Một Cõi Đi Về…

on

hoànglonghải

1

Thiếu tiểu ly gia…

(Hạ Tri Chương)

Đi lần nầy, cũng xe Molotova, nhưng không bít bùng như lần trước, chuyến đi từ Taberd Saigon lên Trảng Lớn, hồi mới tập trung “đóng tiền đi ở tù”. Tuy nhiên, lần nầy cũng có một chú bộ đội cầm AKA ngồi canh ở cuối xe.

Xe chưa chạy, anh ta đã xổ ra một tràng giọng Nghệ, xứ của “bác” anh ta. Chẳng biết anh ta nói gì, vì thiếu “thông dịch viên.”

Lần chuyển trại nầy té ra về Long Giao.

Về tới đó khoảng sau nửa đêm.

Trời mưa phùn.

Đất đỏ chèm nhẹp.

Tối thui, tối như mực, lò mò tập trung cho bộ đội điểm danh, xong vô một cái nhà dài, trại lính Úc cũ. Nền nhà dơ vô cùng, không nằm ngủ được. Tôi mò tìm được một nửa tấm ri sắt, ai đã kê cao khỏi mặt đất, nằm co lại thì cũng vừa đủ, ngủ một giấc ngon lành, có lẽ vì mệt.

Sáng, khi thức dậy, trời đã tạnh mưa. Anh em léo nhéo kéo nhau đi tìm nước. Bên cạnh cái sân lớn có một cái giếng.

Trời! Thấy cái giếng mà lạnh mình!

Miệng giếng rộng hơn nửa cái sân bóng chuyền. Nhìn xuống dưới thì sâu thăm thẳm, mịt mù, không khác gì đường xuống âm ti. Không dám vói nhìn xa vì miệng giếng không xây thành, rớt xuống giếng dễ như chơi.

Chẳng có máy bơm, chẳng có máy quay tay lấy nước.

Anh em đi tìm giây, nối lại, làm gầu, v.v… Một cái gầu mà những mấy chục người chờ nhau.

Có người vội vàng đi tìm bao cát, tước sợi, xe giây. Ai bảo “sĩ quan ngụy” chỉ biết hưởng thụ, bóc lột?!

“Mưu sinh thoát hiểm” là nét đặc sắc trong đời lính cũng như trong đời tù. Họ hay lắm!

Tôi thì chịu, ngồi nhìn, không than oán, không rên rỉ, dững dưng.

Tôi bỗng nhớ một câu nói về người quân tử, tôi từng dạy học trò: “Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu nhân, cư dị dĩ sĩ mệnh.”

 

“Dĩ sĩ mệnh” đến thiệt! Một chốc, Phạm Ngọc Hiền, người được Trần Phú Trắc đặt cho cái tên là Tạ Tốn, dân Quảng Ngãi, ở chung tổ với tôi cả năm nay, cầm tới cho tôi một “gô” nước, bảo tôi đánh , rửa mặt rồi đi uống càphê. Anh ta đang nấu nước sôi.

Tôi cảm động về hành động nầy của Tạ Tốn. Trong cuộc sống bình thường thì không thấy chi. Khi khó khăn mới biết nhau, biết thương yêu, giúp đỡ nhau.

Khoảng mười giờ, bộ đội xuống kêu có lệnh tập trung. Anh em, khoảng vài ba trăm người mới tới, tập trung ở một căn nhà hình chữ T khá lớn. Nhà tiền chế kiểu quân đội, đã hư hỏng, chỉ còn mái, không có vách. Bỗng gió ào ào cùng mưa tới. Căn nhà rung lên rồi kêu răng rắc.

Ai nấy bỏ chạy ra khỏi nhà vì sợ nhà sập.

Tôi cũng phóng ra giữa sân khá nhanh vì tôi còn đứng ở bên hông nhà, chưa vào sâu bên trong.

Rồi căn nhà đổ ập xuống, mái nằm sát đất.

Cả chục người không chạy kịp, bị kẹt trong đó. Một chốc, tôi thấy Đào Sơn Bá vạch mái tôn chui ra.

Thấy tôi, Bá cười:

– “May tui lọt vô giữa hai cái vài nên không can chi.”

Chúng tôi nghe thấy tiếng la, tiếng gọi nhau. Một người nào đó, bị cái vài nhà sập xuống, đè bể ngực, chết ngay tại chỗ. Bộ đội ra lệnh chúng tôi khiêng mái nhà cho hỏng lên rồi lôi xác chết ra, đem đi chôn, không có hòm, lấy tấm nylon mà bó lại. Thế là xong.

Đời tù, “Một cõi đi về” như hơi gió thoảng.

Phạm Ngọc Hiền nói với tôi:

– “Tại sao chôn như vậy. “Cách mạng” không thấy tội nghiệp cho người ta à?”

– “Buồn cười không!” Tôi nói. “Ông nhớ giùm tui, nói “tội nghiệp” là nói tới nhân quả, là nói tới cái nghiệp của nhà Phật. Khi nói tội nghiệp là nói tới từ bi, bác ái của Chúa, là chữ nhân của Khổng. Cả thế giới nầy có ai cho rằng chế độ Cộng Sản là nhân đạo? Ngay cả “Mác” cũng không bàn tới nhân đạo, nhân đạo chung chung, theo quan điểm của loài người.

-“CHỉ có hận thù!” Hiền nói.

-“Nói tới Cộng Sản là phải nói tới hận thù, số một là “hận thù giai cấp”. Không có hận thù không có Cộng Sản. Những người “xương trắng Trường sơn” thì ai chôn? Gian khổ, nguy hiểm và nhất là hận thù làm cho lòng người ta trơ ra. Có chỗ mà chôn là còn may.” Tôi góp ý với Hiền.

Rồi tôi nghĩ tới một câu Kiều “Vùi nông một nắm mặc dù cỏ hoa”. Xưa cũng vậy mà nay cũng vậy! Nhân loại ngày nay tiến bộ nhiều mặt nhưng lòng người thì hình như chai cứng hơn.

Hiền nói:

-“Họ giáo dục như thế anh à! Tui lớn lên ở Quảng Ngãi, trước 1954 là vùng Việt Minh. Bọn con nít như chúng tôi được họp thành đoàn thể, dạy hận thù người nầy, người kia, hận thù thằng Tây, thằng Việt gian. Ai không ở trong hàng ngũ họ là Việt Gian. Ai đứng ngoài, ai không theo là Việt Gian, bị diệt trừ.”

-“Anh không bị ảnh hưởng?” Tôi hỏi.

-“Có chớ anh!” Hiền trả lời. “Nhờ năm 1954, tiếp thu, nhà tôi ở ngay ngoại ô thị xã, má tui gắng cho tui đi học. Ở cái nhà trường mới, người ta không dạy hận thù.”

-“Anh học tới đại học?” Tôi hỏi.

-“Làm gì có. Tui mồ côi cha sớm. Tui học xong tiểu học, rồi học làm thợ may. Tui ưa học quá! Buổi tối học thêm lớp riêng của mấy ông thầy dạy ở Trần Quốc Tuấn. Tui đậu trung học. Hứng chí, bỏ may, đi học tiếp.”

-“Ai nuôi ông?” Tôi lại hỏi.

-“Tui làm précepteur, “giáo tại gia” tới khi đậu tú tài. Tới đó cũng là cái mốc của tuổi lính.”

-“Như vậy thì anh “ảnh hưởng quốc gia”. Những đứa khác thì sao?” tôi hỏi.

-“Dễ thôi! Đứa nào vô rừng thì “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.” Hiền trả lời.

-“Bây giờ gặp lại không biết sao?” Tôi thắc mắc.

-“Tùy đứa anh à! Hy vọng có đứa còn chút lương tâm, vẫn coi mình là bạn, phần đông chắc coi mình như kẻ thù.”

-“Quyền lợi cả ông ạ! Thiên hạ nầy một chữ lợi là trên hết. Gặp ông, nó giúp đỡ ông thì nó được cái gì. Lơ ông đi thì nó còn giữ được cái chỗ ngồi.” Tôi nói.

-“Tui nghĩ rồi anh à! “học tập cải tạo” xong rồi, tui tìm cách ở lại trong Nam nầy. Tui bỏ xứ đi luôn.” Hiền nói.

-“Trước 75, tui từng lưu lạc xuống tận Hà Tiên, Cà Mâu. Đời lính mà ông! Xa xứ buồn lắm! “Tới đây đất nước lạ lùng, con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh.” Lại còn sợ Việt Cộng.” Tôi nói.

-“Cũng phải ở lại thôi anh ơi! Dân Quảng Nam, Quảng Ngãi tui cực đoan lắm. Về gặp mấy thằng “nhảy núi”, chắc không yên với chúng.” Hiền tâm sự.

-“Mấy thằng cuồng tín là ghê lắm. Cộng Sản cũng là một tôn giáo cuồng tín vậy. Nhiều đứa hoàn toàn bị tẩy não.” Tôi nói.

-“Anh muốn nói mấy đứa “con tố cha”, “vợ tố chồng” phải không?” Hiền hỏi.

-“Con người là một con vật, bản năng như con chó, con ngựa vậy. Tập cho nó, lâu rồi thành quen. Đứa bé mới lớn, làm sao biết hiếu thảo. Cha mẹ, thầy cô, bà con tập cho nó, riết thành quen, thành ra nó biết hiếu thảo. Vô chùa, vô nhà thờ, người ta tập quỳ lạy, van xin, tin tưởng, riết rồi người ta tin, rồi tới cuồng tín chẳng bao xa. Con người có cái bản năng của sinh vật, nhưng chỉ dễ dàng tập tành khi còn nhỏ thôi. Còn như bọn mình, “tẩy não” gì nỗi. Họa là đập bể đầu ra rồi nhét vô!” Tôi nói.

Một lúc sau, tôi nói thêm:

-“Họ sẽ có cách đấy. Cộng Sản không chịu thua đâu!”

-“Đem giết đi chớ gì? Giết bằng cách nào?” Hiền hỏi.

-“Ông biết “Xi-bê-ri” (Siberia) không? Đày qua đó là xong. Giết lần, giết mòn. Hà Nội học theo bài bản “Mốtx-Cu”. Tôi nói.

-“Năm ngoái có đợt đi Bắc, không biết còn đưa đi nữa không?” Hiền nói.

-“Ở riết trên Việt Bắc, cỡ vài thế hệ, con cái mình sẽ thành lôlô, Mường, Thái, Mèo, Hờmông là xong!” Tôi nói.

Hiền nói trong tiếng thở dài: “Tàn ác quá!”

&

Ngày hôm sau, chúng tôi được sắp xếp lại. Việt Cộng gọi là “biên chế” đấy!

Tất cả anh em tổ 1, tổ 2 thuộc đội 1 chúng tôi được gom chung ở một nhà.

Tôi và Phạm Ngọc Hiền chiếm một đầu góc nhà. Sợ cái giếng nước, tôi và hiền đi tìm được một cái vỏ đạn, to bằng cái cột nhà. Một đầu, chúng tôi lấy một tấm nylon cứng bịt lại, hàn kín bằng bao nhựa đốt cháy cho nhỏ vào những nơi không kín. Xong, dựng cái vỏ đạn vào mái hiên, hứng nước mưa mà dùng. Khi nào tắm thì Hiền rủ tôi đi, anh ấy kéo nước giếng giùm cho.

Không biết ở đây bao lâu, nhưng chúng tôi cũng rồng rau. Tôi dăm mấy hột đậu phụng. Vài hôm sau đã thấy mọc mầm. Đất đỏ, mùa mưa, trồng cậy thật mau tốt.

Sau trận đau ở Trảng Lớn, Hiền bị suyễn nặng. Anh phải nằm võng. Tôi nằm giữa sàn. Đêm đêm nghe tiếng suyễn kéo khò khò trong cổ anh, tôi biết anh khó ngủ. Lại thêm, lo nghĩ cho gia đình nhiều, tôi cũng đoán chừng anh có muốn ngủ cũng không ngủ được.

Gia đình anh đang sinh sống ở Quảng Ngãi. Khi Quảng Ngãi mất, anh dắt díu vợ con và bà mẹ già chạy vào Saigon. Trong cảnh sống chưa ổn định, nhà cửa chưa có thì anh phải trình diện đi tù cải tạo.

Anh nói vợ con anh không ở Saigon được, không có nhà, không có hộ khẩu, đã dọn về Long Khánh để làm rẫy.

&

Sau nầy, cải tạo về, tôi cố tìm bạn tù cũ mà không gặp. Một hôm, tôi thoáng thấy anh ngồi trên chiếc xe xích lô chạy nhanh về hướng bến xe Miền Đông. Tôi quay xe lại đạp theo mà không kịp. Có lẽ anh từ Long Khánh lên, nay về lại.

&

Chúng tôi ở đây khoảng vài tuần, chẳng lao động hay học tập gì cả. Bộ đội cũng không mấy khi xuống, ngoài mỗi ngày một lần điểm danh. Chúng tôi cứ quanh quẩn trong vòng rào, không được ra khỏi trại.

Rảnh rỗi, tôi rủ Hiền qua cái gian nhà khác chơi.

Có lần đi ngang một gian nhà chúng tôi nghe tiếng đàn từ trong nhà vọng ra, tôi nói với Hiền:

– “Không phải tiếng đàn “ôông” ơi! Nghe như tiếng kẻng nhỏ.”

Hiền nói:

– “Của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đó. Thằng chả lấy vỏ đạn nhôm cắt thành từng miếng, chả canh sao mỗi miếng nhôm ăn với một nốt nhạc, đánh nghe hay lắm. Tụi nó phục lăn!”

Từ đó, nhiều ngày, tôi rủ Hiền đi ngang căn nhà đó để nghe Nguyễn Đức Quang “chơi nhạc”. Anh ta chơi toàn nhạc vàng, nhưng không thấy “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”, đôi khi không nghe anh ta chơi gì cả, cũng buồn.

Chúng tôi tự do trong vòng rào kẽm gai. Tối tối, mấy anh chàng ưa hát, ngứa cổ, qua các nhà khác hát biểu diễn, dĩ nhiên là hát chùa, đôi khi được mời uống càphê. Từ ngày bị cấm hát nhạc vàng từ khoảng nửa năm trước, nay nghe nhạc vàng đã lắm, chẳng ai cấm cản gì cả.

Ở đây, tôi gặp Hồ Đài. Hồi còn học ở Quốc Học, nhiều người ngại anh chàng nầy bởi vì anh vô ra nhà “cậu” rất dễ dàng. Anh là đệ tử của “cậu”, làm bí thư hay gì đó của một tổ chức, có vẻ giống như là “đảng đoàn”, – dĩ nhiên là đảng Cần Lao – của trường Quốc học. Năm 1964, tôi đi chấm thi Trung học ở Hội An, nghe nói anh làm hiệu trưởng trường Trung học Bán Công Nguyễn Duy Hiệu ở Vĩnh Điện, sau đó nhờ làm Tỉnh Đoàn Trưởng Bình Định Nông Thôn Quảng Nam nên khỏi đi lính.

Tôi cũng gặp anh Phạm Gia Định.

Anh học luật với tôi cùng một năm tại Luật Khoa Huế, hồi bà Tăng Thị Thành Trai còn làm khoa trưởng. Năm sau, anh Định vào Quốc Gia Hành Chánh.

Tôi cùng đi khóa đó với anh, nhưng vô tới Saigon, ông anh cả viết một câu trong thư: “Mi chỉ biết lo cho thân mi, còn hai đứa em, không ai lo, phải bỏ học…” Thế là, thay vì hai đứa em, tôi đành bỏ học, lại về Huế, vừa đi học, vừa đi dạy để chăm sóc cho hai đứa em.

Chức vụ cuối cùng của anh Phạm Gia Định là Phó Thị trưởng Đà Lạt, cấp bậc thiếu úy. Anh ấy than phiền, giải thích thế nào cán bộ cộng sản cũng không tin vì một chuyện khá buồn cười:

Thị trưởng Đà Lạt mang “loon” đại tá, tại sao anh chỉ mới thiếu úy mà làm Phó Thị trưởng. Anh phải là trung tá hoặc ít ra cũng là thiếu tá, tại sao chỉ có thiếu úy. Vậy là khai gian, là còn che dấu, là nói dối với “cách mạng”.

Tội khai gian là nặng lắm, khó có hy vọng “Cách mạng khoan hồng cho về sum họp với gia đình”.

Anh ấy có mang theo tập “Thơ Đường” của Trần Trọng San, cho tôi mượn đọc. Tôi bỏ phấn cầm súng năm 1968, nay đã tám năm. Bây giờ có thì giờ trở lại với môi trường văn chương mà tôi đã “ngụp lặn” trong đó suốt mười năm dạy Việt Văn, nay đọc lại, sau nhiều bầm dập cuộc đời, thấm thía và thú vị biết chừng nào!

Bài thơ đúng với tâm trạng tôi là bài “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương:

Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi.

            Hướng âm vô cải, mấn mao thôi

            Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

            Tá vấn khách tòng há xứ lại.

Quả là tôi xa nhà khi còn trẻ. Tôi trốn mẹ ra đi năm 16 tuổi, đến nay là đã ba mươi hai năm (1976). “Lão đại hồi” thì chắc tôi không về. Về là để gặp cha mẹ, anh em, bà con. Sau 1972, “Quảng trị tui” thành bình địa. Cục đá cũng không còn nguyên, vậy tôi về với ai? Vêề  là m chi? “Hướng âm vô cải” cũng sai luôn. Suốt mấy năm trong quân đội VNCH, tôi lưu lạc xuống tận Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau. Về tới miền Tây Nam Bộ mà nói tiếng Quảng Trị thì người ta coi tôi như “người nước ngoài”, làm sao hiểu tôi nói gì, nên tôi phải học mà nói tiếng Nam, riết thành quen. Bọn trẻ Quảng Trị, nếu có gặp chúng ở đâu đó, không chắc bọn nó nghĩ rằng tôi là dân “Quảng Trị tui.”

Tui lai giống mất rồi!

hoànglonghải

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 9) “Một Cõi Đi Về…”

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s