“Nguồn Tin Vui…”

on
hoànglonghải

1Dấu hoàng hoa lộ xưa đâu?

Đôi hàng cây ngã bóng cầu nguyện chi!

Cỏ dài níu bước chân đi

Cành vàng hoa nọ buổi về còn không?

Cây khô vắng bóng chim rừng

Tóc chiều hong gió bềnh bồng trắng mây!

(Hoàng hoa lộ)

Nguyễn Tử Hà

Khai lý lịch xong thì “biên chế” (danh từ Việt Cộng đấy), có nghĩa là phân loại và chuyển trại.

Té ra Việt Cộng, sau khi “gom bi”, dụ hết “đám chế độ cũ” trình diện, tập trung, nay cần chúng tôi “thành thật khai báo”.

Khai báo hết rồi để biết ai là ai, khi đó mới phân loại đưa đi các trại giam.

Toàn bộ “đơn vị” tôi đều lên xe Molotova đi hết. Dĩ nhiên chẳng biết họ bị đưa đi đâu để “học tập”. Còn lại một số khoảng 20 người, ôm khăn gói đi bộ qua phía bên kia trại, khu sát phi trường Trảng Lớn. Ở đó, sau mới biết là L3-T3. Hòm thư 7590.

Chúng tôi lại đùa một cách chua xót về số “hòm thư”:

Học bảy (7) năm (5) chín (9) không (0)?

Không!

Bảy năm cũng chưa chín, như Trần Tế Xương nói vậy:

“Học đã sôi cơm nhưng chửa chín.”

Coi bộ phen nầy “mút mùa Lệ Thủy”.

11 trong số 20 người đó, được “biên chế” ở chung với nhau trong một tổ: Đó là:

– Huỳnh Văn Khánh, người Nam, đại úy Quân Cảnh, biệt phái dạy trường Trung Học Bình Chánh, hai năm sau bị đưa ra Bắc, bây giờ không biết ở đâu!

– Thứ hai là Hoàng Hữu Chung, quê làng An Ninh, phía sau chùa Linh Mụ, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, một năm sau ra Bắc, hiện ở Boston.

– Ba là Lê Quang Dung, dân Saigon chính cống, đại úy Cảnh Sát. Bọn “Cách mạng 30” – (là những người dân trở cờ, theo Việt Cộng vào ngày 30 tháng Tư,) tố cáo là thiếu tá nhưng không khai (1), năm 1982, cùng được tha về một lần với tôi, được ít lâu thì từ trần.

– Bốn là Nguyễn Văn Bê, dân Nam Bộ, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, ca cải lương khá mùi. Câu anh ta thường ca là:

“Em ơi!

Nước chảy,

Bèo trôi

hòa tàn

bướm rũ

Vừa mới yêu nhau mà em đã phụ anh rồi.”

Trắc thường bắt chước ca theo, nhưng chữ “phụ” thì anh bỏ vần “ph” mà thay vào đó phụ âm “đ”, khiến ai nấy cũng cười. Năm sau, Bê bị đày ra Bắc, không biết bây giờ ở đâu!

– Năm là Phạm Xuân Lý, dân Saigon chính cống, đại úy Cảnh Sát, vợ tên là Thúy/ Hên), cũng là sĩ quan Cảnh Sát, cũng bị đi cải tạo. Một năm sau, Lý bị đưa ra Bắc, hình như bây giờ cùng vợ định cư ở Úc.

– Sáu là Nguyễn Văn Thanh, “rân ri-cư”, như chúng tôi thường đùa, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, “lừng khừng chẳng ra làm sao” nhưng tránh “lao động vinh quang” thì hay lắm, anh em gọi đùa là thằng “trốn làm” (để nói lái chơi), Trần Phú Trắc đặt cho cái tên Tây nữa là “thằng Charle Cụt”, nói theo tiếng Việt là “Sặc Cụt”, cả hai tên nầy nói lái lại thì nghe… tục lắm!

Tấm PSP dài, mỗi phía có 3 người khiêng. Thanh thường giành đứng giữa. Trên đường đi, anh ta khom mình xuống một chút, sức nặng đè lên vai hai người đi trước và đi sau. Anh ta “khỏe re”. Mánh nầy bị bể nên tôi (khi đó làm trưởng toán), không cho anh ta đứng giữa nữa. Năm 1954, bố mẹ anh ta vào nam vì, theo như Việt Cộng “lên án”, nghe lời các linh mục rằng “Chúa đã vào Nam”. Còn bây giờ thì “Chúa lại đi Guam”, như Phan Hải nói,  nhưng gia đình Thanh không đi Guam đuợc. Năm sau Thanh bị đày ra Bắc, bây giờ ở nam Cali!

– Bảy là Phạm Quang Chiểu, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, tôi có nói qua ở trên, rất khoái nghe tôi hát “Gởi gió cho mây ngàn bay.” Một năm sau bị đày ra Bắc. Đi tù cải tạo về mới cưới vợ, hiện ở nam Cali, gần với Trần Phú Trắc.

– Tám là Trần Phú Trắc, nói ở trên, xin khỏi nhắc lại.

– Chín là Trần Hữu Bảo, dân Huế, đại úy Dù, thương binh loại 2, biệt phái Cảnh Sát, một năm sau bị đày ra Bắc, hiện giờ ở nam Cali, gần chỗ Trắc.

– Mười là Phạm Ngọc Hiền, quê ở Quảng Ngãi, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, bị Trắc đặt tên là Tạ Tốn, một nhân vật trong truyện Kim Dung, quê ở Quảng Ngãi, lớn lên trong vùng Việt Minh nên có ít nhiều kinh nghiêm với Việt Cộng. Một năm sau cũng bị đày ra Bắc. Không biết bây giờ ở đâu!

– Mười một là Phan Hải.

Phan Hải, quê làng Xuân Đài, Điện Bàn, Quảng Nam, là con Phan Mạch, cháu Phan Mỹ.

Hồi ấy, Phan Mỹ là “chủ nhiệm văn phòng thủ tướng” (Phạm Văn Đồng), còn bố anh ta làm “Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhứt”. Bác cả anh ấy là nhà văn Phan Khôi, ngoài ra còn có Phan Thao, Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam, bộ trưởng bộ nội vụ Việt Cộng); và theo anh ta, chú anh ta cũng là Phan Hiền, lúc ấy là Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Việt Cộng. Bố mẹ anh ta tập kết ra Bắc, để anh ta ở lại miền Nam với một ông bác. Ông nầy làm thuyền trưởng chiếc tàu chạy đường Saigon – Đà Nẵng và qua đời sớm.

Phan Hải lưu lạc ở Saigon, vừa đi làm vừa đi học, đậu tú tài 1, bị động viên đi sĩ quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, trung úy, biệt phái Tòa Đô Chánh, phụ trách kiểm soát ẩm thực cho tù Chí Hòa. Anh ta cố gắng “học tập tốt” để như bố mẹ anh ta hứa: “Ngày về, con sẽ là con của đảng”. Anh ta đã ở sẵn tại trại nầy, khi chúng tôi tới nơi thì biết anh ta làm Khối Trưởng.

Anh em chúng tôi thì thuộc Tổ 1, đội 1, Khối 1, trại L3-T3.

L3-T3 là một “đơn vị học tập” thuộc cấp “tiểu đoàn”.

Tiểu đoàn trưởng là Năm Định, đại úy Việt Cộng, người miền Nam. Năm Định thì cứ khăng khăng rằng: “Mấy anh học tập xong thì về.” Chính trị viên tiểu đoàn tên là Thảo, người Bắc, trung úy, khôn ngoan, kín đáo, thâm trầm và “độc”.

Người điều hành công việc thường nhật, coi như phụ tá của Thảo là Hồng Dư, trung úy, trẻ hơn Thảo, năng nỏ hơn, nhiệt tình hơn, chủ tọa cuộc họp hằng ngày của các khối trưởng, là người cấm chúng tôi không được gọi nhau bằng tù, chỉ là “cải tạo viên” mà thôi.

Toàn trại chia làm 6 khối. Từ khối 1 đến khối 5 là năm khối ở trong năm ngôi nhà dài trại gia binh cũ. Mỗi nhà gồm 10 căn dành cho 10 tổ. Hai tổ thành một đội. Năm đội thành một khối.

Khối thứ sáu, không ở trong gian nhà trại gia binh mà một ngôi nhà gỗ, tiền chế của nhà binh, nằm riêng ở cuối trại. Tôi chưa từng vào ngôi nhà nầy nên không biết cách sắp đặt ra làm sao. Ca sĩ Khuất Duy Trác là khối trưởng của khối 6 nầy.

Phi trường Trảng Lớn ở phía bên kia hàng rào của L3-T3.

Khi mới về trại nầy, chúng tôi được lệnh qua phi trường gở các tấm “ri” sắt (PSP), thứ để làm phi đạo, đem về kê cao lên, làm sập để ngủ. PSP có hai loại, loại có lỗ to, bằng miệng chén, dày 1 lớp, không làm chỗ nằm được. Loại chúng tôi gở về là loại không có lỗ, bằng nhôm, làm sập nằm khá êm.

Về trại nầy được mấy tuần thì chúng tôi được trại tổ chức học tập chính trị. Nghe được học tập chính trị, ai ai cũng vui, và hy vọng học tập chính trị xong thì sẽ được về, trở lại cuộc sống bình thường.

Bấy giờ, không rõ do đâu, một số anh em được gọi đi dựng hội trường để làm nơi học tập chính trị. Hội trường là khoảng trống giữa hai dãy nhà trại gia binh. Họ dựng vài, đóng đòn tay, lợp mái, và làm sân khấu để giảng viên đứng trên đó, còn “trại sinh” thì ngồi đối diện, dưới đất. Bốn phía hội trường có bắt loa, trên sân khấu, mỗi khi học tập có đặt micro cho giáo viên dùng.

Để ý, tôi thấy các loa nầy nhãn hiệu đều viết bằng chữ Tàu, có lẽ do Trung Cộng sản xuất và viện trợ.

Những người giảng bài học chính trị, gọi là giáo viên, phần đông còn trẻ, 20 tuổi hay lớn hơn chút ít, nghe nói mới học xong ở truờng Nguyễn Ái Quốc ra. Bọn họ có khoảng 3 hoặc 4 người, phụ trách một T. (Đơn vị), phần đông là người Bắc, vui vẻ. Riêng có một anh chàng, không lên lớp bao giờ, thường đi thu gom bài học và bản khai lý lịch. Anh chàng nầy khó đăm đăm, khó ưa.

Có một giảng viên, còn trẻ, có lẽ cũng “trường Nguyễn Ái Quốc” mới ra lò. Anh vừa giảng bài ở hội trường xong, chúng tôi họp “thảo luận tổ”, anh đến nghe, hỏi có ai thắc mắc gì không?

Phan Hải nói: “Tôi thấy “từ” (chữ Việt Cộng đấy!) nầy đúng ra là “chỉ tiêu”, không phải là “chi tiêu” như anh nói.

Anh ta trả lời: “Chỉ tiêu hay chi tiêu cũng giống nhau, không là vấn đề.”

Tối đó, Phạm Xuân Lý hỏi tôi: “Chỉ tiêu hay chi tiêu là hai tiếng khác nhau, sao bộ đội nói giống nhau?”

Tôi nói: “Họ không rành danh từ Hán-Việt nên hiểu sai.”

Lê Quang Dung, dân Nam bộ, nóng tánh, “phang” ngay một câu: “Không biết mẹ gì mà cũng làm thầy. Thầy cái con cặ…”

Bài học đầu tiên nhan đề là: “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta là kẻ thù của nhân dân ta.” Kế đó là những bài như “Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân toàn thế giới”, “Đế quốc Mỹ là con đĩa hai vòi”, “Đế quốc Mỹ giàu mà không mạnh”, “Không nên sợ Mỹ và phục Mỹ”, “Ngụy quân ngụy quyền là tay sai của Mỹ, có tội với nhân dân”. Quan trọng nhất là ai ai cũng phải “tự mình xác nhận có tội với nhân dân…”

Cọng chung là học 10 bài. Đề tài, nghe nói, đã được phổ biến trước kia trong vùng Việt Cộng, v.v… Học xong để mà về nên chẳng ai quan tâm, miễn sao khi bộ đội, cán bộ hỏi tới thì “hỏi đâu thuộc đó” thì thôi.

Một tối, lợi dụng lúc Phan Hải lên chơi nhà bộ đội chưa về, chúng tôi nằm chờ giấc ngủ, Phạm Quang Chiểu, bỗng “nổi máu anh hùng”, nói:

-“Bọn mình hèn quá! Họ nói gì mình cũng ngoan ngoản làm theo, không ai chống đối, lại còn “hoan hô cách mạng” nữa chứ.

Không ai nói gì. Có ai đó buông tiếng thở dài.

Một lúc sau, không biết đang suy nghĩ gì, Chung hỏi tôi:

-“Anh Hải biết chuyện Hàn Tín không?”

-“Dạy môn văn chương, lịch sử mà không biết chuyện Hàn Tín thì làm sao được. Học trò nhiều đứa thuộc “Hán Sở tranh hùng” hơn thầy đấy! Mấy đứa “học trò Huế” nhiều đứa giỏi lắm.” Tôi trả lời.

-“Nhưng có thằng Huế nào “lòn trôn giữa chợ” như Hàn Tín không?” Có ai đó lên tiếng hỏi.

-“Đời mà! Đời nhiều mặt. Các ông có nhớ chuyện Đặng Trần Thường, Ngô Thời Nhiệm không? Tự vì thằng Mẽo nó chạy làng nên mình có súng mà không có đạn. Giả tỉ như Tàu với Nga mà bỏ Việt Cộng thì đời cũng như Đặng Trần Thường nói vậy.” Tôi nói.

-“Nói sao?” Lê Quang Dung hỏi.

Tôi chưa kịp trả lời thì nghe Phạm quang Chiểu đọc:

“Ai công hầu, ai khanh tướng, giữa trần ai, ai dẽ biết ai!”

Chiểu đọc xong một lúc, tôi nói: “Mình bây giờ cũng giống như Ngô Thời Nhiệm vậy:

“Thế chiến quốc, thế xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế”. “Khôn chết, dại chết, biết sống”. Ở với Cộng Sản, phải biết để sống.”

-“Răng gọi là biết”. Chung hỏi.

-“Như Khổng tử nói vậy. Đời đục cả, ta trong làm sao được?” Tôi nói.

Nằm sát góc trong, Trắc hỏi tôi:

-“Anh Hải, tôi thích bài thơ hôm nghe anh đọc, bài thơ của Phạm Thái.”

Tôi liền đọc:

Năm bảy năm nay cứ loạn ly

                        Cảm thương thân thế lỡ qua thì

                        Ba mươi tuổi lẻ đà bao chốc

                        Năm sáu đời vua thật chóng ghê

                        Một tập thơ sầu ngâm cũng chán

                        Vài be rượu nhạt uống ra gì

                        Thôi về tiên phật cho xong quách

                        Đù ỏa trần gian sống mãi chi./

 

Nghe xong, Hiền nói: “Tuổi ông ta cũng bằng tuổi mình. “Ba mươi tuổi lẻ” cả.

Tôi nói:

-“Trong văn học ta, tui khoái ông thầy chùa nầy nhất. Ông thầy chùa Phổ Chiêu Thiền Sư mê gái. Trong văn học Tàu, tôi cũng khoái ông Lỗ Trí Thâm, ông thầy chùa ăn thịt chó.”

-“Khoái tầm bậy không! Bộ thèm thịt chó à?” Huỳnh Văn Khánh nói.

-“Đi tu chỉ là tránh mặt nhà Tây Sơn, còn mê gái, khi Trương Quỳnh Như tự tử rồi, ông viết bài điếu hay lắm.” Nói xong, tôi đọc liền:

 

Ta hăm hở chí trai hồ thỉ,

bởi đợi tình cho nấn ná nhân duyên

Mình long đong thân gái liễu bồ,

vì giận phận hóa ngang tàng tính mệnh.

Cho đến nổi hoa rơi lá rụng,

ngọc nát châu chìm,

chua xót cũng vì đâu,

não nuột cũng vì đâu.

Nay qua nắm cỏ xanh,

thương người phận bạc,

xụt xùi hai hàng tình lệ,

giải bày một bức khốc văn,

đốt xuống tuyền đài,

tỏ cùng nương tử.

Chung nói: “Tui khoái “Hồ Trường” hơn, anh Hải ơi!

-“Người đời cũng lạ! Nguyễn Bá Trác từng theo “Phong trào Đông Du”, sau lại bỏ về theo Tây. Ông có thuộc không?” tôi hỏi:

Chung đọc:

“Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường.

Hà tất tiêu dao bốn bể, lưu lạc tha phương

Trời Nam nghìn dặm thẳm

Non nước một màu sương

Chí chưa thành,

Danh chưa đạt

Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc

Trăm năm thân thế bóng tà dương

Vỗ gươm mà hát,

Nghiêng bầu mà hỏi

Trời đất mang mang ai người tri kỷ

Lại dây cùng ta cạn một hồ trường.

. . . . .

 

Bỗng có bóng Phan Hải về, Chung không đọc tiếp nữa. Ai nấy nằm im, chờ giấc ngủ.

 

&

Không ngờ học xong 10 bài rồi mà vẫn chưa về.

Vậy là bắt đầu có việc trốn trại.

Một tuần vài lần, khoảng sau nửa đêm lại nghe súng nổ từng tràng ngoài hàng rào. Sáng hôm sau thì nghe tin có người trốn trại, bị bắn chết, bị thương, v.v…

Cũng có khi trốn trại mà không nghe súng nổ. Ấy là trốn mà Việt Cộng không phát hiện được, thoát rồi.

Trại L3-T3, suốt thời gian đó không ai trốn trại nhưng những T chung quanh thì nhiều. Khi thì nghe người trốn ở T1, T2 hay T4, T5 gì đó.

Phan Hải thường lên nhà bộ đội ở, chơi với họ, chuyện trò hằng ngày. Vả họ cũng nể anh ta có cha chú làm lớn nên dễ dãi, vui vẻ với anh.

Có anh bộ đội hỏi Phan Hải: “Bố mẹ anh làm lớn như thế, anh đi cải tạo có buồn không?”

Phan Hải vô ra nhà bộ đội hằng ngày nên biết nhiều chuyện, về kể lại cho chúng tôi nghe, còn như không thì cũng mù tịt, chẳng biết chuyện gì.

Được mấy tháng, vì ăn uống thiếu thốn, rất nhiều người bị bệnh phù thủng, chân sưng phù lên, đi đứng khó khăn. Người ta bảo là thiếu Vitamin B-1. Lê Quang Dung cũng bị phù, cằn nhằn tối ngày.

Chẳng cần thuốc men gì, bấy giờ, thay vì phát gạo trắng, bộ đội phát gạo đỏ, ăn vào thì bệnh bớt nhiều. Hồi nầy, “gạo Trường Sơn” là thứ gạo mốc ở các kho của Việt Cộng trên đường Trường Sơn đã hết, nên chúng tôi được phát loại gạo bình thường, thường thấy bán ở Chợ Lớn trước đây. Tuy nhiên, chỉ tiêu 15kg một tháng nên ai cũng đói.

Đói thì tìm cách “cải thiện”. Trước là, như tục ngữ dạy: “Đói ăn rau, đau uống thuốc” nên tất cả đều “phát triển trồng rau”.

Khoảng trống giữa các dãy nhà trại gia binh và hàng rào phi trường, ngoại trừ một khu nhỏ là kho đạn cũ, kho đạn nầy được tù cải tạo sắp xếp lại, rào kỹ không cho ai ra vào, phần còn lại được dùng trồng rau. Mạnh ai cứ cuốc đào, lượm sỏi, bỏ phân, trồng rau muống và tưới.

Hàng ngày, bộ đội phát rau muống cho chúng tôi. Phần non để ăn, phần già, ngắt một khoảng có hai hoặc ba mắt, đem ra trồng. Nước tưới là đường cống bên hông nhà trại gia binh. Các hố cầu tự tiêu phía sau nhà gia binh, khi đầy lên thì trào ra ở hố nầy. Múc nước đó tưới rau tốt lắm. Rau lên mau xanh, cở một tuần hoặc 10 ngày là có rau non ăn được rồi.

Chưa thỏa mãn với thứ nước cống đó để tưới rau, Hoàng Hữu Chung, là người đầu tiên cạy nắp hầm cầu lên rồi múc phân từ trong hầm cầu đem ra tưới rau.

Ban đầu thì ai cũng la oai oải ghê quá, gớm quá, hôi quá! Nhưng được ít bữa, thấy rau của Hoàng Hữu Chung lên tốt quá, người ta lại bắt chước, làm theo.

Buổi trưa, chờ khi anh em ngủ, Hoàng Hữu Chung, hai tay xách hai thùng đạn lớn, loại đại liên 50, mở nắp hầm cầu, lấy một cái gáo dài, thọc xuống lỗ cầu, múc lên đổ vào thùng, xách ra ruộng rau.

Trần Phú Trắc, vốn tính hay đùa, chỉ Hoàng Hữu Chung, nói với mấy anh em ngồi chơi quanh đó:

– “Đó, mấy ông thấy không? Thi sĩ Trần Dạ Từ đó. Thi sĩ đang mở nắp hầm cầu múc cứt đi tưới rau đó. Cách mạng là đổi đời, thấy chưa?”

Nhiều người tưởng thật, gọi Chung là thi sĩ Trần Dạ Từ.

Biết chuyện, Chung cự nự Trắc: “Ông cứ hay xạo không? Tui là thi sĩ Trần Dạ Từ khi mô?” Trắc và chúng tôi cười ha hả. Từ đó, trong trại nhiều người xì xào về việc thi sĩ Trần Dạ Từ mở nắp hầm cầu, múc cứt bón rau.

Chung người Huế nhưng gốc ở nhà quê, làng An Ninh thượng, phía sau chùa Linh mụ, tánh tình chất phát thiệt thà, nói giọng Huế rặc nên thường là đề tài để Trắc “chọc quê”.

Có lần, ăn cơm xong, Trắc kể chuyện:

– “Có con nhỏ bà con với Hoàng Hữu Chung, một hôm hẹn với thằng bồ “Túi tui chờ anh ngoài rào.”

Tối đó, y hẹn, thằng bồ ra hàng rào chờ mãi chờ hoài mà chẳng thấy. Sáng hôm sau, anh ta trách cô gái sao hẹn ra ngoài hàng rào mà không ra. Cô gái cũng trách anh ta, cô ra ngoài rào chờ hoài, nhưng không thấy.”

Hai người, một nam, một Huế, hiểu chữ “rào” khác nhau: Người Nam hiểu rào là hàng rào. Người Huế hiểu rào là con sông. Một bên, ra ngoài hàng rào mà tìm, một bên, ra sông mà chờ nhau thì gặp nhau sao được?”

Từ cách làm của Hoàng Hữu Chung, nhiều người làm theo nên có nhiều đám rau, nhiều dàn bầu, dàn bí tốt lắm, rất sây quả.

Thỉnh thoảng trại có phát cà chua, anh em chúng tôi đem ăn sống. Do việc làm của Chung, bỗng nhiên giữa luống rau có nhiều cây cà chua mọc lên, anh em chúng tôi lại bứng cà chua ra trồng, lại tưới theo cách của Chung, cà chua trái nào trái đó thật bự.

Một hôm, lại cắt cà chua ăn sống, vài anh em chê dơ, không chịu ăn. Trắc lại đùa: “Mình ăn của mình, có gì mà dơ!” Có người lại đùa: “Ối! Cà chua thơm như “câu thơ thi xã.”(2)

Một hôm nào đó, tổ của tôi được lệnh đi khiêng củi. Xe tải chở củi vào, chúng tôi đem củi xuống sân và chia lại cho 6 khối. Khi ấy trời còn sáng, anh em chúng tôi thấy chỗ kẹt nối mấy tấm ván làm sàn xe có những hột đậu xanh nguyên. Phan Hải nói: “Lượm hột đậu xanh, đem về làm giống.” Vậy là hè nhau lượm cho hết, được khoảng một muỗng canh. Hơn một tháng sau là chúng tôi có vườn đậu xanh, trái to. Đậu xanh đem về, nấu chè, sau khi chừa một ít làm giống trồng đợt sau và đem cho vài tổ khác, họ xin.

Thông thường thì xe dân sự chở củi vào cho trại.

Thời gian sau thì không còn xe dân sự nữa mà xe Molotova của bộ đội.

Một hôm, anh bộ đội tài xế lùi xe vào đầu nhà để cho củi xuống. Một anh tù cải tạo đứng xem, thấy xe sắp đụng vách nhà, bèn hô to: “Tốp”. Dân Saigon đi xe Lam hay xe bus, khi muốn bảo tài xế dừng xe lại để xuống thì gọi “Tốp” có nghĩa là “stop”, theo tiếng Mỹ.

Anh chàng bộ đội, nghe “tốp” bèn nhấn ga chút nữa, xe đụng vào vách một cái rầm, nứt tường. Anh ta xuống xe, cằn nhằn anh tù cải tạo: “Xe sắp đụng vách, anh còn bảo “tốt”. Anh tù cải tạo thanh minh: “Tui nói “tốp” chớ có nói “tốt” đâu!”

Xem ra, cũng còn lâu mới có thể “Bắc nam sum họp một nhà.”

Bấy giờ ai nấy thèm thịt. Hôm “ba ngày nễ nớn” (lễ lớn là 18 tháng 9, ngày 2 tháng 9 và gì nữa, quên mất rồi…) trại có làm thịt heo chia cho chúng tôi. Tuy chúng tôi ăn chung nguyên tổ, không chia phần từng người nhưng thịt heo thì khác. Kho nấu xong rồi, chia cho anh em mỗi người được một miếng bằng ngón tay út. Miếng nào có xương thì to hơn tí chút.

Đang ăn, Phạm Quang Chiểu la lớn, đùa: “Báo cáo đồng chí! Con ruồi tha mất miếng thịt của tôi rồi.” Ai cũng cười.

Phan Hải cũng cằn nhằn: “Tui kiểm soát đồ ăn cho tù Chí Hòa. Hồi đó, đâu có cho ăn khổ như vầy!”

– “Họ được cung cấp gì?” Tôi hỏi.

– “Hằng ngày là cá tươi. Một tuần ba lần thịt heo, hai lần thịt bò.” Phan Hải trả lời. “Gặp khi cá ươn, đại diện tù nhân không nhận, nhà thầu phải cung cấp cá hộp.”

Dung nói: “Đ. mẹ, sướng còn hơn lính.”

– “Cán bộ “cách mạng” trong tù đôi khi còn chơi độc. Họ bỏ giẻ rách vào thùng canh rồi hô hoán nhà thầu làm ăn dơ, không ăn, để có cớ đấu tranh.” Phan Hải nói thêm.

– “Vậy là giỏi” Lý nói. “Mình thì cho gì ăn nấy. Ai nấy ngậm câm. Đấu tranh, “đánh trâu” gì đâu! Buồn thiệt.”

Nhà bộ đội ở bên kia hàng rào, ai bên đó có nuôi một con chó. Con chó thường qua bên chúng tôi kiếm ăn. Thấy vậy, Trắc nói: “Không biết bộ đội có no không, xem ra chó bộ đội cũng đói.”

Tôi cười, nói:

-“Chó bộ đội cũng đói, mình cũng đói.”

-“Anh Hải so sánh dzậy không có được. Mình là người mà!” Dung cự nự.

-“Ông học trò trường Tây, đâu có biết câu “Bỉ thử giai cẩu” là cái gì!”

Bất đồ, Chung lấy chiếc guốc gỗ của anh, ném con chó, đuổi đi. Chiếc guốc đụng mạnh vào con chó. Con chó kêu căng căng mấy tiếng, bỏ chạy mất.

Chung hốt hoảng nói: “Ui chà, úi chà, tui lỡ tay.”

Trắc đùa:

-“Con chó mà biết nói, về nó mét bộ đội ông Chung đánh nó là mệt lắm nghe!”

-“Ghét bộ đội rồi “chưởi chó mắng mèo chớ” gì!” Trần Hữu Bảo nói đùa.

-“Chưởi chó” còn nhẹ tội, đây là tội đánh chó bộ đội, tội nặng hơn!” Lý vừa cười vừa nói.

Chung vẫn thiệt thà:

-“Tui có chủ ý mô! Tui lỡ tay mà.”

Thấy thái độ của Chung, Phan Hải thương hại, nói:

-“Không can gì đâu! Chó của anh Ái đó, có gì tôi nói giùm cho.”

Hiền còn nói rán một câu:

-“Con chó nhỏ chút tẻo mà ông Chung đã giành ăn với bộ đội. Tội “phá hoại tài sản chủ nghĩa xã hội” là không nhỏ.”

Lại một hôm, Phạm Ngọc Hiền lui cui lấy các giải băng đạn, ngồi rút sợi. Hỏi, anh ta nói: “Làm lưới bắt chim ăn chơi.” Các sợi chỉ rút ra, dài chưa tới một sãi tay. Hiền nối lại, đan thành một tấm lưới lớn khoảng bằng một cái mền.

Bên hông dãy nhà T-3, bên kia là T-2, cách nhau bằng một hàng rào kẽm gai mới dựng, là một con đường xe hơi chạy được. Ngày ngày, dọc theo con đường nầy, chim én bay từng đám năm bảy con. Hiền bèn đóng cọc, cột lưới, có sợi giây kéo. Anh núp sau góc nhà, chờ chim én bay tới thì anh ta bất thình lình kéo lưới lên, cho chim én vướng vào lưới.

Hiền ngồi từ sáng đến trưa; vào ăn cơm trưa xong, lại tiếp tục ngồi canh nữa, giữa trời, khi im khi nắng, mặt mày đỏ lơ đỏ láo, suốt một ngày mà chẳng được con nào cả.

Chim én khôn lắm. Thấy anh ta kéo lưới lên, chim vụt lên cao bay mất. Sau vài lần, rút kinh nghiệm, chim én không bay dọc theo con đường đó nữa, trong khi Hiền vẫn kiên nhẫn ngồi chờ.

Tới giờ cơm chiều, anh em trong tổ đùa:

– “Bữa nay ngày rằm, ông bắt chim không được là phải rồi. Ai cho ông sát sinh?”

Có người lại nói:

– “Mai mười sáu, ông rán ngồi một ngày nữa đi, thế nào cũng có con chim nhào vô cho ông!”

Trắc lại đùa:

– “Đừng lo! Thế nào ngày mai cũng có con bay qua, gởi lại cho ông cái lông!”

– “Để đốt lò phải không?”

Người nói câu đó là vì nhớ câu chuyện đùa tôi mới kể cho anh em nghe, trước khi đi ngủ. (3)

Trước khi đi ngủ, trong bóng tối, vì lúc nầy máy đèn đã ngưng chạy, anh em nằm một dãy dài trên sập, thường yêu cầu tôi hát cho anh em nghe chơi. Từ khi bị cấm hát nhạc vàng thì kể chuyện, chuyện tiếu lâm, chuyện “xứ Huế của tui”, chuyện “cụ Ngô không cu” hay “Chuyện thủ hiến Phan Văn Giáo bắt con gái Đồng Khánh đem về chơi bời”, mà nhiều người biết; chuyện “Cậu Cẩn câu cá, cá cắn cậu, cậu cười …”, (4) chuyện “ngủ đò sông Hương” là chuyện ngủ với gái làng chơi.

Người Huế đa tình, gái Huế cũng lại rất đa tình, ai vướng vô gái cũng thì coi chừng, sẽ như Trần Hậu Chủ vậy, ưa nghe  “Khúc hát Hậu đình (5). “Thương nữ bất tri vong quốc hận”, v.v… Huế là xứ vua quan, có biết bao nhiêu chuyện để kể nghe hằng đêm, hết chuyện nầy tới chuyện khác, chuyện nọ xọ chuyện kia, giống như chuyện “Một ngàn lẻ một đêm” bên xứ Ba-Tư vậy.

Trại tôi phần đông là quân nhân biệt phái nên có rất nhiều bác sĩ. Theo họ thì việc ăn uống thiếu thốn làm cho chất kháng sinh trong cơ thể yếu đi, vì vậy, sau đợt bị phù thủng, anh em chúng tôi gặp nhiều thứ bệnh khác, rất buồn cười.

Bỗng có anh đau bệnh… lậu.

Ai cũng cười.

Trời ơi! Ở tù hơn nửa năm nay, có đi chơi bời hồi nào đâu mà mắc bệnh phong tình. Thì ra, anh ta hồi trước, khi chưa đi tù, có chơì bời đấy và mắc bệnh. Việc chữa trị hồi đó không tới nơi tới chốn, vi trùng tiềm ẩn, “Việt Cộng nằm vùng”, bây giờ sức đề kháng yếu đi thì vi trùng Gono nổi lên “Đồng khởi”.

Tôi kể lại lời một bác sĩ như vậy, anh em ai cũng cười, nhưng Phan Hải cảnh cáo tôi: “Anh làm như cán bộ cách mạng là vi trùng lậu.” Ai nấy lại cười thêm.

Tôi bị lưỡi cưa cứa vào mắt cá, chảy máu. Vậy mà bị sưng mũ, đi lại khó khăn, phải lấy bột peniciline trong viên thuốc con nhộng, xức vào. Cả tháng sau mới lành.

Hôm Trần Phú Trắc bị bệnh, cả chục bác sĩ tới thăm, và cho lời khuyên, không cho thuốc. Ai có thuốc mà cho. Bác sĩ thì đông, thuốc không có thì bác sĩ cũng bó tay mà thôi.

Bệnh thông thường nhứt là bệnh ghẻ lở. Có người ghẻ đầy mình, có người bị ghẻ ăn sâu vào da, gần tới xương.

Bỗng một hôm nửa đêm, nghe tiếng nổ lớn lắm. Bộ đội báo động, cầm súng đi rảo ngoài sân, ra lệnh chúng tôi ai nấy ở trong nhà, không được ra cửa. Sáng thì biết có một trung úy dược sĩ, tù cải tạo, bị ghẻ lở ăn gần đứt “của quí”, mà trước khi đi, anh có hẹn với người yêu “học tập” xong, sẽ về làm lễ cưới.

Bệnh hoạn như thế, anh buồn tình lén ra kho đạn cũ, lấy một trái lựu đạn, đem ra đầu hè nhà, mở chốt, tự tử. Nghe nói ruột gan banh hết.

Bộ đội sai lấy thùng đạn pháo binh, ghép thành ván, đóng cái hòm, gánh ra chôn ở bên cạnh phi đạo phi trường Trảng Lớn.

Tôi vốn sợ ma, nhưng hình như ma lại sợ tôi. Ma không dám hiện lên cho tôi thấy bao giờ.

Vậy rồi anh Phạm Ngọc Hiền nói rằng bên phía T-2, cách chúng tôi con đường nhỏ và một hàng rào kẽm gai, có con ma mặc áo trắng, đêm nào cũng hiện ra đứng dựa cột ở đầu hiên nhà. Khuya, Hiền thức dậy đi tiểu – Hiền gốc “nhà quê”, mắc bệnh “đái đường” nên anh ta không tiểu trong nhà cầu mà ra đứng tiểu ở góc nhà -, thấy ma hiện lên bên ấy.

Anh em chúng tôi tò mò để ý, cũng có người thấy có con ma mặc toàn áo trắng, đêm nào cũng hiện ra một chỗ ấy. Sau đó, Phan Hải hỏi thăm anh em cải tạo ở ngay gian nhà chỗ con ma hiện ra có thấy ma không?

Ma quỉ gì đâu!

Bên ấy có anh chàng mắc bệnh lao, đêm đêm ngủ không được, nằm trong phòng sợ phiền anh em nên ra đứng dựa cột hiên nhà.

Trời lạnh, anh ta không có mền, chỉ mang theo có cái “ra” màu trắng. Anh ta quấn ra vào mình cho bớt lạnh, làm cho nhiều người, trong đêm tối mờ mờ, lại có sương khuya, tưởng là có con ma mặc toàn đồ trắng hiện hình.

Vài tuần sau, ma không hiện hình nữa. “Con ma” ấy không chịu nỗi vi trùng Kock, ra nằm ở nghĩa trang tù cải tạo bên cạnh phi đạo rồi.

Cũng bên T-2, có ông giáo sư Đinh Tiến Lãng (?), giáo sư toán nổi tiếng ở Saigon hồi trước 1975. Ông ta là trung úy biệt phái, nay đi cải tạo. Một hôm ông ta bỗng nổi cơn điên, la toáng lên rằng “Tao là bạn của Văn Tiến Dũng.” Thế là bộ đội xuống, bắt trói đem đi.

Tưởng vậy là ông ta xong đời. Ai ngờ mấy hôm sau, hết bệnh lại được tha về trại, tiếp tục “học tập”. Hình như ông ta mới qua đời năm ngoái hay năm kia gì đây, ở Nam Cali.

Tội nghiệp nhất là trường hợp của Hoan, dược sĩ, cũng lên cơn điên.

Hiền nói với tôi: “Điên mà khôn thấy mẹ!” Hỏi ra mới biết, hễ lên cơn điên thì Hoan lôi Hồ Chí Minh ra mà chưởi, nào là “thằng tay sai cho Nga Tàu”, “nào là tên Cộng Sản Quốc Tế.” Hồi ấy, Hồ Chí Minh chưa bị lật tẩy như bây giờ nên Hoan cũng như mọi người, không biết gì nhiều về tội lỗi của Hồ Chí Minh mà chưởi cho đã.

Chưởi lãnh tụ, đối với Việt Cộng là tội to lắm. Tôi kể cho anh em nghe chuyện về một chữ Người viết hoa mà Trần Dần đi tù (6).

Hoan đi cải tạo, đã là tù, nay bị đưa vào conex. Conex để giữa trời, nắng và nóng ghê gớm.

Chiều lại, bộ đội đến mở cửa conex, cho anh ta chén cơm muối và một chai nước lạnh, ngày một lần.

Một hôm, chờ giờ bộ đội mở cửa, Phạm Ngọc Hiền dẫn tôi giả bộ đi dạo gần conex, coi Hoan ra làm sao! Hiền nói: “Tội ghê anh ơi! Cả xương là xương.”

Vậy mà Hoan vẫn không ngớt chưởi Hồ Chí Minh. Một hôm, tên bộ đội đem cơm cho Hoan, thấy anh ta chưởi “bác” Hồ của nó, nó bèn nổ một phát AK. Hoan chết ngay tại chỗ.

Chiều hôm đó, đang ăn cơm, Phan Hải nói tới chuyện Hoan bị bắn chết, cho biết rằng bộ đội đã bắt tên vệ binh bắn chết Hoan bỏ lên xe và đưa đi rồi, có lẽ y sẽ bị đưa ra tòa. Cách nói của Phan Hải, có lẽ chỉ là cách bào chữa cho bộ đội, do họ mớm cho. Chúng tôi không tin.

Chờ khi Phan Hải ăn xong và mặc áo lên khu bộ đội ở, chúng tôi lại bàn về việc ấy. Ý kiến của Trắc có lẽ sâu sắc nhứt. Anh ấy cho rằng bộ đội phải đưa tên vệ binh đi sớm để có thể triệt tiêu một cái cớ mà anh em tù chúng tôi có thể vin vào đó để nổi loạn. Họ sợ và ngăn ngừa như thế, còn như việc chúng tôi có nổi loạn hay không, thì xem ra cũng khó. Thời gian đầu, sức phản kháng của những người bại trận chưa cao.

Cũng một hôm, Hiền dẫn tôi ra bếp nấu T-2, sát hàng rào, phía tôi nhìn sang khá rõ. Bây giờ cơm chia xong rồi, bếp đã vắng, chỉ còn lại một người, hơi lớn tuổi.

Ông ta lấy cái muỗng sắt, cạo từng hột cơm dính trong thành chảo, bỏ vào cái chén cầm ở tay kia. Ông ta cạo một buổi như vậy, cọng lại, giỏi lắm cũng hơn muỗng canh. Vậy mà ngày nào ông ta cũng xin được cạo, rửa chảo, để kiếm thêm chút cơm.

Hiền nói với tôi: “Anh biết ai không? Biết ai không?”

Tôi lắc đầu.

Hiền tỏ vẻ chán nản: “Cũng không biết nữa? Giáo sư Lâm Thanh Liêm đó, ông nầy dạy đại học. Vậy mà anh cũng không biết.”

Thật ra, tên ông thì tôi biết. Tôi biết luôn cả hai vợ chồng ông ta nữa. Sách vạn vật của hai ông bà in ra, đề tên tác giả là “Ông bà giáo sư LâmThanh Liêm”. Ở bên Tây về, ông ta bị động viên, mang loon trung úy thì biệt phái về dạy đại học trở lại, nay đi ở tù.

Việt Cộng phí phạm nhiều cái. Trại Trảng Lớn nầy trước kia là căn cứ Mỹ, sau giao lại cho Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Vì là căn cứ cũ của Mỹ nên có nhiều cột đèn bằng loại thông ngâm dầu. Mỗi cây dài hơn chục thước. Bộ đội biểu cắt ra, chẻ làm củi nấu cơm.

Thứ cột đèn nầy là “tiền không”. Vậy mà đem làm củi. Uổng thật!

Thỉnh thoảng, ông trung úy Cộng sản Trần Đức Ước, phụ trách khối 1, khối của tôi, xuống kiểm tra tư trang cá nhân. Huỳnh Văn Khánh, khi đi tù cải tạo, đem theo cuốn “L’art de conjuguer”.

Thấy cuốn sách, anh trung úy Dziệt Cộng nói lớn: “Gì mà sách tiếng Anh không vậy nhỉ?”

Biết ông ta nói lộn, chúng tôi làm thinh, cười ông ta dốt thì cũng tội. Cái chế độ đó đào tạo ra những con người dốt như thế, có phải lỗi ở anh ta đâu!

Có lần anh ta lại nói: “Các anh chỉ được học tiếng Anh, không được học tiếng Mỹ. Nhớ không!” Vài anh em chúng tôi cũng trả lời “nhớ” cho xong chuyện. Hơi đâu mà giải thích. Lỡ mấy chả quê thì mình cũng phiền.

Trần Đức Ước lại hay ưa kể chuyện cho chúng tôi nghe. Có lần đi Saigon về, Ước nói: “Ối giời! Thành phố “bác” xao mà “ló” nhớn thế. Nhà “nầu” cao “nắm”, nhìn mỏi cả cổ.”

Tôi hỏi: “Tối lại anh ngủ ở đâu?” Ước trả lời: “Tôi có ngủ đâu. Tối tôi ghé “nại” trạm dân phòng, ngủ chung với mấy anh ở đó. Họ tốt “nắm.” Tôi cười, nghĩ thầm, dân Nam Bộ tốt là bởi thấy anh không có chỗ ngủ; còn như anh hách mặt lên, cà chớn với họ, chưa hẳn họ tốt với anh. Dân miền Nam, thường phù suy không phù thịnh.

Đi Saigon về, Ước kể chuyện đi qua sân Cộng Hòa, muốn vào xem mà không vào được, cửa khóa.

Rồi Ước kể: “Một “nần” ta đấu hữu nghị với ông “Niên” Xô. Ta được quả phạt đền. Đội bóng ta “niền” gọi điện hỏi “bác”, “lên” đá như thế “lào”. Bác bảo: “Đá thế “lào” ta vẫn thắng mà không “nàm” mất “nòng” ông “Niên” Xô.”  Thế “nà” ta đá một phát, quả bóng “lứt” “nàm” đôi, một “lửa” vào khung thành, một “lửa” ra ngoài.”

Nghe chuyện, tối lại, nằm chờ giấc ngủ, anh em hỏi nhau đá trái bóng nứt làm hai là đá làm sao?

Tôi cười: “Đá như thơ Hồ Xuân Hương: “Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom.”

Có anh cười, trách tôi: “Đang nằm nhớ vợ mà nghe cha Hải nói gì không?” Tôi cười, giải thích, nghiêm trang hơn: “Anh chàng nầy từ một miền đồng chua nước mặn nào đó, đi bộ đội, vào quân trường rồi thoát được cảnh “Xương Trắng Trường Sơn” (tên một tác phẩm của Xuân Vũ) mà về đây. Có bao giờ được xem đá bóng đâu mà biết nó ra như thế nào! Chẳng qua, nghe người nầy kể qua, người kia kể lại, tam sao thất bổn, mới có chuyện đá một phát trái banh nứt làm hai.”

Quả thật, Uớc ưa kể chuyện mà anh ta không biết gì thật. Lại một hôm, xuống nói chuyện với chúng tôi, anh ta lại kể chuyện “Đồng chí Phạm Tuân cho máy bay đậu trên mây, chờ B-52 tới thì nhào xuống đánh, Mỹ bị đánh bất ngờ, B-52 “rụng như sung.”

Cũng chưa hết đâu, lại một hôm, xuống chơi, Ước kể: “Đồng chí trung tướng Đồng Văn Cống “nái” máy bay về thăm quê ở Bến Tre. Địch biết được, bèn đem một tiểu đoàn vây bắt. Đồng chí Đồng Văn Cống “niền” chạy ra ruộng, máy bay đang đổ ngoài ấy, “nái” máy bay đi mất. Mỹ cho hai chiếc “con ma” đuổi theo. Bị đuổi riết quá, đồng chí Đồng Văn Cống “nặn” xuống biển, ra tới Hải Phòng, đồng chí Đồng Văn Cống “nại” cho máy bay “lổi” “nên”. Mỹ không “nàm” gì được. Các anh biết không? Vậy mà “bác” biết đấy. “Bác” gọi đồng chí Đồng Văn Cống vào, bảo rằng đi chơi thì được, nhưng đừng khinh địch quá!”

Trên là những chuyện điển hình của Ước kể, không nhớ cũng phải nhớ. Nghe “chuyện Phong thần thời Dziệt Cộng” cũng khó quên!

Nghe chuyện Đồng Văn Cống, có lần tôi đùa: “Đã đồng lại còn cống. Hai thứ nầy đâu có ở chung với nhau được. Có lẽ bố mẹ ông nầy vừa muốn ở tỉnh, vừa muốn ở quê. Nhà quê thì có chuột đồng, lên thành phố thì có chuột cống.”

Lại nói chuyện hát hò. Hồi mới tới trại nầy, thuộc vài bài bên trại cũ, tối tối trước khi “sinh hoạt”, chúng tôi hát cho lên “khí thế”, hết “Bão nổi lên rồi”, “Tiến về Saigon” thì tới “Bác cùng chúng cháu hành quân.”

Mấy đội ở trại T-2, bên kia hàng rào, nghe hát, bực mình, nói với chúng tôi: “Mấy ông hát nâng bi!” Thế là chúng tôi ngậm họng.

Tuy nhiên, được ít lâu, sau khi bắt đầu học tập chính trị, cả trại phải hát ở hội trường, trước khi buổi sinh hoạt bắt đầu.

Mỗi khối, một vài anh em được cử đi tập hát, về tập lại cho anh em. Mỗi người phải chép tay lời bài hát.

Tôi lại thấy vài bài hát cũ được đem ra hát lại như bài “Diệt Phát Xít” của Văn Cao. Bài nầy tôi biết hát hồi mới “Cách mạng tháng Tám”, cách đã 30 năm. Tôi quên lời đã nhiều.

Vậy mà rồi tôi được chép lại bài hát nầy đầy đủ. Không biết “ai” mà nhớ hay vậy! Trắc cười nói với tôi: “Trong bài hát có chó có mèo mà hát vẫn hay!” Suy nghĩ một lát, tôi mới nhớ trong bài “Diệt Phát Xít” có câu “Diệt bầy chó đê hèn của chúng.”

Có hôm toàn thể khối tôi tập một bài hát mới. Nhan đề bài hát là “Nguồn Tin Vui”. Người tập hát cho chúng tôi là Ân, cựu trung úy Cảnh sát, không nhớ họ.

Ân thuộc tổ 4, đội 2. Bài nầy chúng tôi đã chép lời trước, có nghe hát qua. Vốn hay đùa nên trong bài hát có câu: “Cuộc đời sang xuân từ đây” thì chúng tôi hát là “Cuộc đời gian lao từ đây.” Hát riết rồi quen miệng nên khi đứng trước khối, tập cho toàn thể anh em, Ân cứ câu “Cuộc đời gian lao từ đây” mà hát ông ổng, khiến ai nghe cũng cười.

Phan Hải thấy thế bèn tới cạnh Ân nói: “Anh tập cho anh em hát đàng hoàng. Hát vậy không được”. Khi đó Ân mới giật mình, lại còn sợ Phan Hải đi báo cáo với bộ đội thì nguy. May mắn! Phan Hải nhắc chừng vậy thôi. Ông “Hoảng Nôm hay cãi” nầy vốn không có tính xấu đi báo cáo hay làm ăngten.

Tập xong, chúng tôi mới biết bài hát ấy do ông Khuất Duy Trác mới sáng tác ra, tập cho anh em chúng tôi.

Trước 1975, mỗi tối thứ hai, vào lúc nửa đêm, tôi thường nghe Duy Trác hát trong chương trình Phạm Duy. Nay mới biết thêm ông họ Khuất, không biết có bà con chi với ông Khuất Nguyên bên Tàu không!

Một năm sau, tôi có nghe bài “Nguồn Tin Vui” được hòa tấu trên đài TV Saigon. Nguyên lời ca bài hát như sau:

Nguồn tin vui lan tràn đó đây,

Cùng bao chiến công bay về rộn ràng

Từ nông thôn vượt lên núi cao,

Cùng chung tiếng ca nhịp nhàng.

Lửa đốt cháy giữa lòng thành phố

Diệt quân Mỹ cùng quân Thiệu Kỳ

Đồng lúa mới hát mừng giải phóng

Chào đoàn quân bước đi!

Tay súng tay gươm diệt quân thù,

Lòng ta, chung một lời nguyền.

Cuộc đời sang xuân từ đây

Tiếng ca vui ngày ngày./

hoànglonghải

(1)-Cuộc đời Lê Quang Dung cũng ba chìm bảy nổi. Anh mồ côi cha từ nhỏ, mẹ nuôi cho ăn học. Sau khi đậu tú tài kỹ thuật ở Saigon, anh xin làm việc ở nhà máy Xi măng Kiên Lương, Hà Tiên. Tới tuổi bị động viên, anh xin làm tài xế lái xáng vét kinh (to như chiếc xà lan, có máy xúc bùn dưới lòng kinh, thổi bùn lên bờ). Vì chủ xáng là tư nhân, bà con nên nhận anh làm công một thời gian. Công việc thì cực nhọc nhưng vì “bất hợp lệ tình trạng quân dịch” nên thường bị chủ chèn ép, bớt lương. Buồn tình, anh xin gia nhập Cảnh sát ở Pleiku, làm cảnh sát viên, đứng gác cổng, trong khi những người có bằng tú tài như anh thì được ngạch biên tập viên. Sau mấy năm, anh nhờ người quen chạy chọt, được chuyển từ ngạch phó thẩm sát viên lên biên tập viên, sau đó được mang lon đại úy Cảnh sát. Gần tới 30 tháng Tư 1975, anh được lập hồ sơ thăng thiếu tá. Về phép, anh nói với hàng xóm anh đã lên thiếu tá. Sau khi Việt Cộng chiếm Saigon, gọi sĩ quan cấp tá đi học tập trước, anh vẫn ở nhà vì ngày lên loon của anh là 1 tháng 6 năm 1975, nhưng tới tháng Tư thì đã “đứt phim” (Tiếng chúng tôi thường gọi đùa, coi đời như một cuốn phim ciné). Đám “cách mạng 30” tố cáo anh “trốn học tập” nên anh bị bắt đưa ra phường. Ở đó, anh đưa giấy tờ chứng minh anh là đại úy, nhưng cũng không được “cách mạng” tha cho về, bị đưa vào trường Taberd, giam ở đó. Tại Taberd, anh gặp bác sĩ Cảnh cùng vài người khác. Bác sĩ Cảnh, quân đội biệt phái. Bên phía quân đội, ông chỉ tới “loon” đại úy, phía dân sự, ông chỉ là “bác sĩ giải phẩu” bệnh viện Bình Dân chứ có chức chưởng gì cao để đi “học tập” theo các ông quan to súng dài, nên Việt Cộng cho ở lại, chờ đi “học tập” khóa sau với sĩ quan cấp úy.

Dung kể: “Ông nầy vui tính lắm. Một hôm, ngồi chơi, ông hỏi đố:

– “Khi mình đang ngồi với hai cô bồ, cô nào cũng đòi mình phải trả lời dứt khoát phải cưới thì mình nói làm sao cho cả hai cô yên lòng mà về?”

Không ai trả lời được. Ông ta bày mưu:

– “Mình phải trả lời với một cô rằng “Em yên tâm, em về đi. Thế nào anh cũng cưới em.” Tuy nhiên, khi nói câu đó, dưới gầm bàn, mình phải đạp nhẹ vào chân cô kia, để cho cô kia cũng yên lòng rằng mình chỉ “xạo” cho xong chyện mà thôi.

Ai có mẹo nào hay hơn, xin chỉ đường cho đám hậu sinh.

(2)-“Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An” là câu thơ của Cao Bá Quát. Con thuyền Nghệ An là thuyền chở phân người bón cây, bón ruộng.

(3)-Xưa, có ông già sính thơ. Ông có ba cô gái, gả cho ba chàng rể. Chàng thứ nhứt, chàng thứ hai đều hay chữ. Riêng có chàng thứ ba chỉ được cái mả đẹp trai mà thôi, chữ nghĩa không ra gì. Một hôm, ông ra đề cho ba chàng rể thử tài làm thơ.

Đề bài là ông già cởi ngựa chạy nhanh.

Đề ra xong, chàng thứ nhứt đọc:

Mặt nước thả cây kim

Cha tôi cởi ngựa chạy như chim

Chạy đi chạy lại,

Cái kim chưa chìm.

Chàng rể thứ hai không chịu thua, bèn đọc ngay:

Ngọn lửa thả cái lông

Cha tôi cởi ngựa chạy như dông

Chạy đi chạy lại,

Cái lông chưa hồng.

Chàng thứ ba vì dốt thơ, nghĩ mãi không ra câu nào. Mẹ vợ thương tình, vả bà cũng khoái chàng rể đẹp trai, bèn vội vàng xuống khỏi sập, bước tới, hỏi con: “Được chưa con! Được chưa con?” Trong khi vội vã, bà vô tình để xì ra tiếng bụp. Nghe cái “âm thanh” đó, chàng rể thứ ba nói: “Xong rồi mẹ!” Nói rồi, anh ta đọc thơ:

Mẹ tôi xán cái địt,

Cha tôi cởi ngựa chạy như hít!

Chạy đi chạy lại,

Đít mẹ chưa khít!

(4)-Xem bài “Nói chuyện Ngàn Năm”, cùng tác giả, trong “Viết Về Huế”, tập 1, Văn Mới xuất bản.

(5)-“Hậu Đình Hoa” (Hoa ở sân sau) là một tập thơ được phổ thành nhạc cho cung nữ, phi tần của Trần Hậu Chủ ca.

Trần Hậu Chủ tên Trần Thúc Bảo, là một ông vua tài tử phong lưu, lúc nào cũng có hàng ngàn mỹ nhân, trong đó có hai tuyệt sắc giai nhân là Trương Lệ Hoa và Khổng Quý Tần được vua sủng ái nhất.

Trần Hậu Chủ cho dựng trước điện Quang Chiếu ba tòa lầu lớn, dùng toàn bằng gỗ trầm hương. Cửa lớn, nhỏ đều dát toàn ngọc ngà, rèm châu, trướng gấm lộng lẫy. Ba lầu ấy đặt tên là Lâm Xuân, Kết Ỷ và Vọng Xuân.

Đêm đêm, Trần Hậu chủ bày yến tiệc, họp các mỹ nhân uống rượu tại lầu Lâm Xuân cùng với các học sĩ ngâm thơ xướng họa. Một khi có những bài thơ hay, nhà vua cho phổ vào đàn để cung nữ hát xướng suốt đêm, nên gọi là Trường Dạ Ẩm.

Những bài thơ, những khúc nhạc ấy được chép thành 3 tập là: Nghinh Xuân, Ngọc Thu và Hậu Đình Hoa. Riêng tập Hậu Đình Hoa, sưu tập những bài bay bướm, bóng bẩy, dâm đãng. Chính Trần Hậu Chủ cũng làm một khúc hát Hậu Đình Hoa:

Nguyên tác là:

Lệ vũ phương lâm đối cao các

Trân trang điểm chất bản khuynh thành,

Ánh hộ ngưng kiều sa bất tiến,

Xuất duy hàm thái tiếu tương nghinh.

Yêu cơ kiểm tự hoa hàm lệ,

Ngọc thu lưu quang chiếu Hậu Đình.

dịch nghĩa:

Bóng rợp hương thơm chốn lâu các,

Nghiêng thành vẻ đẹp với mầu tươi.

Ngoài cửa dịu dàng khoan dạo bước

Trước màn chào đón mỉm môi cười,

Má hồng tựa đóa hoa đầy móc

Cây ngọc sân sau chiến sáng ngời

(Bản dịch của Phan Thế Roanh)

Trần Hậu Chủ bỏ cả việc triều chính, say sưa bên cạnh Trương Lệ Hoa, Khổng Quý Tần và các mỹ nữ.

Vua Tùy Văn Đế (589-617) nhân dịp nhà Hậu Trần suy vi, sai Lý Uyên và Dương Tố đem quân sang đánh. Giữa lúc ấy, Trần Hậu Chủ còn đương say rượu trên lầu Kết Ỷ. Quân Tùy đánh đột nhập thành. Quân Trần chạy tán loạn. Có người phải lấy nước đổ vào mặt Trần Hậu Chủ cho vua tỉnh dậy và xin vua ra hàng để cứu quân lính khỏi chết.

Hậu Chủ nói:

– “Sau lầu, trẫm có đào sẵn giếng sâu.”

Nói rồi, Trần Hậu Chủ dắt Trương Lệ Hoa, Khổng Quý Tần và độ mươi mỹ nhân khác đến giếng, ôm nhau nhảy xuống.

Nhà Hậu Trần bị diệt vong, người ta cho rằng sở dĩ nước mất cũng bởi khúc hát “Hậu Đình Hoa” ấy.

Đỗ Mục, một thi hào nổi tiếng đời nhà Đường (618-907), nhân một đêm ghé thuyền trên bến Tần Hoài, gần một quán rượu. Đêm đã khuya, hơi sương mù như khói tỏa trên sông. Bấy giờ trong quán, khách còn đang say sưa ăn uống, bên cạnh những ả buôn son bán phấn hát xướng để mua vui cho khách. Lắng nghe giọng hát réo rắt bên kia sông đưa sang, Đỗ Mục làm bài thơ:

Khói bay, nước lạnh, khói trăng pha,

Thuyền đậu sông Tần cạnh Tửu gia.

Hận nước gái buôn không biết rõ,

Cách sông còn hát “Hậu Đình Hoa”.

(Bản dịch của Quốc Ấn)

Nguyên văn:

Yên lung hàn thủy, nguyệt lung sa,
Dạ bạc Tần hoài cận tửu gia.
Thương nữ bất tri vong quốc hận,
    Cách giang do xướng “Hậu Đình Hoa”.

 

Trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều cũng có câu:

Vườn Tây Uyển khúc trùng thanh dạ,

Gác Lâm Xuân điệu ngã Đình Hoa.

Thừa ân một giấc canh tà,

Tờ mờ nét ngọc, lặp lòe vẻ son.

(6)-“Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người

Người vẫn kinh hoàng trước tương lai.”

(Nhất Định Thắng – Trần Dần)

Theo Hoàng Văn Chì, trong “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc”, Việt Cộng kết tội Trần Dần vì chữ Người (Viết hoa) là muốn ám chỉ Hồ Chí Minh.

https://vantuyen.net/2015/01/25/hoanglonghai-vet-nam-bai-2-nguon-tin-vui/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s