BÚT KÝ CHIẾN TRƯỜNG: KHOẢNG TỐI NHÌN LÊN – MỘT ÐIỀU KHÔNG NÊN NGHĨ

https://bienxua.files.wordpress.com/2018/09/1434c-lt01.jpg

Ðào Ðức Bảo

Ðêm nay địch có tập kích hay không tôi mặc xác chúng, Ðại đội đã quá mệt mỏi rã rời, 4 ngày 2 trận đánh, quân số thiệt hại chưa được bổ sung. Tôi không sốt ruột để mong có ngay điều đó vì lính Nhảy dù đâu được phép quơ quào quân dịch nên lúc nào cũng thiếu vì lúc nào cũng chạm địch.

Nhiệm vụ đi tìm địch từng cánh lẻ Ðại đội, quân số xuất phát từ hậu cứ tương đối tạm đủ nhưng thường sau một vài chục ngày trong rừng sâu và giao chiến, sứt mẻ lần để lộ cái thiếu thốn về nhân lực và rã rời về thân xác. Có bao nhiêu xài bấy nhiêu, Nhảy dù cố gắng cứ thế mà húc. Thường đơn độc nhưng đêm nay những hai Ðại đội cùng đánh đai một tuyến phòng thủ đêm, quả là ấm áp hơn bao giờ. Sau khi phối hợp với Ðại úy Thành Ðại đội trưởng 94 để chu toàn mọi thủ tục đóng quân, tôi bước thấp bước cao về Ban chỉ huy gieo mình lên võng, lại nhún một chân theo thói quen để võng đu đưa. Chưa bao giờ tôi thấy yên bình lạ, mặc cha Việt cộng, tôi không muốn nghĩ đến chúng nó ở giây phút này, tôi muốn dành nhỏ nhoi thời gian thư giãn để xoải tay duỗi chân căng người ra cho đỡ mỏi và nhất là để tâm hồn nhớ đến những điều đáng nghĩ: Những binh lính của tôi hiện còn sống, còn đang thay nhau căng mắt trong đêm để không cho địch mò vào sát tuyến, một số đồng đội của tôi kể cả Ðại úy Phước vĩnh viễn từ nay tôi sẽ không còn một lần gặp lại, họ vừa chết hôm nay mà tôi không dành được một giây để chạy đến vuốt mắt. Rồi những người lính bị thương vừa được di tản lúc trời chiều gần tắt, vết thương xé da thịt đổ máu thấm đất rừng Katum, ai sẽ lành để còn có ngày trở về với bạn bè ở Ðại đội, ai sẽ không còn dịp một lần cầm súng để ngăn kẻ địch xâm lăng.

Tôi còn nghĩ gì thêm nữa, như một định luật mà không bao giờ mỗi đêm tôi quên được trước khi tự đánh lừa mình, tự ru ngủ, nổi lên rất sáng và rất nồng nàn trong hằng đêm đu người trên võng. Trời êm ả hay trời rơi mưa nhẹ hạt, trời êm ả hay trời rơi mưa dồn dập. Tôi đều thấy, đều thấy trong tưởng tượng bóng dáng người yêu dấu, đôi mắt to đen rực sáng, đôi môi cong nũng nịu đến thèm hôn và nhất là hương tóc đã cho tôi rất nhiều gây gây cảm giác. Tôi cứ hằng đêm có ảo giác trong giấc ngủ chập chờn, thường giấc ngủ thiếp như chưa bao giờ được no ngủ, như chưa bao giờ được ngủ một lần đúng nghĩa trong suốt tháng ngày vào rừng để liên tục hết mục tiêu này đến mục tiêu khác.

Và tôi còn nghĩ gì? Cha tôi, mẹ tôi rồi cả anh chị em tôi nữa, những người như hằng bao người miền Nam chưa hề được hưởng vài giây phút yên lành trong cuộc sống, luôn tất bật và luôn lo lắng, luôn lo sợ một tin đau buồn. Anh cả tôi hiện giờ đang say giấc hay đang bay trên vùng trời lửa đạn nơi vùng I chiến thuật. Người anh thứ đang làm gì trong căn cứ Lực lượng đặc biệt ở vùng II, đang tung quân lùng địch hay đang co cụm để chống cuộc tấn kích. Người anh thứ ba đêm nay có bình yên không nơi quận lỵ cheo leo của vùng III chiến thuật. Ðến đứa em kế ở cùng binh chủng, đứa em thích đùa với đạn thù như thuở bé cầm chiếc đèn trung thu con cá trên tay vung vẩy chạy theo đám bạn dung dăng khắp phố phường. Tôi còn hai đứa em trai học trường Hồ ngọc Cẩn, nhất định hằng đêm ôn bài phải có giây phút buông bút ngẩn ngơ khi nghe tiếng đạn pháo kích nổ vang rền một nơi nào trong thành phố. Rồi cả những người chị em gái nữa, nước mắt thương lo thường ướt gối nằm. Tôi thế đó thì đồng đội tôi nào có khác gì, một người đi cho bao nhiêu người mong đợi. Những người lính cũng phải cố quên để lao vào tuyến địch, cũng phải cố quên để đợi đêm về nhớ nhà trong giấc ngủ, nhớ nhà trong phiên gác đêm sau một ngày mệt nhoài thở dốc, vẫn nhớ nhà khi căng mắt kiểm soát quân thù xâm nhập và vẫn nhớ nhà khi căng mắt nhìn vào hư không để hình dung người thương đang xa lắm. Ðồng đội tôi và tôi nghĩ đến bao nhiêu cũng vậy, thực tế vẫn là cây súng trên tay cùng chiếc ba lô nặng hành trang đè lưng gục xuống thấp. Thương làm sao cho những người lính trẻ của tôi, kể cả tôi nữa đang phải tự xa cách nỗi riêng tư để chỉ thấy trước mặt là lửa đạn. Một mảnh Katum bé nhỏ hiện nay đủ khiến chúng tôi đã và đang phải vật vờ gian khổ thì hình dung trên giải đất miền Nam, biết bao nhiêu người lính ở các quân binh chủng khác mà giờ đây tôi đang nằm nơi dẻo rừng này, đang nhún một chân để chiếc võng đu đưa thì họ đang làm gì, đang ở giao thông hào tay xiết cò súng, đang ở hầm hố hờm súng đợi địch xông vào hay tệ hại hơn máu đang chảy ra vì đạn địch, làm sao còn phút giây nào để nhớ đến gia đình.

Sáng hôm sau Ðại đội 94 đi truy lùng địch. Tôi dẫn Ðại đội 93 di chuyển về hướng căn cứ Vicky của Tiểu đoàn. Thiếu tá Bảo đi cùng Ðại đội tôi, đây là lần thứ ba tôi xử lý chức vụ Ðại đội trưởng. Mặt trời vừa lặn thì Trung đội 1 đã bắt đến một trảng trống lớn, tôi quan sát địa hình thực tế cùng so với bản đồ, điểm đứng thật chính xác. Thiếu tá Bảo ở phía sau nhắc: Bảo, mày xin một quả khói để xác định điểm đứng. Tôi truyền lệnh cho Thiếu úy Quang tiền sát viên, khoảnh khắc đạn đi và nổ bùm bốc lên một cụm khói ở ven rừng phía trước. Tôi sửa chữa với Quang: Cho kéo gần 400. Thiếu tá Bảo vội ngăn: Ðừng, đừng bao giờ kéo vội vã như vậy nguy hiểm, giờ này đâu phải lúc chạm địch mà vội, 200 được rồi. Quả đạn bốc khói gần hơn, tôi nhìn anh Bảo: Xong rồi thiếu tá, tôi lấy điểm đứng này dừng quân đêm nay. Anh Bảo đồng ý dặn thêm: Mày nhớ coi sóc con cái cẩn thận, xin sẵn yếu tố tác xạ cận phòng và quấy rối, dặn tổ tiền đồn chú ý địch mò theo dấu vết, lát nữa trực thăng đón tao về căn cứ, mai mốt chúng ta lại gặp nhau. Chờ trực thăng cất cánh, tôi quay vào tuyến Ðại đội kiểm soát một vòng rồi về lều. Sáng hôm sau khi toàn thể Ðại đội gọn gàng, tôi cẩn thận đưa đơn vị vượt rừng về căn cứ. Lúc ra đi quân số hơn trăm người nay chưa đầy 7 chục. Tôi tự nhủ sẽ không để bất cứ lúc nào có sơ xuất cho địch chụp cơ hội. Chỉ một lần khinh địch trong ngàn lần cẩn thận và chỉ một lần đó thôi đã khiến Ðại úy Phước cùng một số anh em ra đi vĩnh viễn và cả Ðại đội suýt bị bôi tên.

Vào căn cứ chỉ kịp bắt tay Trung úy Dũng Ðại đội trưởng 92, tôi nhận lệnh lên trình diện Tiểu đoàn trưởng. Tôi đưa tay chào Thiếu tá Trí, ông mời tôi ngồi xuống. Trên bàn, tờ Chính luận ngửa mặt sau để lộ khung tang đen cáo phó cố Thiếu tá Trần duy Phước, Tiểu đoàn trưởng Trí nhìn thẳng mặt tôi:

– Tiểu đoàn ngày mai sẽ về Tây Ninh. Ðại đội anh ra đầu, vị trí đóng quân Thiếu tá Bảo sẽ chỉ.

Tôi gật đầu nhận lệnh dợm đứng dậy, ông Trí xua tay:

– Khoan đã, tôi gặp anh không phải việc này, cái quan trọng nhất tôi cần dặn anh nhớ. Nếu Trung tá Lịch Lữ đoàn trưởng hoặc bất cứ cấp nào hỏi thì anh không được nói Ðại đội bị phục kích.

Tôi nhíu mày vờ không hiểu:

– Vậy tôi phải trả lời sao Thiếu tá.

– Nói thật không có lợi cho Tiểu đoàn, anh phải nói Ðại đội tao ngộ chiến với địch, tôi chắc ai cũng phải tin như vậy vì quân số Ðại đội thiệt hại nhẹ. Trung tá Lữ đoàn trưởng dặn sẽ bay xuống đây gặp anh, khi nào ỗng xuống tôi sẽ gọi anh. Bây giờ anh về trám tuyến cho thằng 92 ra nằm ngoài.

Khi quay ra, tôi đã có câu trả lời về điều Thiếu tá Trí dặn. Thật ra tôi đã hiểu ngay từ lúc ông dặn dò vì không cần phải thông minh lắm cũng biết ngay ông muốn gì và e ngại điều gì. Một Ðại đội nhảy dù bị quân Bắc Việt đông hơn 3 lần phục kích chỉ cách căn cứ hỏa lực không đầy 5 km, cho dù chuyển bại thành thắng thì điều đó vẫn là bất lợi cho các cấp chỉ huy.

Sáng hôm sau Ðại đội 93 trực thăng vận về thị xã Tây Ninh. Buổi chiều Tiểu đoàn 9 Nhảy dù hoàn tất cuộc chuyển quân và đóng rải rác vùng ngoại ô trong những vườn cây ăn trái sát những cánh đồng lúa rợp màu xanh. Hồi chiều Thiếu tá Bảo gọi tôi vào máy nhận lệnh:

– Mày cho Ðại đội cắt tóc cao và sửa soạn quân phục sạch sẽ vì sáng mai sẽ dàn chào cho buổi lễ gắn huy chương cho mày tại tòa Tỉnh.

– Vậy binh lính của tôi thì sao đích thân.

– Binh lính của mày khi về hậu cứ sẽ tưởng thưởng, ngày mai chỉ có mày vì mày nhận huy chương Mỹ.

Sau buổi lễ cả Tiểu đoàn trở về hậu cứ. Xuống xe bước về hướng văn phòng Ðại đội đã thấy Trung sĩ I Hải kế toán trưởng và Hạ sĩ Nguyện thư ký đứng đón. Ðặt chiếc mũ sắt lên bàn, tôi ngồi xuống chiếc ghế cách đây 3 tháng Ðại úy Phước còn ngồi. Văn phòng không có gì thay đổi duy chỉ thiếu người cũ. Tôi cắm cúi ký giấy phép cho toàn Ðại đội, mỗi chữ ký trên tờ giấy phép lại nổi lên mỗi gương mặt của đồng đội còn sống, hiện ra luôn cả cá tánh của từng người thường khi ở hậu cứ hay vùng hành quân.

Tôi dặn kế toán trưởng Hải đóng dấu ngay và phân phát nhanh để mọi người đi phép ngay trong âm vang tiếng cười nói của đồng đội, lớp ở văn phòng kéo dài ra tới sân Ðại đội. Ký xong tôi xem đến danh sách thương binh cùng nơi điều trị.

Ðợi người lính cuối cùng cầm tấm giấy phép rời văn phòng, tôi trút bỏ quân phục và chui ngay vào phòng tắm ngửa mặt hứng từng tia nước nơi vòi sen tỏa xuống. Dòng nước đổ trên tóc trên mặt chạy dọc toàn thân kéo theo bụi đường, kéo theo khói thuốc súng kể cả những tanh tanh của máu bám trong da thịt. Tôi nhẹ nhõm thắng vào người bộ đồ huyết, chiếc mũ đỏ đội lên đầu ấn bên phải và kéo bên trái cho huy hiệu đôi cánh dù vàng ép sát vào chân tóc. Dừng ở cửa văn phòng Ðại đội tôi dặn Trung sĩ I Hải:

– Sáng mai lúc 10 giờ anh và thư ký Nguyện đi với tôi thăm viếng thương binh, nhớ sửa soạn mọi thứ cần thiết.

Tôi quay ra xe trong tiếng đáp dạ của Hải. Hạ sĩ I Cai tài xế vừa chào vừa hỏi:

– Trung úy về nhà.

– Ừ. Tôi đáp.

Bỗng Hạ sĩ I Nay chạy lúp xúp tới:

– Trung úy cho em quá giang về với.

Tôi gật đầu:

– Lên xe đi sao giờ này còn ở đây.

Nay nói nhỏ:

– Bị em để lạc mất chiếc nón đỏ, kiếm hoài giờ này mới thấy.

– Sao không đội đỡ mũ lưỡi trai.

Nay cười nhẹ:

– Dạ, vậy thì uổng quá, mới hút chết về thăm nhà phải đội mũ đỏ mới ngon lành chớ Trung úy.

– Mày nói cũng phải.

Tôi đưa tay sờ lên chiếc mũ màu máu đậm, không tươi như máu vừa đổ ra mà cũng không đậm như máu đông đặc, không đậm như máu của Trung úy Tèo của Ðại úy Phước và của cả những đồng đội tôi phun ra có vòi đổ trên đất, đổ trên cây cỏ, đổ trong thành phố, đổ trong rừng, chưa kịp di tản nên khô sậm lại cùng lúc da thịt biến thành màu xanh xám ngoét tha hồ loài ruồi nhặng bu quanh thỏa thích. Tôi vuốt 2 dải dây đen phía sau cho thẳng, người còn sống mang tang cho người chết và mang sẵn cho chính riêng mình.

Tôi bước vào nhà cho cha mẹ tôi và những đứa em tươi tắn nụ cười. Ðây rồi, người con, người anh lại có dịp trở về. Có chữ nghĩa nào đủ để nói lên điều trăn trở ngậm ngùi, điều lo âu sốt ruột, nỗi mong đợi ngày đêm khi những đứa con nhập ngũ trong cảnh đất nước nhiều tiếng súng hơn tiếng vỗ tay của trẻ thơ. Nhiều nước mắt đổ ra đành nuốt ngược vào nên cái hãnh diện gật đầu cho những núm ruột lao vào lửa đạn. Từng cái gật đầu đó có tri thức mà tưởng như vô thức trong cắn chặt môi nuốt ngược dòng nước mắt để gượng cười như mếu từng khi những đứa con lần lượt ghé chào: Ba me, mai con đi hành quân. Sao con không chào: Ba me, mai con vào trường như những lời chào của biết bao tuổi thanh xuân đang sống an lành nơi hậu phương này, đang dầy đặc trên miền đất này. Lắm khi vì xót dạ vẫn có những so đo tính toán về kẻ hy sinh với người hưởng thụ. Nhưng so thì so, tính thì tính, những tâm hồn già đã từng chạy giặc khi nửa giải đất nước bị chiếm, hôm nay không thể dạy con mình bắt chước hưởng thụ làm ngơ như những ai, những ai thường cứ giả vờ như đất nước miền Nam này chỉ là nơi sống tạm.

Làm sao tôi có thể đần độn đến độ không hiểu rằng, từng đêm giấc ngủ chập chờn, không phải một đứa mà nhiều đứa con đang ở khắp 4 phương trời, làm sao cha mẹ tôi tránh khỏi giật mình thảng thốt khi tiếng đạn nổ chụp về thành phố; làm sao tôi không biết người cha người mẹ già nghĩ đến điều gì khi những người vợ lính, những đứa con lính mỗi ngày một nhiều đội khăn trắng lên đầu. Ðó là điều khiến tôi trả lời ngay với Hạ sĩ I Cai tài xế khi nghe hỏi: Trung úy về nhà? Ừ, tôi đã đáp ngay.

Trong hàn huyên rối rít của cả nhà, chớ hề bao giờ tôi lộ vẻ mệt mỏi, chớ hề bao giờ tôi kể chuyện gian khổ hiểm nguy. Tôi không muốn cho người thân nặng nề thêm những lo âu chỉ chực vỡ tràn. Tôi ăn một bữa cơm gia đình ấm cúng mà không ngon miệng, không biết có phải tại đã no vì những gương mặt thân thiết vây quanh, không biết có phải tôi đã nuốt no những hình ảnh thân thương khiến bụng không còn chỗ chứa. Ðiều tôi biết đúng nhất, tôi chưa hề biết ăn để có cảm giác ngon miệng bao giờ, vui cũng vậy mà buồn lo cũng thế. Có thể đó là điều báo trước cho tôi biết cuộc đời mình sẽ không bao giờ hết gian khổ, sẽ không bao giờ hết nhọc nhằn.

Chào cả nhà, tôi ra xe đến căn nhà có cây sao đầu ngõ. Con bé mừng rỡ hét toáng lên như đạp phải lửa cùng đôi mắt đã có ngấn nước.

– Này, phải cười lên chứ cấm khóc. Tôi nói vội.

Tôi bị cuốn chặt chỉ còn nghe tiếng tấm tức sụt sùi trên ngực.

– Anh đen với lại tay chai quá.

Tôi cười dỗ dành:

– Ðâu phải anh đi chơi mà đi sao về vậy. Thế nào gần 3 tháng nay nhớ anh được mấy lần?

– Chả nhớ lần nào. Con bé trả lời cũng vẫn dáng cong môi.

Thanh, thằng bạn học cũng là người anh cả gia đình từ phòng trong bước ra kèm giọng nói vừa chua vừa ngọt:

– Sao mày không đi luôn đi, bắt tội con nhỏ cứ thấp thỏm từng ngày. Mấy hôm trước tao chở nó đến quán Thơ uống nước gặp ông chủ quán nói vừa thấy xe cứu thương chở ai như mày về hướng nhà thương Cộng Hòa. Thế là chẳng kịp uống hớp nước, anh em tao 3 chân 4 cẳng chạy về báo tin cho cả nhà sửa soạn áo quần thực phẩm đến Cộng Hòa thăm mày; tìm suốt buổi chẳng thấy tên, chẳng ai biết, làm con nhỏ khóc sưng cả mắt.

Không kịp nghe tôi đáp, Thanh đã quay vội vào nhà trong để trả giây phút riêng tư cho hai đứa nơi phòng khách. Thời gian như chạy đua, cuối cùng tôi bịn rịn:

– Thôi anh phải về.

– Thế bao giờ anh lại đến.

– Còn nghỉ được ngày nào anh đến với em ngày đó.

Chia tay, con bé không sụt sùi như những lần tôi phải đi xa, con bé thừa biết ngày mai tan trường về sẽ thấy tôi đợi sẵn ở nhà.

Sáng hôm sau cùng kế toán trưởng Hải và thư ký Nguyện, chúng tôi lần lượt đến thăm anh em thương binh Ðại đội 93 nằm điều trị ở bệnh viện Ðỗ Vinh và nhà thương Cộng Hòa.

Nhìn vóc dáng gầy ốm xanh xao của từng đồng đội nằm ủ dột đợi vết thương liền mặt, từng người và từng người khi xiết chặt bàn tay thăm hỏi, trong tôi không sao dằn được cơn cảm xúc khiến lạc giọng khi vỗ về an ủi. Mai đây sẽ có người bình phục trở lại đơn vị, và cũng sẽ rất nhiều người chẳng còn dịp nào như Hạ sĩ Bính khinh binh tài giỏi, vết thương chân sẽ phải chống nạng suốt đời; như Trung sĩ Tường tổ trưởng khinh binh, cánh tay phải cắt ngang khuỷu còn nhăn nhúm chỉ khâu với lớp thịt bao xương đỏ hỏn; như Binh I Tín, Binh I Rê, Hạ sĩ Luân và bao nhiêu người nữa, đường đời sẽ còn có ngày gặp gỡ nhưng chắc chắn không còn ở với nhau trong rừng.

Tôi thật sự ngại ngùng khi thấy cảnh người vợ trẻ lau mặt cho chồng với đôi mắt khép như không dám nhìn thực tại dù vẫn tha thiết chịu đựng nỗi đau chung. Chịu đựng không phải chỉ hôm nay, không phải chỉ ngày mai mà sẽ là suốt đời còn lại trong lúc những đứa con thơ vẫn nở nụ cười ngây dại bên giường bố. Bỗng dưng tôi nghĩ đến một điều không nên nghĩ: Phải chi họ chết ngay đi, chết ngay tại mặt trận bởi những viên đạn thù, những viên đạn của bọn xâm lăng dù cắt xé rất ngọt thân xác, dù vỡ toang lồng ngực hay vỡ toang đầu, biết đâu chừng cơn đau và nỗi ám ảnh của người thân sẽ không một đời dằn vặt. Cuộc sống tàn phế chưa hẳn là may mắn hơn nhắm mắt trên trận địa. Ý nghĩ theo tôi ra xe về như một kẻ vừa phạm tội. Xe chạy trên đường phố đông người qua lại, tôi chỉ thấy đông người qua lại mà không định được đang ở nơi đâu. Mắt mở lớn nhìn dòng xe dòng người tấp nập xuôi ngược trong lúc đầu óc miên man với cảnh tượng nơi những giường bệnh, phòng dưỡng thương trần cao vôi trắng lạnh. Nơi đó những thương binh đủ mọi sắc lính cùng những người thân, những đứa trẻ, những giỏ quà đơn sơ không thiếu vài ổ bánh mì nguội lạnh với mớ trái cây của mùa đang nở rộ trên khắp cánh vườn miền Nam bình dị.

Người chồng, người cha và không ít người yêu với đủ loại thương tích chỉ hơn mức chết đang nằm như bất động trên giường. Mắt đang xa vắng nhìn buồn tênh hay nồng nàn đối chiếu người thân, đớn đau hay chua xót hay hạnh phúc, tôi chưa nghĩ được. Mới hôm nào đây còn bay bổng trong không gian, còn trực thăng vận nhảy trên đầu địch, còn mầy mò trong rừng sâu ngày này tháng nọ, còn xiết cò đốn ngã bọn giặc cướp, còn biết thương đồng đội khiến quên thương thân mình. Mới hôm nào mà giờ đây đã phải nằm im mắt nhìn xa vắng, nhìn chung quanh chỉ lặng ngắt tường vôi trắng, lặng ngắt trong đơn côi khi nhà thương hết giờ thăm viếng.

Có thật hạnh phúc không trong những giờ vợ con vỗ về chăm sóc, nếu quả thật có thì sao hạnh phúc lại đơn sơ đến thế? Lại chua chát đến thế? Lại cay đắng đến thế? Nhất định không giây phút nào người lính biết đến cảnh sống kiêu sa lộng lẫy, cảnh thừa thãi yến tiệc trong an bình của những kẻ cũng mặc áo lính, mà dư thừa đến lợm giọng. Máu người lính đổ ra để đầy thêm bát yến trên bàn tiệc, để dầy thêm những chồng tiền trong két sắt, máu người lính đổ ra để tăng thêm cường độ tâng bốc giữa các ngôi sao lấp lánh trên cổ áo, để đậm đà thêm cho bọn trưởng giả đú đỡn tiếng cười.

Nơi phòng dưỡng thương, người lính hạnh phúc trườn người cố với tay lấy mẩu bánh mì nhai vội cho đỡ đói trong đêm khi vết thương nhức nhối thêm trong tiếng nhai vội. Tôi không nhìn thấy nhưng tôi biết chắc đó là điều thật nhất.

Tôi đến với người tôi yêu như một nơi duy nhất có an ủi và chia xẻ, chia xẻ với tôi nỗi buồn gặm nhấm suốt một ngày thê lương thăm đồng đội. Chia xẻ với tôi một điều tôi không nên nghĩ.

Nguồn: http://khoangtoinhinlen.blogspot.com/2015/09/khoang-toi-nhin-len-chuong-vi.html?view=magazine

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s