Chút tình sông nước: Lần cuối ra khơi (1980)

on

PV Tố – M6514

Cùng tắc biến. Chuyện của chuyến đi nầy bắt đầu từ gần nửa năm trước. Khi đó tôi còn đang nằm chờ trên chiếc ghe “đăng ký” ở Bạc Liêu. Công cuộc chuẩn bị càng ngày càng có dấu hiệu bế tắc. Cả một đám dưới ghe đã gắn bó cùng nhau, đang ở trong trạng thái lo lắng nhưng không biết làm gì khác hơn là suốt ngày cứ sáng cà phê, chiều lại lai rai. Một ngày Thông trở xuống sau một thời gian mấy tháng về gia đình vợ trên Sài Gòn cho biết:

– Anh T.  biết không, chuyến đăng ký nầy chắc cuối cùng không xong đâu.  Lần nầy gia đình bà xã tui không thể tiếp tục chờ đợi được nữa mà đang chuẩn bị làm một chuyến khác, loại đi chui. Nếu cuối cùng chuyến đăng ký nầy không xong, anh nên về Sài Gòn đi với gia đình tụi tui nghe.

Tôi nghe nó nói cũng thấy có chút hào hứng. Vả lại chuyến tổ chức hiện tại thì không biết chừng nào mới khởi hành được. Tôi liền hỏi:

– Gia đình mầy dự trù chừng nào thì lên đường vậy.

Nó trả lời:

– Chắc không lâu đâu anh.  Nhà vợ tui đang mua một dàn máy tiện để làm đồ phụ tùng bán kiếm tiền đóng ghe. Tui lúc nầy ở trên đó cũng rất bận rộn phụ giúp gia đình vợ để tiện các đồ người ta đặt cho các loại ghe tàu. Đồng thời làm luôn công tác giao dịch.

Hoàn cảnh thằng Thông nầy có nhiều điểm cũng rất tức cười. Bà già vợ là người Việt, ông già vợ là người Quảng. Nhưng cả nhà chỉ có ông già vợ là nói tiếng Quảng. Tất cả những người khác trong nhà kể cả mấy anh em của bà xã nó đều chỉ nghe được thì nhiều nhưng lại chỉ bập bẹ một ít tiếng Quảng. Thông thì ngược lại từ lúc quen biết cô nàng, có dịp tiếp xúc với đám người Quảng chung quanh, tiếng Quảng của nó lại phát triển nhanh tới mức người ta lại tưởng nó là dân Quảng Châu thứ thiệt. Cho nên nghe nó nói đang lo công tác giao dịch cho gia đình vợ, tôi tin.

Tuy nhiên khi nghe nó cho biết về tình trạng tổ chức, tôi thấy hởi ơi, ngán ngẩm. Bây giờ mà gia đình nó mới bắt đầu đi lảnh đồ làm công kiếm tiền để đóng ghe vượt biên thì chắc phải đợi đến khi mồ tôi xanh cỏ. Nghe tới đây thì tôi lại coi nhẹ việc tổ chức của gia đình vợ của Thông vì không biết đến năm tháng nào mới thực sự bắt đầu.

Rồi nó cũng tiếp tục nói sơ qua những gì nó nghe biết được về việc tổ chức, qua ông anh vợ tên Châu. Tôi thật sự rất quý nó nên cũng có đôi điều đóng góp nhắc nhở. Tôi dặn nó nói với ông anh vợ nên quan tâm đến địa phương tổ chức và lộ trình, lưu ý với ông anh là thời buổi nầy người ta gạt nhau nhiều lắm. Bàn đến đây nó cho biết thêm, nhóm tổ chức đang bàn sẽ theo lộ trình từ Nhà Bè qua Vàm Láng. Nói tới lộ trình nầy nó vô tình lại gợi thêm sự tò mò và trúng tủ tôi.

Trong lúc vừa ngồi lai rai vừa nói chuyện tôi cho nó biết cái suy nghĩ của tôi. Cho nó biết chuyến đi còn xa vời quá, tôi không có chút hứng thú nào để dự phần. Tuy nhiên việc tôi có thể làm để giúp gia đình nó bây giờ là vẽ một cái bản đồ lộ trình từ Nhà Bè ra Vàm Láng. Chỉ với cái ý là để ban tổ chức có thể dùng cái bản đồ để khảo hạch sự hiểu biết đường đi thật sự của người tài công mà họ sẽ dùng. Rồi tôi bắt đầu vẽ cho Thông một cái bản đồ sông Soài Rạp với những ghi chú chi tiết mà tôi còn nhớ được (từng ngọn rạch, xóm nhà, hàng đáy, …). Coi như một món quà tặng cho một thằng em mà tôi có dịp gặp qua. Rồi tôi cũng quên luôn chuyện ghe cộ của gia đình Thông, tiếp tục thoi thóp trên chiếc ghe đăng ký đang nằm vô vọng trên dòng sông đục ngầu dơ bẩn Bạc Liêu.

Cho đến một hôm, gần nửa năm sau Thông lại từ Sài Gòn quay trở xuống. Lần nầy nó hí hửng, trong bửa nhậu nó tiết lộ:

– Anh Châu và ban tổ chức đã sắp xếp xong, ghe đã gần như sẵn sàng. Anh về chuẩn bị với gia đình tụi nầy đi.

Thông cũng cho biết tiếp:

– Hôm trước anh Châu đưa cái bản đồ anh vẽ cho ban tổ chức coi. Trong nhóm có một ông là dân địa phương.  Ông ta hết hồn khi biết có người rành cái vùng Soài Rạp đến độ chỉ nhớ mà vẽ được như vậy. Họ còn hỏi tui tuổi, năm sanh của anh và Chị Dung, rồi nhờ thầy coi tuổi. Họ nói tuổi Tý của anh chị là tuổi tốt nhất, hợp với bổn mạng của những người khác trong chuyến. Nên họ yêu cầu anh Châu bằng mọi giá phải gọi cho được anh về lái chiếc ghe nầy, chắc chắn sẽ thành công.

Suốt mấy ngày lưu lại Bạc Liêu, Thông cứ tiếp tục nằn nì. Tôi lại cứ ngần ngừ. Một lần thay đổi đồng nghĩa sẽ phải chuẩn bị đương đầu với những bất ngờ mới đang chờ đợi. Cái thất bại của chuyến ghe đăng ký có phần làm tôi chán nản. Cuối cùng tôi đành dùng giải pháp câu giờ là cứ về Sài Gòn nhìn chiếc ghe và có dịp tìm hiểu cách tổ chức của bọn họ.

Mấy ngày sau tôi theo Thông về Sài Gòn. Ngày kế tôi vào chổ đậu ghe ở khu An Dưỡng, cuối đường Âu Dương Lân bên phía bến Phạm Thế Hiển, xem chiếc ghe chuẩn bị chuyến đi đang nằm chờ ở đó. Tôi cũng có dịp tập dượt chạy thử ra vô để làm quen với chiếc ghe và mấy thằng em thủy thủ bất đắc dĩ.

Tôi có dịp thấy chiếc ghe mà họ đang chuẩn bị. Khác với chiếc đăng ký ở Bạc Liêu, chiếc ghe nầy nhỏ xíu. Dự trù chỉ chở có 36 người cho 3 cánh trong ban tổ chức; mỗi cánh 12 người. Ban tổ chức cho trách nhiệm tài công của tôi 3 chổ. Khác với chiếc đăng ký ở Bạc Liêu, chiếc ghe nầy dài chưa tới 14m, gắn 1 cái Gray 4. Sông rạch vùng nầy rộng rãi, hoàn toàn không có nhà sàn. Lái chiếc ghe nầy khỏe ru. Tuy nhiên, cũng như trường hợp chiếc trước ở Bạc Liêu, chiếc nầy cũng lại trang bị loại máy Gray mà tôi không mấy khoái.

Rồi từ từ tôi cảm thấy mình cũng thích chiếc ghe nầy. Lúc vẽ cho Thông cái bản đồ từ Nhà Bè ra Vàm Láng tôi chỉ muốn cho gia đình nó tuyển được một người rành đường, không bị lường gạt. Từ khi về đây có đủ thời gian cho tôi suy nghĩ cân nhắc thêm. Tôi thấy lên tinh thần trở lại.  Vả lại cái nhóm tổ chức ở Bạc Liêu bây giờ tôi cũng không còn đặt nhiều hy vọng họ có gan để làm một chuyến đi “chui”, làm ăn loại nhỏ giống như chiếc nầy. Rồi tôi chính thức nhận lời để lái chiếc ghe, phải thử thời vận mới được.

Nào ai biết được nhiều năm sau, gần cuối năm 1980 tôi lại chọn địa điểm cho cuộc hành trình vượt biên ngay tại dòng sông Soài Rạp. Khoảng gần 2 năm nay tôi đã từng tìm cách nhưng chưa bao giờ nghĩ cuối cùng mình bị bắt buộc phải có lựa chọn như vậy. Đoạn đường nầy tôi sợ nhất là địa phận Long An từ sau Quảng Xuyên cho tới đồn Rạch Cát.

Nếu bị bắt giử bờ bên tay mặt trên đoạn sông nầy thì cơ hội giải giao về ngay quận lỵ Cần Đước, quê tôi, gần như chắc chắn trăm phần.  Mà một khi bị đưa về tại Cần Đước, việc đầu tiên là phải bị bẹo hình bẹo dạng ngay tại cái sân quần vợt cách nhà bà già vợ chưa tới trăm thước. Nhiều đám vượt biên trước đây, khi bị bắt đều bị đưa về chờ làm thủ tục giải giao ngay tại đó. Từ sau đám cưới, Dung về dạy tại trung học quận nhà, đồng nghiệp và học trò cả đống.  Khi bị tó và đưa về đó, thì chỉ cần một chút xíu thời gian là tôi bị lộ ngay tông tích mấy đời và cả cái quận nầy sẽ đều biết. Lý lịch dởm cở nào, loại gì đi nữa, chưa chắc trời đã cứu được.  Tôi bị gởi vô trại lại là cái chắc. Nhưng trước khi gởi vô trại, trừng phạt nhẹ nhất có lẽ bị bắt phơi nắng vài ngày tại cái sân quần vợt đó. Nặng hơn chắc có lẽ là bị trói lại dẫn đi giáp vòng quận lỵ để làm gương. Ngoài ra gia đình hai bên chắc chắn sẽ bị liên lụy.  Bà già ruột, bà già vợ nếu thấy thằng con thằng rể quý như tôi bị hành hạ ngay trước mắt, xụm luôn là cái chắc. Bà già tôi, bà già vợ tôi 2 bà khi nghe sự tính toán cũng xanh mặt. Nhưng cuối cùng cũng không biết làm sao, cũng không ngăn cản được.

Do đặt nặng đoạn đường ngang tỉnh Long An, trước ngày khởi hành tôi còn phải bỏ ra một tuần mướn một chiếc ghe gắn máy nhỏ đuôi tôm giả làm ghe đốn củi ra thám thính đoạn đường sông từ sông Vàm Sát tới xã Lý Nhơn. Nhờ đó mà tôi thấy được các hoạt động hàng đêm trong toàn khu vực. Tôi thấy hàng đêm một tàu hải quân VC loại nhỏ tắt đèn nằm rình rập gần bờ xã Lý Nhơn, phía hạ lưu. Đêm nào cũng vậy, khoảng sau nửa đêm, trời tối đen, những chiếc ghe vượt biên từ trong đi ra từ hướng Nhà Bè hoặc Cầu Nổi. Tất cả đều có thói quen chạy né trạm công an biên phòng Vám Láng, vì nghĩ bên phía rừng sát dễ ăn hơn. Từ trong họ đã bắt đầu nép sát bên bờ Lý Nhơn.  Họ tự động lọt vào lưới của chiếc tàu hải quân đang tắt đèn nằm chờ. Sau đó kết quả có thể tức khắc đoán được. Vài trái sáng được phóng lên, tiếng hò hét rượt đuổi, vài loạt súng, rồi sau đó cả khúc sông trở lại yên tĩnh như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Cả đám vượt biên bị bắt hết. Có khi trong một đêm có hai ba lần như vậy.  Chỉ trong khoảng một tuần mà tôi đã thấy trên chục ghe vượt biên bị hải quân VC rượt bắt khi đi qua khúc sông nầy. Từ đó tôi thấy có phần nào nản lòng, biết được chuyến đi của tôi sẽ không dễ dàng gì. Tuy nhiên dù trong tuyệt vọng, cuối cùng tôi thấy mình không thể rút lui được. Phải nghĩ cách để liều mạng đánh trận nầy.

Có một chuyện rất thú vị xảy ra ngay gần trước ngày ghe tôi lên đường. Chiếc ghe đi sông kiểu Cần Đước nầy được sửa lại chút đỉnh thường đậu tại một bến sông của con rạch nhỏ trong khu cư xá An Dưỡng nằm cuối đường Âu Dương Lân, bến Phạm Thế Hiển. Nếu đi về hướng đông một đoạn ngắn, rạch nầy sẽ gặp sông Rạch Ông. Lúc đó nhìn lên trái sẽ thấy cầu Rạch Ông. Trước ngày lên đường trên ghe thường có tôi, Thông, Phương và Trạng. Phương và Trạng là 2 thằng đệ tử mới. Cả 3 Thông, Phương, Trạng đều là những thủy thủ chưa có một ngày đựợc học chuyên nghiệp nói chi đến hải vụ. Tụi tôi hay vào bến sông nầy để săn sóc, tu bổ, đồng thời để chạy thử ghe thử máy.

Sáng hôm đó như thường lệ tôi đang ở dưới ghe đậu sát bờ. Thình lình tôi giựt mình vì âm thanh của một giọng cười thật quen thuộc. Không thể lầm lẫn được, nhìn ra giửa sông. Tôi thấy Hùng Sùi (K21) trên một chiếc ghe khác.  Trời đất, không ngờ lại gặp giọng cười đó ở nơi nầy. Hùng cũng cùng trung đội 1 cao giò của 19D Quang Trung. Sau ngày rời quân trường Nha Trang, Hùng về 22XP cùng doanh trại với 27XP tại Nhà Bè. Sau nầy tôi lại gặp Hùng trong các trại tù Trảng Lớn, Kà Tum. Hùng có giọng cười ngất ngây; khi cười luôn híp mắt, không thể không nhận ra được. Ghe Hùng đang từ ngoài Rạch Ông chạy vào. Tính nghịch ngợm nổi lên, tôi bước vội lên bờ, quay nhìn xuống giửa sông, bụm tay làm loa, gọi thật lớn, chỉ 2 tiếng: “Hùng Sùi”.  Chỉ cần như vậy, tiếng cười ngưng ngang. Ghe Hùng chạy thẳng vào trong.

Một lúc sau, khi đang ngồi uống cà phê trong một cái quán gần chổ đậu ghe, Hùng xuất hiện trên tay có một xâu bánh ú. Trao bánh cho tôi, Hùng chưởi thề liền: “Mẹ, mầy hại bạn, tao đang cười vui vẻ, mầy thình lình gọi lớn. Vì không đề phòng, tao tự nhiên nín cười vì 2 chử Hùng Sùi, làm mấy thằng em nghi ngờ, sau cùng suy ra cũng biết tao đang dùng tên giả.”

Vài ngày sau cũng tại nơi đó, tôi lại thấy ghe Hùng chạy ra ngược với cái hướng tôi thấy lần trước. Thấy tôi, Hùng chỉ vẫy tay rồi chạy thẳng. Rất nhanh sau đó tin tức do mấy thằng em thu lượm được dọc bến sông cho biết ghe của Hùng đang chuẩn bị đánh (lên đường).  Tôi thấy lo và chỉ biết cầu nguyện cho Hùng ra khơi bình an. Đồng thời tôi cũng thấy nôn nao nghĩ tới lượt mình.

Nhưng chỉ khoảng hai ngày sau, tôi lại thấy ghe của Hùng từ ngoài chạy vào.  Lần nầy không có giọng cười nào, chạy ngang một cách êm ru, âm thầm. Lần nầy tôi ngồi một lúc chờ mong Hùng trở lại với xâu bánh ú. Nhưng chờ mãi vẫn không thấy.  Cuối cùng cũng nhận được tin tức hành lang dọc bờ sông. Chuyến của Hùng đánh nhưng bị bể, đang tìm chổ ẩn thân. Tôi thấy tiếc cho Hùng bị thất bại. Rồi tôi biết tôi còn cần phải chuẩn bị cho chuyến đi của tôi nhiều hơn nữa, chuẩn bị tâm tư nhiều hơn nữa.

Trong khoảng thời gian nầy tôi cũng tình cờ gặp được LT Kỳ (K21). Hôm đó tôi đang chở bà xã trên chiếc xe đạp trên đường Hoàng Đạo, gần đường Nguyễn Thông, cổng xe lửa số 4. K21 đầy đủ cũng chỉ có 269 tên mà đi đâu cũng gặp. Gặp nhau ở cái thời hồn ai nấy giử, cũng chẳng có bao nhiều điều tâm sự. Tuy vậy trong một cái cảnh cá chậu chim lồng, một khoảnh khắc vài phút vẫn có thể làm mình nhớ đến trong thật nhiều năm.

Những tháng sau nầy khi ở Sài Gòn, các sinh hoạt hàng ngày của tôi theo một kiểu cách khác hẳn lúc ở Bạc Liêu. Ban ngày tôi lang thang trên đường phố với chiếc xe đạp loại bánh nhỏ. Nhiều khi còn đèo thêm bà xã ở phía sau. Ngoài những lúc có mặt trên chiếc ghe, tôi chạy tới chạy lui các nơi bạn bè hoặc người quen tin cậy được. Phải đổi chổ ngủ ban đêm thường xuyên. Phần lớn là về ở nhà bên vợ của thằng em ở Phú Thọ Hòa. Nếu muốn ghé qua chổ ở của ông già vợ cũng phải nhìn trước nhìn sau cẩn thận và phải lựa lúc rất trể khi những nhà bên cạnh đã đóng cửa nhưng chưa tắt đèn, hy vọng tránh bớt những ánh mắt dòm ngó từ trong bóng tối.

Dù vậy trước ngày ra đi tôi cũng có dịp nói lời từ giả Hạnh (K21, thuyền trưởng 2 chiếc PCF). Khá đặc biệt vì Hạnh có thời gian khoảng nửa năm nằm sát bên cạnh trong trại tù cải tạo ở Trảng Lớn. Trước khi đi tôi còn có dịp bàn giao lại Hạnh vài mối đang chuẩn bị vượt biên. Trong đó có một tổ chức do gia đình của bà chị của thằng bạn học cùng quê, nhà ở đường Nguyễn Biểu.

Ngày ra đi. Tôi đã xách chiếc ghe vượt biên nhỏ xíu của tôi mang số SS 0990, dài chưa tới 14m đi từ sông Rạch Ông, đi qua rạch Long Kiểng, tới Rạch Mương Chuối. Trên ghe chỉ có tôi và 3 thủy thủ ruột là Thông, Phương và Trạng. Mục tiêu kế tiếp là tới điểm hẹn để bốc khách trên sông Soài Rạp.

Từ sáng sớm ngày hôm trước, tất cả khách đã đến địa điểm tập trung ở chợ Kim Biên, Chợ Lớn, bà xã tôi và cô em có trong đó. Sau đó họ được phân phối xuống những chiếc taxi (ghe nhỏ), từ từ tiến về điểm hẹn. Lúc bắt đầu, nhóm tổ chức dự trù chỉ chở có 36 người cho 3 cánh trong ban tổ chức; mỗi cánh 12 người. Để tránh trường hợp canh me (đi lậu), theo thỏa thuận trước, tôi chỉ cần điểm danh với 3 trưởng nhóm đủ số 12 người cho mỗi nhóm của họ là tức khắc khởi hành. Sau khi bắt đầu đổ khách một chút, tôi gọi 3 trưởng nhóm để điểm danh như đã quy định. Tôi thấy 3 trưởng nhóm đã đã xác nhận người của nhóm họ đủ mà thiên hạ vẫn cứ tiếp tục trèo lên ghe. Biết nếu phản ứng chậm là ghe đầy nhóc khỏi nói đến chuyện ra biển, tôi liền phải ra lệnh chặt dây neo, lập tức rời đi.

Đời tôi thật là có quá nhiều sự tình cờ, lộ trình ra đi lần nầy mang nhiều tình tiết oái oăm. Chính nhờ vào sự quen thuộc sông rạch vùng nầy từ thuở nhỏ theo ghe buôn ngược xuôi cùng ba tôi. Cũng nhờ trời, tôi có thời gian làm SQTT kiêm bị đì làm thuyền trưởng chiếc monitor 6514, ngày đêm gắn bó với nó hành quân diệt địch, tôi đã thuộc lòng từ xóm nhà, hàng đáy dọc trên dòng sông Soài Rạp. Chổ đổ khách chỉ cách căn cứ GĐ27XP cũng là chổ chiếc LCM6 chìm ngày trước chừng mấy cây số. Chạy ra ngoài một chút xíu nữa thôi là đã ngang quận lỵ Quảng Xuyên nơi mà ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi gặp chiếc 402 và xuýt nữa bị tiêu đời.

Tôi biết đoạn đường sanh tử của chuyến đi là từ Lý Nhơn bên trái, nơi có chiếc tàu hải quân đang nằm kích; tới Vàm Láng bên phải, nơi có trạm công an biên phòng.

Sau cái tuần lễ dùng ghe máy đuôi tôm đi thám thính sông Soài Rạp, tôi biết nếu muốn thành công trong cuộc đấu trí nầy, bắt buộc phải dựa vào yếu tố bất ngờ. Thứ nhất tôi không chọn đêm tối đen, bình thường người ta cho rằng chỉ kẻ lén lút mới đi trong đêm đen. Ghe vượt biên thường chọn đêm không có trăng. Cho nên tôi phải làm ngược lại, tôi chọn đêm ra đi là một đêm sáng trăng còn là vì trong những ngày đó thủy triều lên xuống mới mạnh nhất. Thứ hai tôi nhất định không đi gần bờ Lý Nhơn. Thứ ba tôi phải xuất kỳ bất ý chạy sát đồn công an Vàm Láng với tất cả tốc độ có được. Tuy nhiên tôi biết dù tính kỹ cở nào, tôi bà xã và cô em gái mỗi người cũng phải thủ sẵn trong túi một tờ già Hồ để nếu thất bại thì riêng tôi chắc chắn phải chơi cái chiêu phóng xuống sông, tẩu vi thượng sách.  Phần bà xã tôi và cô em gái cũng cần chút tiền để theo những người khác kiếm cách về nhà. Như vậy ít ra sau nầy dù thành công hay thất bại, tôi cũng mãn nguyện là đã có một kế sách đầy đủ cho chuyến đi.

Hôm đó ngày ghe lên đường khoảng 18 hay 19 tháng 9 âm lịch, trăng lên trể.  Tuy thua trăng rằm Trung Thu tháng 8 một chút nhưng vẫn còn sáng trưng. Trước khi tới sông Vàm Sát bờ bên Đặc Khu Rừng Sát, ghe tôi mở ga nhỏ chạy tà tà như một gia đình làm ăn chân chính trong một đêm sáng trăng. Rồi từ sông Vàm Sát tôi tăng vận tốc một chút băng qua sông nhắm hướng đồn Rạch Cát. Từ chổ nầy tôi biết phải thật thận trọng.  Trước lúc đi, tôi đã quyết định, sẽ bằng mọi giá không để bị bắt trong địa phận Long An. Đây rồi, đồn Rạch Cát quen thuộc. Sau đó tiếp tục đâm thẳng qua bờ Gò Công sẽ là cột đèn đỏ. Tôi tiếp tục cho ghe chạy sát bờ bên Gò Công. Bờ Gò Công nơi nầy chính là điểm tập trung của rất nhiều giang đỉnh 30 tháng tư năm đó. Tới được chổ nầy tôi đã thấy rất an tâm, nếu bị chiếc tàu kia của hải quân VC phía bên kia bờ phát giác, thì từ đó chạy tới đây cũng phải mất ít nhất nửa tiếng đồng hồ. Không lâu sau, sắp tới ngang Vàm Láng anh thợ máy lấy ra một bộ phận mà anh tự chế nhét tạm vào ống pô tàu để giảm âm thanh. Đó cũng là lúc tôi tống hết ga theo dòng nước đang rút mạnh ra biển. Chiếc ghe nhỏ 14m với cái máy Gray 4, dọt lên theo dòng nước xuôi, lao đi thật nhanh. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn như thấy hình ảnh nhiều công an áo vàng từ một nơi nào đó xách súng túa ra chạy rượt theo trên bờ. Nhưng tụi bây nhất định đã chậm hơn một bước!!!.  Chưa bao giờ tôi tưởng tượng được là mọi chuyện xảy ra lại thuận lợi hợp với ước muốn của mình đến như vậy.

Vừa chạy qua khỏi Vàm Láng, ghe còn gặp một trở ngại mà tôi chưa bao giờ nghĩ đến. Đó là ghe lọt vào cái có thể gọi là một mê hồn trận toàn gồm các hàng đáy đan xen kẻ với nhau. Các hàng đáy thì tôi không lạ lùng gì. Nhưng loại hàng đáy trùng điệp, hàng hàng lớp lớp như thế nầy thì đây là lần đầu tiên tôi thấy. Liên tục cùng một hàng khoảng cả chục miệng đáy đính sát nhau mới thấy có được một kẽ hở chừng 10 – 15m. Rồi tới một chục miệng đáy cùng hàng khác. Không biết bao nhiêu dãy bao nhiều hàng, xen kẻ lẫn nhau. Ghe chỉ có thể chạy xuyên vào các kẽ hở mới an toàn lọt qua được. Theo thủy triều xuống, nước chảy ra biển vẫn còn đẫy chiếc ghe lao tới như chớp. Vướng vào các dây cáp của cột đáy thì ghe không lật cũng bị quấn chân vịt hoặc gãy chân vịt. Quá hoảng sợ tôi không cách nào khác hơn là phải bảo Thông ra phía trước nằm sấp sát mủi ghe, dùng mắt để xác định chổ nào là kẽ hở. Mỗi khi xác định được, dùng tay chỉ cho để tôi cho mủi tàu hướng ngay vô chổ đó. May mà có ánh trăng sáng vằng vặc, nó mới có thể hoàn thành được công việc mà tôi giao phó. Trên đầu một số ít cột đáy còn có chòi canh thấp thoáng có bóng người ở trong đó. Ngày xưa lúc phục vụ ở Hạm Đội, một vài lần chiếc HQ401 cũng theo sông Lòng Tàu đi ngang Vàm Láng qua cửa Tiểu cửa Đại để về miền Tây, nhưng tàu lớn không chạy sát bên bờ Vàm Láng. Một vài lần lúc ở GĐ27XP tôi cũng có ghé vào Vàm Láng. Nhưng chưa bao giờ tôi để ý đến đám hàng đáy kinh khủng nầy.

Tờ mờ sáng hôm đó tôi đã thấy Vũng Tàu đàng xa, bên trái. Lúc đó tôi biết nguy hiểm vẫn còn gần kề. Rồi Vũng Tàu từ từ đi về phía sau lái tàu, càng xa càng thấy thoải mái hơn. Phải đến 3, 4 giờ chiều cùng ngày, khi thấy Côn Sơn mờ xa bên mặt, tôi mới tin rằng mình đã ra khơi an toàn và vượt thoát thành công.

Chuyến đi sau đó cũng có thêm một vài trục trặc. Nhưng 4 ngày 4 đêm sau, hành trình nầy đã đưa vợ chồng tôi đến giàn khoan dầu Panama trên vùng biển thuộc Indonesia. Ở đó nhân viên giàn khoan Panama đã tiếp tế lương thực, giúp sửa chửa cái bơm lườn và chỉ đường cho ghe tôi đến một hải đảo nhỏ gần nhất của Indonesia. Chiếc SS 0990 tuyệt vời của tôi đến Terempa khoảng 5 giờ chiều ngày 1 tháng 11 năm 1980. Gặp ngay chiếc Flora, tàu Hồng Thập Tự Tây Đức đang chờ chở dân tỵ nạn tại đó, chúng tôi được đưa ngay lên chiếc Flora. Đêm đó nó chở cả đám trực chỉ đảo KuKu, bắt đầu cuộc đời tỵ nạn. Bấy giờ mới biết trên ghe tôi có tổng cộng 87 người. Đó là một đêm 1 tháng 11 thần tiên sau thật nhiều năm. Sáng hôm sau 2 tháng 11 năm 1980, chiếc Flora mang chúng tôi tới đảo KuKu. Ở đó có văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR). Ngày 6 tháng 12 năm 1980, chúng tôi được chiếc SeaSweep chuyển tới Pulau Galang, Indonesia.
(Giửa năm 1981 khi gặp ĐT Hưng (K21) tới sau tại trại tỵ nạn Galang, Indonesia, tôi được biết chuyến đó Hùng Sùi bị bể, chạy vào kiếm chổ cho ghe ẩn nấp một thời gian. Lúc Hưng còn ở Việt Nam, Hùng và Hưng cũng nghe tin tôi ra đi thành công. Sau đó Hùng cũng ra đi lần nữa cùng lộ trình tôi đi lúc trước, nhưng bị giử lại tại Vàm Láng. Như vậy sau tôi, ĐT Hưng cũng thành công. Hùng Sùi phải cần ít nhất 3  lần mới xong chuyện của mình. Cuối cùng Hưng và Hùng Sùi, cả hai trước sau định cư ở Mỹ.

Hạnh thì sau đó tiếp tục với mấy đường dây do tôi bàn giao lại. Tới Galang tôi còn vẽ lộ trình gởi về, nhờ người nhà trao lại cho Hạnh. Hạnh rốt cuộc cũng tới được Indonesia, định cư tới Úc.

Chuyện vượt biên của tụi tôi tùm lum, tà la nhiều chi tiết rườm rà quá!!!)

Vùng sông nước của tôi !!!

Cuộc đời đã đem đến cho tôi cái số kiếp ghe tàu lông bông hầu như lúc nào cũng được gắn bó với một vùng sông nước vô cùng phong phú. Vùng sông nước mà tôi muốn nói đây là từ những con sông lớn, sông nhỏ tới những ngọn rạch. Nó bao gồm cả các đám dừa nước, các hàng cây bần cây mắm, các hàng đáy, xóm nhà. Nó cũng bao gồm luôn từng đám lục bình lặng lờ trôi trên dòng nước đục ngầu của sông Tiền sông Hậu hay dòng nước trong vắt có thể thấy sâu tới đáy của dòng sông Đồng Nai. Tôi không thể nào không kể tới những ngọn rạch nước ngọt miền Tây dưới bóng những bóng cây mận cây xoài rợp bóng, ngồi trên ghe có thể với tay hái trái được. Tôi cũng không thể nào không nói ra vùng sông nước về đêm với ánh đom đóm lập lòe hay ban ngày với tiếng bìm bịp kêu báo giờ nước lớn.

Đã có gần trọn một đời người để kiểm nghiệm, tôi phải thú nhận là không ngờ rằng mình có duyên nợ với vùng sông nước nầy nhiều như vậy. Những gắn bó bắt đầu từ thời bé thơ, đã là nơi cho tôi chơi giởn rồi trở thành phương tiện đi xa qua các chuyến ghe buôn trong lứa tuổi lớn hơn. Cũng những sông rạch nầy tôi đã có biết bao lần ngày đêm dẫn giang đỉnh
tham gia hành quân diệt địch, một thời trai trẻ không biết chử sợ là gì. Rồi cũng có một lần xuýt bỏ mạng trên vùng sông nước đó khi giởn mặt với chiếc HQ402 ngày 30 tháng 4 năm xưa. Cuối cùng cũng phải trở lại nương nhờ vùng sông nước đó mới có cơ hội bỏ nước ra đi.

Cho tới bây giờ dù đã trải qua bao nhiêu năm tháng, tôi biết rõ được một điều. Vùng sông nước ba chìm bảy nổi chín lênh đênh nầy đã sát cánh cùng tôi trong biết bao tang thương biến đổi !!!. Một vùng sông nước lúc nào cũng là niềm thương nhớ là nổi mất mát không nguôi, không bao giờ có gì bù đắp được.

Cuối cùng rồi tất cả cũng đã đi vào kỷ niệm mà mỗi lần nhớ tới trong tôi chỉ còn lại những ngậm ngùi.

Cứ như thế trong tôi vùng sông nước

Theo tháng ngày thành thương nhớ mênh mông!!!

https://dongsongcu.files.wordpress.com/2017/07/718e9-img_20160408_0032.jpg?w=481&h=322

PV Tố – M6514

Nhớ Tháng 4 Đen CA, 2016

http://taiton2049.blogspot.com.au/search/label/Ch%C3%BAt%20T%C3%ACnh%20S%C3%B4ng%20N%C6%B0%E1%BB%9Bc

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s