà Nội đang ở đâu?
** Tôi đang cưỡi cá. (lúc nầy các loa tăng âm của máy truyền tin PRC 25 theo lệnh Tôi đã được tháo bỏ để tránh sự xôn xao, bàn tán, bất lợi cho đơn vị ).
—-!!! _ Hà Nội có số nhà của Hồng Hà Quang Trung ( Hải Quân ) cho Tôi, để Tôi 2 lần Lê Lai (liên lạc) yêu cầu họ vào “ Zulu ” ( di chuyển ) con cái Tôi. Im lặng trong vòng 1 phút .
** Tây Đô sẳn sàng chưa?
Tôi ra dấu cho âm thoại viên Lương (?) chuẩn bị ghi xuống.
—-!!! _ Hà Nội cho qua. Sau khi lập lại 4 con số chính xác cho âm thoại viên Lương. Tôi nhờ Anh Hợp báo cho phía Hải Quân biết trước, danh hiệu liên lạc của Tôi, nhằm tránh sự “ hiểu lầm địch xen vào tần số”. ** Anh Hợp trả lời OK và chúc Tây Đô may mắn. Cuộc điện đàm chấm dứt trong tiếng đạn nổ rền vang bởi các đợt pháo kích của pháo binh Cộng Sản, nhằm chuẩn bị mở đường cho các đơn vị chánh quy bộ binh Bắc Việt, còn đang trên đường “ tiến quân ” từ xa vào thành phố Đà Nẳng.
Tôi lặng lẽ, trao trả ống liên hợp cho âm thoại viên Lương và tự hỏi với chính mình — Làm sao đây? — Kế hoạch nào có thể thực hiện được? — để đưa đơn vị ra biển với tình hình gần như tuyệt vọng nầy, trong khi Đại Đội 3 ĐĐT là Tr / Úy Trương Văn Ba và Thiếu Tá Nguyễn Văn Lộc Tiểu Đoàn Phó còn đang cố gắng, tìm về với BCH Tiểu Đoàn 9, hiện nay “dậm chân” tại chổ vì các xuồng cao su của Công Binh TQLC có nhiệm vụ đưa toàn bộ Tiểu Đoàn 9 vượt qua nhánh nhỏ sông Hàn, nằm kế bên một trại cưa theo lộ trình, kế hoạch lui binh, triệt thoái của … để ra bãi biển Non Nước, đã không còn ai phụ trách, những quân nhân làm nhiệm vụ đã bỏ nhiệm sở, sự việc nầy gây khó khăn, làm chậm bước tiến của ĐĐ3, trên đường tìm về hội tụ cùng BCH Tiểu Đoàn lúc nầy đang chuẩn bị di chuyển hướng về vị trí phòng thủ sau cùng ở đại chủng viện (trước đó khi được báo tin về tình hình biến chuyển, không thuận lợi cho ĐĐ3 và Th / Tá Tiểu Đoàn Phó, Tôi đã bàn thảo với Th/Tá Lộc cho ĐĐ3 đổi hướng, len lỏi trong các xóm nhà ngoại ô, đi ngược về phía cầu Trịnh Minh Thế tìm đường khác đến điểm hẹn ). Tôi xử dụng máy liên lạc với không lực, chuyển qua tần số của Hải Quân. Sau vài lần gọi, Tôi nói chuyện được với hạm trưởng Hải vận hạm Ninh Giang 403 (Thiếu Tá Nam, ám danh đàm thoại là Nam Hổ?). Hiểu được sự cần thiết phải nhờ cậy Hải Quân, trong giây phút sanh tử nầy, nên Tôi phải xuống giọng gần như “năn nỉ ” hầu có thể cứu lấy đơn vị, nhưng tiếc thay với lý do địch pháo kích, thiếu an toàn nên Hải quân không thể vào “ủi bãi ” đón TĐ 9 trước 8 giờ tốí nay Ngày 29 Tháng 3 Năm 1975.

— Cái gì —
*** Qua ống liên hợp Tôi hét lên — Nam Hổ đây Tây Đô, các đơn vị chánh quy Bắc Việt chưa vào Đà Nẳng nếu chờ đến – 8 giờ tối – Tôi nghĩ rằng quá trể cho việc “ zulu ”; Nam Hổ có “ủi bãi ” thì chỉ vào lấy xác chúng tôi mà thôi —-

***. Im lặng trong khoảng một phút : — Tây Đô đây Nam Hổ — Tôi nghe — Rất tiếc, lệnh trên không cho “ ủi bãi” lúc này, bạn ráng chờ đến tối, chúc may mắn. Không có sự lựa chọn nào khác, như dòng sông phải đổ ra biển, như cuộc tình khi không còn mộng đẹp ban đầu thì phải nói lời chia tay. Tôi đồng ý và khẳng định với hạm trưởng Hải Quân là TĐ9 TQLC sẽ giữ vững phòng tuyến cố thủ, chờ đợi đến giờ hẹn.

Tôi cũng yêu cầu hạm trưởng Hải Quân giữ liên lạc thường xuyên với Tôi.

Một cảm nhận chua chát, cay đắng đè nặng lồng ngực, khi nghe lời chúc may mắn lần thứ hai trong ngày, từ hạm trưởng Hải Quân. Liệu có chiếc đũa thần nào, phép lạ nào mang lại may mắn cho cùng một lúc hơn 700 trăm chiến sĩ đang trong tuyệt tử lộ, với sự lạnh lùng, quên lãng như các cơn sóng vô tình không cảm xúc, đang đập vào bờ, cuốn trôi theo toàn bộ những gì đã bị bỏ lại, dọc theo bãi biển Mỹ Khê, kể cả những thân xác con người bất hạnh, nằm rải rác hay đang trôi nổi bồng bềnh ngoài biển khơi. Thật tội nghiệp, họ cũng chỉ là những con người bình thường, cũng “tham sanh húy tử ” như mọi con người khác, nhưng lúc nào cũng cố gắng thi hành “quân lệnh” đến khi biết, họ chỉ là những “con chốt chậm chân” trong ván cờ “báo tử thiếu hồi chuông” họ tìm sanh lộ, trong hy vọng tìm một lối về, đoàn tụ gia đình tổ ấm, với nắng đẹp phương Nam, tiếc thay sự may mắn đã không đến với họ. Tiếng kèn truy điệu, lá cờ của tổ quốc thân yêu, mãi mãi là “món nợ muôn đời” không thể trả, cho những “anh hùng vô danh” đã chết vào những giờ phút sau cùng của cuộc chiến. Báo cáo nào? Quân sử nào? sẽ ghi lại toàn bộ sự “lạnh lùng, tàn nhẫn của chiến tranh đây”.

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn. ( Chinh phụ ngâm )

Sau vài phút suy nghĩ, Tôi tự lấy máy liên lạc nội bộ, đứng riêng ra một góc, không quá gần các quân nhân trong ban chỉ huy Tiểu Đoàn. Tôi không muốn những đối thoại, trao đổi giữa Tôi và Th/ Tá Lộc TĐPhó sẽ làm cho tinh thần quân nhân dưới quyền bị giao động. Tôi kể lại cuộc đối thoại giữa Tôi và Th/ Tá Hợp TĐ 2 cũng như lời hứa của Hải Quân…!! Chúng ta không thể kỳ vọng vào lời hứa của họ. Chúng ta phải tự lo liệu mà cứu lấy đơn vị!! Tôi kết luận và nói với Th/ Tá Lộc về kế hoạch “tự cứu” như sau : ĐĐ 3 dưới sự điều động của TĐPhó Lộc phải đổi hướng di chuyển, khi đi đến các xóm nhà có đông dân cư hành nghề đi biển, dọc theo con sông Hàn, bằng bất cứ giá nào, kể cả dùng “vũ lực ” thu, gom tất cả các phương tiện ghe, xuồng dùng vào việc đi biển và nếu cần thiết, bắt giữ luôn các ngư dân biết xử dụng các phương tiện đó, rồi xuôi theo nhánh sông Hàn ra điểm hẹn gặp. Tôi tại tọa độ X. Th / Tá Lộc cho biết: hiện nay ĐĐ3 đang bị quấy rối bắn tỉa bởi bọn đặc công Cộng Sản nằm vùng và du kích địa phương đang bám sát, dẩn đường cho quân chánh quy Bắc Việt truy kích. Anh còn cho biết thêm, qua tin tức của dân chúng chạy loạn, Thành Phố Đà Nẳng đã hoàn toàn bỏ ngỏ, toàn bộ các đơn vị của Quân Khu 1 đã “tan hàng” lúc giữa trưa mà chẳng có “trận đánh giữ sĩ diện nào được thực hiện” ngoại trừ 2 cánh quân còn đội hình và sẵn sàng tác chiến của Tiểu Đoàn 9 TQLC. Anh hoàn toàn đồng ý với kế hoạch Tôi đề xướng và sẽ cho Đại Đội 3 thi hành ngay lập tức. (— Thiếu tá Lâm tài Thạnh, Tiểu Đoàn Trưởng/ TĐ9 TQLC người anh cả của đơn vị, cho tập hợp từ Tiểu Đội Trưởng trở lên nói những lời chân tình trước thuộc cấp — tôi không bỏ đơn vị được, giờ phút nầy tôi và các anh em hãy tự lo liệu ! (Trích thư của Tr / Úy Lưu minh Quan).
3 giờ chiều Ngày 29 Tháng 03 Năm 1975, Tôi ra lệnh cho nhân viên truyền tin (Hạ sĩ 1Kim Anh và Vũ quang Bình người phụ trách quay đầu bò ) xử dụng máy truyền tin PRC 79. gởi công điện cuối cùng cho Tr/ úy Trần Trung (Chỉ huy hậu cứ TĐ 9 TQLC) nhằm mục đích cho hậu cứ biết rõ tình hình của đơn vị, còn đang tiếp tục chiến đấu, chưa bị thiệt hại nhiều, cũng như các tin tức liên quan đến những giây phút cuối cùng của Tiểu Đoàn. Tôi chỉ thị trong công điện là đích thân chỉ huy hậu cứ, phải thông báo cho thân nhân của mọi quân nhân Tiểu Đoàn 9 TQLC hiểu rõ tình trạng của đơn vị, hầu sau nầy trong tình huống xấu nhất, các thân nhân còn có được một sự an tâm tối thiểu về sinh mạng của người thân, kể cả có ngày để nhớ cho “lể giỗ” sau nầy!!!

tqlc-di-tan-thang-3-nam-1975

Trong bóng chiều, ánh nắng cuối ngày, tắt dần về hướng Tây, mặt trời còn chút màu đỏ ráng, chiếu các tia nắng sau cùng trên các hàng cây nhấp nhô, mênh mông như một biển máu đang chờ đợi những con người “chí không nản, lòng không sờn” dù biết niềm tin khó thành hiện thực, khi dỏi mắt nhìn theo hình dạng các con tàu, xa dần nơi biển khơi. Tôi thật sự nát lòng, khi ra lệnh phá hủy máy truyền tin PRC79, phương tiện còn lại duy nhất có thể liên lạc tầm xa với thế giới tự do, vùng đất quê mẹ phương Nam, nơi đã sản sinh, nuôi dưởng, đào tạo Tôi nên người, để có một vị trí chỉ huy như hôm nay; đó cũng là nơi chan chứa những yêu thương vô vàn gắn bó, ràng buộc của Mẹ, Cha, Anh, Em, Bè bạn, của tình Chồng, nghĩa Vợ, của tiếng cười, khóc vô tư, hồn nhiên con trẻ. Nay mọi thứ đã bị cuốn trôi theo “cơn hồng thủy nghiệt ngã nầy” trong nổi nghẹn ngào, uất ức của những chứng nhân bất đắc dĩ.

Cuối cùng Tiểu Đoàn 9 TQLC đã không hoàn tất được cả 2 kế hoạch lui binh triệt thoái của chính đơn vị và của mình. (Riêng Tiểu Đoàn 9 TQLC vì phải bảo vệ cho 2 Tiểu Đoàn 2 và 6 rút nên bị địch tấn công, sau cùng bị kẹt lại trên bờ. **Trích “ Can trường trong chiến bại ” của phó đề đốc HVKỳ Thoại. Trang 271 dòng 18 – 20 ** )

Toàn thể chúng tôi trở thành tù binh của lực lượng võ trang Tỉnh Đội Quảng Nam Đà Nẵng rạng sáng Ngày 30 Tháng 3 Năm 1975 . (**Trích thư của cựu Tr/úy Lưu minh Quan Cựu ĐĐT / ĐĐ1 / TĐ 9: Bãi biển Mỹ khê, địa danh mà tôi phải ghi nhớ trong đời. .Trời càng tối, đêm hôm ấy tôi, Tây Đô (Th/tá Thạnh), Tân an (Đ/Úy Tịnh) Phú sĩ (Đ/ Úy Phán) phải luồn lách trong những đám rau lang và cây chuối để tìm lối ra lại TP Đà Nẵng hơn 1 giờ sáng thì bị du kích bắt giữ**). (**Trích thư T/ Úy Trương phước Dĩnh, Sĩ quan truyền tin TĐ9: Em có nhớ một chi tiết, xin nhắc anh, xem anh còn nhớ không, sự việc xảy ra chỉ có anh, Đ /úy Tịnh, truyền tin mang máy và tài xế của anh, việc xẩy ra trên đường trở về, sau khi anh xuống Lữ Đoàn 369 họp (Thứ Tư 26 tháng 3 năm 1975) có một con mễn (con mang) chận đầu xe của anh, sau này nghiệm lại thấy trùng hợp với câu người đời thường nói “ mễn (mang) lạc, nát làng” chỉ vài ngày sau Tiểu Đoàn mình tan hàng **) –(-Ghi chú : Sáng Ngày 28 Tháng 03 Năm 1975 T / Úy Trương phước Dĩnh, Sĩ quan truyền tin của TĐ9 nguyên quán ở Hội An, được Tôi cho đi phép để xem tình hình gia đình, cha, mẹ ra sao, không ngờ bất thình lình, lệnh tử thủ trong phiên họp 26 Tháng 03 Năm 1975 bị hủy bỏ, với lệnh mới TĐ9 TQLC phải cho phá hủy đạn dược dự trữ, cấp tốc di chuyển lúc 1130 tối Ngày 28 Tháng 3 Năm 1975 để về phòng thủ giữ Đà Nẵng. Sau cùng T/Úy Dĩnh may mắn lội ra biển, lên được tàu HQ với TĐ2 TQLC trong ngày 29 / 3 / 1975 ).http://www.nvbonphuong.com/forums/showthread.php?166282-Ph%C6%B0%C6%A1ng-Nam-%C3%81nh-Sao-N%C6%A1i-Cu%E1%BB%91i-Tr%E1%BB%9Di-Th%C3%A1ng-4-1975

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s