Hà-Nội tra tấn POW Mc-Cain Hanoi Hilton, 1973.

QUEEN BEE-1
https://i2.wp.com/www.nationalcompass.net/wp-content/uploads/2018/08/McCain-in-prison-hospital.jpg
Ảnh của nationalcompass.net
Tháng Sáu 1967, một Toán Hatchet Force được thả xuống để thám sát Căn-cứ đầu-nảo Tiền-phương của Đoàn 559 (OSCAR-EIGHT) tại chân núi Tam Bôi. Trên sàn trực thăng Trung-úy Jerson được hối hả khiêng lên nằm rủ trên sàn tàu, bên cạnh là người hùng Howard đang bập-bập một điếu thuốc do cơ-phi mồi sẳn nhét vào miệng hắn cùng với vài cái vổ vai thán phục; Nhưng trong tâm tưởng Howard vẫn còn luyến tiếc vì bỏ lại các chiến hửu Yards (lính Thượng) của mình trên chiến địa mà không thể mang về được.
Đến khi Howard hoàn hồn tỉnh lại thì biết mình đang nằm tại bệnh viện với băng bó khắp nơi trên thân thể, trên mặt hắn trét đầy loại thuốc dầu mở sát trùng; nằm cạnh bên là xác trung úy Jim Jerson đả chết; không ai chuyền được tin tức nầy cho gia đình Jerson và Robert Scherdin biết. Đại úy Ed.Lesesne đang đề nghị cho Howard huy chương danh-dự hạng nhất của Hoa Kỳ lần thứ Ba (Medal of Honor)
Nhưng đáng buồn thay, những sự hy sinh cao cả của Howard không được dân chúng Hoa-kỳ hoan nghinh, Howard đả tình nguyện qua chiến đấu tại Việt Nam những 5 lần, và mọi lần đều ở đơn vị SOG, Biệt Kích Delta Force. Trong khi 1955 các trường học được các học sinh nhắc nhở đến những anh hùng dân tộc như Alvin, Audie Murphy, nhưng vào năm 1970, con người đầy vết thẹo thương tích như Howard thì không được ai ngó ngàng tới. Thật vô cùng bất công! Và trớ trêu thay, con người như Trung-úy phản chiến John F Kerrey với ba lần bị thương Lèo, do TNS Bob Dole tiết lộ, nhưng không chảy máu, không nằm nhà thương mà lại sanh lòng phản lại sự hy sinh của đồng đội cho hư danh huyền ảo, thì đang được dân chúng xem như một thần tượng của phong trào phản chiến hiện tại!
Trong khi những chiến hửu của Kerry phải chịu cái cảnh hành hạ cũa bọn cai tù Hà Nội; Ðiển hình trường hợp của phi công [Thượng nghị sĩ] John McCain, Họ chào mừng cha ông là Tư lệnh Ðệ-7 hạm đội đương thời bằng một ấn tượng tuyên truyền gây chú ý là trả tự do cho con trai của ông và coi đó như một hành động “thiện chí.” Hai tháng trôi qua, không có gì xẩy ra, và những đợt hành hạ lại bắt đầu – Phi công McCain bị lôi vào trong căn phòng trống và giam ở đó bốn ngày; Từng đợt, bọn cai tù trở lại đánh đập McCain một cách vô cùng tàn nhẩn. Một tên giữ McCain cho những tên khác đánh đập túi bụi, điều nầy Hà Nội cũng hành hạ tra tấn các anh em chúng tôi những năm còn ở tù ngoài Bắc, hàng đêm chúng đem chúng tôi ra ngoài sân để trả thù hận, với danh sách ưu-tiên bị chúng hành hạ là: “Nhứt Pháo (binh), nhì Phi (công), tam Công (an), tứ Cảnh (sát)”
McCain bị gảy mấy xương sườn và hai cái răng, suy nhược vì bị đánh đập và kiết lỵ, chân của McCain lại trở nên vô dụng, do đó McCain không thể đứng được. Tới đêm thứ Ba thì McCain nằm trên máu, phân và nước tiểu của mình, vì mệt mỏi và đau đớn, McCain không thể nhúc nhích, chuyển động được; Ba tên cai-tù đở cho McCain đứng dậy rồi chúng đánh McCain cực kỳ khũng khiếp; Chúng để McCain nằm trên sàn nhà rên-rĩ vì cực kỳ đau đớn ở cánh tay lại mới bị gảy ra. Tuyệt vọng vì đau đớn không thuyên giảm và tra tấn thì tàn bạo hơn; McCain cố ý tự sát để khỏi phải quá đau đớn. Sau vài lần cố gắng không thành, McCain tìm cách để đứng dậy; Lật úp cái Bô đựng phân và nước tiểu để lấy thế tăng chìu cao; McCain đứng lên trên cái Bô, níu vào tường bằng cánh tay còn lành. Ông luồn cái áo qua cái cửa chốt và buộc thành cái thòng lọng, khi Ông đang lồng cái vòng ấy vào cổ, tên cai-tù nhìn thấy cái áo của ông luồn qua cửa sổ, hắn liền kéo ông xuống và đánh đập một trận thật tàn nhẩn. Vẫn nuôi ý nghĩ tự sát, sau đó ông lại làm lần thứ hai, một cố gắng tự sát nhẹ nhàng hơn. Vào ngày thứ Tư, ông đành chịu thua vì nợ trần gian chưa trả hết
McCain đã ký vào bản tự khai thú nhận rằng: “Tôi là một tên tội phạm độc hại, và Tôi đã thực hiện những công việc của một phi công” Tụi cán bộ bắt buộc ông cho thâu lời thú tội nầy vào trong băng ghi âm. ông cực lực từ chối, dỉ nhiên ông bị tra tấn cho đến chừng nào ông chịu ghi vào thâu băng; Ðó là hai tuần lễ kinh hoàng nhứt trong đời McCain, ông rùn mình, như thế sự nhục nhả của ông là một cơn sốt, và ông nghĩ tủi nhục sẽ không ai nhìn thấy ông nữa, ngoại trừ trong sự thương hại hoặc khinh bỉ. Người Cộng sản dường như không bao giờ bận tâm tới việc làm thương tổn tới đến kẻ thù Ðế quốc, nhưng họ luôn luôn thận trọng không để người phi công Mỹ bị chết vì cần sự đổi chác; Nhưng sự bí mật đã hé mở là có một số phi công Hoa Kỳ bị tra tấn tới chết và hầu hết là bị đối xử dã man nhứt trong lịch sử loài người. Nhưng cô đào ciné Jane Fonda, với đặc vụ phản tình báo thì một mực phủ nhận sự tàn ác nầy vì đây là kế hoặch chiến lược “Khổ nhục kế” nhưng lại dành riêng cho những đứa con phi-công ưu tú của Hoa kỳ nhập cuộc! Thật tội nghiệp thay! Có một người, Dick Stratton, có những vết sẹo lớn bị nhiểm độc trên hai cánh tay vì bị tra tấn bằng dây thừng. Hai móng tay Cái bị xé rách toạc ra, và ông bị châm bõng bằng thuốc lá. Tuy nhiên, người Cộng Sản đánh giá các phi công như những con bài, như món hàng quí giá để mặc cả trong vấn đề thương lượng hòa bình, và thường thì Hà Nội không có ý định giết, nhưng chẳng may mạnh tay nên chết. Các phi công được triệt để khai thác bằng cách hợp tác để tuyên truyền nếu không muốn bị tra tấn dã man
Sau cuộc đổ quân giải cứu tù binh ở Sơn Tây 1970, bằng trực thăng CH-54, cách Hà Nội không xa lắm, hàm ý nếu không tập trung tù binh Mỹ vào một chỗ (Hilton Hỏa Lò) và nuôi dưởng đàn hoàn thì mạng sống của Bộ chính trị Cộng Sản sẽ không có gì bảo đảm (thêm vào những lời vừa khuyên bảo vừa hăm doạ của KGB) Hậu quả những sự đánh đập tàn nhẩn được Liên Xô áp lực phía Hà Nội phải ngừng lại tức khắc, và đem tập trung vào một chỗ, cũng ngay sau khi Kissinger rời Moscow thông báo mật kế Pennsylvania. (Ðịnh-kiến-1: Axiom-1) Thỉnh thoảng tù binh Mỹ được những khẩu phần khá hơn, thêm nhiều thịt cá hơn, bớt phần rau Muống xuống hoàn toàn con số không; Vì những thơ từ của tù binh thoát được về Mỹ qua phóng viên các nước Cộng Sản được tù binh tiết lộ rằng: “Ngày nào Hà Nội cũng cho POW ăn Cỏ” (Vì Rau Muốn tù binh Mỹ không biết tên cho là Cỏ dại) Hoàn cảnh tù binh không còn thãm khốc như những năm trước đó nữa; Ðể rồi sau một thời gian bắt người chiến binh Mỹ phải chịu thãm trạng “khổ nhục kế” cho quyền lợi của bọn Ðại tư bản WIB (War Industries Board) Tháng Ba, năm 1973, tất cã Tù binh Mỹ được thả thể hiện qua định-kiến-3 của Harriman (the U.S. could not have won the war under any circumstances) chấm dứt trò chơi chiến tranh CIP & NLF.
Tù binh Mỹ tại Hà Nội Hilton, 1973 (ảnh của manhhai

Có ai hiểu được 327 biệt kích Mỹ SOG bị coi như mất tích [MIA] nhưng phía Hà Nội chỉ giao có 10 người thì chúng ta cũng hiểu rằng, khi bị bắt họ bị làm thịt ngay tại chỗ vì lính Bắc Việt rất sợ sự nhanh nhẹn phản ứng khi trốn chạy, sẽ lôi thêm nhiều thiệt hại cho đồng bọn, chỉ trừ khi Toán biệt kích bị bắt tại đơn vị cấp Tiểu đoàn trở lên thì mới được Chính ủy đem về Bắc. Các chiến sĩ Hoa Kỳ được dạy dỗ phải có niềm tin nơi Thượng đế, nơi Tổ quốc, và tình huynh đệ chi binh; Hầu hết các chiến sĩ chiến đấu cho tự do nầy đã sống chiến đấu hào hùng như vậy. Nhưng điều cuối cùng của những niềm tin nầy – niềm tin vào nhau như chúng tôi đã bị tù ở ngoài Bắc – là vũ khí phòng vệ tối hậu của thân phận những người tù, là nhũng thành lủy mà Cộng Sản không thể vượt qua được; Ðó là niềm tin của người Tù đã ấp-ủ từ trong học-viện sĩ quan. Ðó là niềm tin yêu tổ quốc; Trong nhà Tù, chúng tôi là người dơ-dáy, què quặt, suy nhược, tất cả những gì chúng tôi còn giữ lại trong phẫm hạnh của niềm tin, xuất phát từ nơi truyền thống yêu thương, và tình cảm dân tộc. Và chính cái đó là một chiến thắng sau cùng của chúng tôi qua niềm tin yêu từ trong lòng dân tộc truyền lại cho con cháu đời sau noi theo … “Miền Nam sẽ thắng trong lòng dân tộc!”

 

Chỉ vì chiến cụ làm ra cho thế chiến 2 vẫn còn tồn kho quá nhiều dù rằng quân đội Pháp và quân đội Mỹ đã xử dụng trong hai cuộc chiến tranh Đông Dương và Triều Tiên; Đặc biệt, trong chiến tranh Triều Tiên, Harriman đại diện cho Đảng Công Ty WIB đả áp lực thành công trong cuộc họp 68-Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (NSC-68 United States Objectives and Programs for National Security) mục tiêu và kế hoặch an ninh cho Hoa Kỳ, có nghĩa là TT Truman chấp thuận hàng tỷ dollar chi tiêu vũ trang cho Bộ quốc phòng, gồm có tân thế hệ phản lực cơ khu trục như F.84, F.86, F.100…còn phía Liên Xô như MIG 15, 17, 19. Trục Ma Quỷ lấy bầu trời Triều Tiên làm nơi trắc-nghiệm để tiếp nối hàng tiêu dùng mới phát triển nầy phải được xử dụng tại chiến trường Việt Nam cùng với một số ít chiến cụ còn lại sau ba cuộc chiến vừa qua; Dỉ nhiên cuộc chiến phải kéo dài để tiêu xài chúng cho hết và cũng cùng Liên Xô sản xuất phát triển thêm nữa kỷ nghệ chiến tranh qua thế hệ hoả-tiển phòng không và vủ khí chống lại hệ thống phòng không tại miền Bắc; Những việc làm cấu kết với kẻ thù đã đưa vào ống kính của giòng họ Kennedy khi ông còn là Thượng Nghị Sỉ. Nếu Kennedy được bầu làm tổng thống thì ông sẽ lập lại những gì mà TT Roosevelt đả buộc tội đóng cửa nhà băng Union Banking Corporation và tịch thu tài sản của giòng họ Harriman và Prescott Bush cùng những người có cổ phần vì vi phạm hiến quyền làm ăn với kẻ thù (trading with the enemy Act 1941, http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman )
Hơn ai hết Harriman hiểu rỏ hậu quả của cuộc chiến tàn khốc nầy, nên ông ẩn núp kín đáo trong ngôi vị thứ Ba của Bộ ngoại giao nhưng quyền hạn vô biên; Bên cạnh đó ông bố trí vây kín TT Kennedy và TT Johnson bằng những thành viên Đảng Skull and Bones để khống chế chính quyền như đọc giả đả đọc những chứng từ ở trên, và nhửng lời đối thoại qua lại của những viên chức có thẩm quyền, như anh em Bundy và các viên chức Bộ quốc phòng cũng như thành viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Forrestal. Dỉ nhiên thế giới sẽ nguyền rủa cuộc chiến dơ-bẩn nầy thì tại sao Harriman phải lộ diện như hồi thế chiến 2 hay chiến tranh Triều Tiên? Vì mổi nơi nầy quân Mỹ phải ở lại để bảo đảm sự an-toàn cho Đồng minh; Cái siêu quyền lực ngụy trang nầy lại chi tiền dùng công cụ truyền thông văn hóa phối hợp trong khuôn viên đại học để đổ lên đầu vị nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ như: Kennedy đã có những quyết định sai lầm về Việt Nam vì Kennedy không thật sự chú trọng vào vấn đề, còn về phần Johnson thì vì Việt Nam không là ưu tiên của ông ta. Kennedy thường phó thác việc quyết định về Việt Nam cho phụ tá [bị áp lực bởi Skull and Bones] những người thường bất đồng về mục tiêu hoặc đơn giản là thiếu khã năng. Những ký giả được mua chuộc đều lên-án cả hai ông không hề dành thì giờ thẩm định chính sách của họ ở Việt Nam với sự cẩn trọng tương xứng. Những ký giả nầy đi đến kết luận hồ-đồ theo đơn đặt hàng là, khi lảnh đạo thiếu sáng suốt và quyết tâm thì sai lầm tất nhiên chồng chất. Họ cho rằng một số người vẫn muốn lập luận rằng sự mù mờ ấy chỉ giản dị là dấu hiệu cho thấy Việt Nam không quan trọng đến độ giới lảnh đạo Hoa Kỳ dành hết tâm trí, và chỉ nội việc đó thôi cũng đủ cho thấy lẽ thất bại của cuộc chiến. Còn truyền thông văn hóa thì đả đến lúc quân đội Mỹ phải chuẩn bị rút về theo như thế chiến lược khai thác lợi nhuận xong của Đảng Công Ty WIB; rồi họ đi đến lập luận là Việt Nam có đủ quan trọng khiến chính quyền gởi hàng trăm ngàn thanh niên Mỹ vào cỏi chết trên chiến trường xa xôi với sự ủng hộ của dân chúng và Quốc hội? Rồi đi đến kết luận, họ đổ thừa cho chính quyền Kennedy, Johnson thi hành kém cỏi, thì hiển nhiên là một phê phán về phẩm chất của lảnh đạo chỉ huy chứ không về chính sách của quốc gia
Thật là một điều bỉ ổi cho cái quyền lợi hẹp hòi của tập đoàn Triều-đại Công Ty WIB, tất cả rồi đây phải trả lại sự thật cho lịch sử Hoa Kỳ. (Tác phẫm “Lê Dương Mới” bằng Anh ngử [The New Legion] sẽ là một phân-tử cho sự minh chứng tương lai lịch sữ) Chính vì thế mà sau Hiệp định Genève được ký kết và vĩ tuyến 17 được ngăn đôi lảnh thổ, Hoa Kỳ với mưu-đồ trong thế chiến lược toàn cầu 100 năm, nên không chịu ký. Một biến cố không tiền khoáng hậu trong mưu lược của Nhóm học giả Harriman là “Bỏ-Phiếu-Bằng-Chân” Họ bảo trợ ngầm một cuộc Di-Cư vỉ đại lần đầu tiên của dân tộc Việt Nam; Đây cũng là kế hoặch bỏ phiếu bằng chân cũa Hoa Kỳ dự trù sẻ quảng cáo rùm ben trên thế giới 1954, bằng cuốn phim “Chúng Tôi Muốn Sống” mà Mỹ chi tiền mướn luôn cố vấn Kỷ thuật Phi Luật Tân để tạo thành danh cho cuốn phim; Nhưng 1975 thì phải nín khe nếu không muốn nói là ém-nhẹm vì coi chừng bị thế giới phát hiện nguyền rủa, ai là thủ phạm gây ra thảm cảnh nầy? nên phải dùng diệu kế gọi là tháo chạy vì thua trận thay vì một cuộc chiến thắng thầm lặng (quiet victory) của WIB [War Industries Board] Hậu quả trong tự điển Anh văn, có thêm phong phú hóa bằng những danh từ kinh dị như: Thuyền-nhân, Cánh Ðồng Chết, vùng Kinh Tế Mới, Học Tập Cải Tạo…Tối kỵ nhứt là không dám bỏ tiền lập lại một cuốn phim tương tự như “Chúng Tôi Muốn Sống” trong khi sự thật gần nữa triệu người làm mồi cho Cá – Tại sao vậy? Vì một nghĩa trang vỉ đại nằm sâu dưới đáy Thái Bình Dương gần nữa triệu người sẽ làm thổn thức lương tri nhân loại, lâu lâu lại hâm nóng bằng đơn đặt hàng chối tội để gây hỏa mù dư luận bằng một tác giả có bằng cao học như Nguyễn T Hưng với tác phẫm “Khi đồng minh tháo chạy” là vì thua trận thì không ai trách kẻ thất thế, nhưng thực ra còn hơn 100 lính gác cổng thì đánh đấm cái đếch gì?

Cũng như trong cuộc chiến VN nhiều ký giả lảo thành người Việt, đôi khi vô tình bị nhóm ký giả ngoại quốc gây ảnh hưởng vì mục tiêu chính trị, nên phụ hoạ tạo sự phĩnh gạc tinh vi đưa ra những tin giựt gân hấp dẩn kích thích tác giả Hà Mai Việt đã viết về cuộc hành quân Lam Sơn 719: (Into Laos, NXB Dell, tháng 2-1988, trg 113) Trong khi đó, tướng tư lệnh hành quân Hoàng Xuân Lãm nói khác đi một ngày. “Sang ngày thứ nhì, mồng 9-2-1971, thời tiết bỗng trở nên ảm đạm… Ngay sau khi trực thăng của tướng Lãm vừa đáp xuống thì hai trực thăng theo sau, còn cách chiếc đi trước khoảng 2 cây số, đã bị đại bác phòng không 37 mm của đối phương bắn rớt. Hai trực thăng nầy chở các sĩ quan trưởng phòng 3, trưởng phòng 4 Quân đoàn và toán phóng viên ngoại quốc xin tháp tùng. Sau khi mở cuộc hành quân tiếp cứu phi hành đoàn và hành khách trên 2 trực thăng lâm nạn không có kết quả, tướng Lãm rất băn khoăn về tình trạng của tấm bản đồ hành quân Lam Sơn 719, do đại tá trưởng phòng 3 Quân đoàn đem theo, vì nếu tấm bản đồ này không bị thiêu hủy mà lại lọt vào tay địch thì rất nguy hiểm, nhưng ông đã quyết định giữ bí mật vụ nầy và tìm cách giải quyết sau.” Thép và Máu, tác giả Hà Mai Việt tự xuất bản năm 2005, trg 60, 61 (đọc giã đã chứng kiến ngay đến thẽ bài cũng như máy ảnh mà còn cháy queo thì tấm bản đồ làm sao còn nguyên được? và tướng Lãm đã nhầm lẩn ngày Tiểu đoàn Phó TĐ/8 bị Mỹ thả Bom lầm bị thương ngày 9/2/71 và ngày 10/2/71 là ngày trực thăng LĐ/51/TC bị bắn tan xác, tôi phải ghi trong đầu ngày đó là vì ngày đau thương của chúng tôi)

Về chuyện tấm bản đồ hành quân lọt vào tay đối phương và ngày tháng máy bay bị bắn rơi, ở phần ghi chú, ông Hà Mai Việt thêm, “Hai trực thăng của bộ tư lệnh Quân đoàn I bị phòng không BV bắn hạ và Hà Nội đã lấy được tấm bản đồ mật về cuộc hành quân LS 719 do đại tá trưởng Phòng 3 Hành quân Quân đoàn mang theo… Theo các sử gia HK ghi lại thì ngày 10-2-1971… Nhưng theo trung tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh chiến trường, kể với soạn giả [HMV] thì đó là ngày 9-2-1971, ngày thứ nhì hành quân vượt biên. Sau nhiều lần hỏi lại, trung tướng Lãm khẳng định: ngày 9-2 là đúng, chứ không phải ngày 10-2-1971.” (Sách đã dẫn, trg 87, tướng Lãm lầm-lẫn giữa ngày bị máy bay Mỹ thã lầm với ngày 2 trực thăng VN rơi) Tuy nhiên, người viết bài nầy căn cứ vào “Tờ Tường Trình Ủy Khúc” của Sư Đoàn 1 Không Quân, KBC 3198, (do tôi báo cáo từ nhựt ký điều hành của đơn vị) ký ngày 11-5-1971, và vào “Tuyên Cáo Ước Đoán Biệt Tăm”(MIA) của Bộ Quốc Phòng, do Tướng Nguyễn Văn Vỹ ký ngày 17-7-1971. Cả hai tài liệu nầy Thời Báo đang có phó bản trong tay, đều ghi rõ phi hành đoàn do Thiếu úy Tạ Hòa làm hoa tiêu chính đã bị bắn rơi ở tọa độ XD 565.520 vào ngày 10-2-1971 trên lãnh thổ Lào.

Cả triệu người dân miền Bắc, vốn tha thiết nơi quê Cha đất tổ, vốn yêu mến ruộng vườn làng mạc và nặng lòng với bà con quyến thuộc; Trong số cả triệu người nầy, đã có biết bao là chiến sỉ đã cầm súng chống giặc Pháp trong suốt thời gian tám năm dài đăng đẳng, quá hiểu và hải hùng họ đành cắn răng lìa bỏ nơi chôn nhao cắt rốn, để dắt-dìu nhau lên đường vào Nam, bất chấp lời tuyên truyền dụ dổ quá nhàm tai và những thủ đoạn dọa nạt thô bỉ của cán bộ Cộng Sản. Một triệu đồng bào miền Bắc ấy mang tâm trạng của những tầng lớp xả hội biết mình đã bị lường gạt trong cuộc kháng chiến, và hiểu rỏ là mình cũng như các thế hệ con cháu sẽ không thể sống nổi được dưới một chế độ bóp nghẹt đời sống và hũy diệt trí tuệ con người. Mang theo lý tưởng tự do, Họ lên đường vào Nam để góp tay xây dựng một xả hội nhân bản, một quốc gia thật sự của dân tộc không bị ngoại bang lôi cuốn ảnh hưởng đến chủ quyền. Cuộc di cư vỉ đại ấy đánh dấu một khúc quanh lịch sử cận đại, khúc quanh quyết định trong quan niệm tranh đấu của hàng ngũ quốc gia, khúc quanh mở đầu cho một thế trận mới, mải đến giờ nầy, ngày hôm nay vẫn chưa ngả ngủ, nhưng chắc chắn sẽ ngả ngủ bằng chiến thắng của con người trước trào lưu tiến bộ trên loài quỷ Đỏ bằng công lý thay cho bạo lực, bằng cái thiện chế ngự cái ác để khai thông một vận hội mới cho dân tộc Việt, viển tượng sáng lạng 2023, nhưng chúng ta đã nằm yên dưới ba tất đất, không thể đội mồ lội ngược dòng lịch sử!?

(Còn tiếp)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s