Tản Văn, Tùy Bút Và Ký Giống, Khác Nhau Chỗ Nào?

on

Tản Văn, Tùy Bút Và Ký Giống, Khác Nhau Chỗ Nào? – Trịnh Y Thư

Có người bạn văn email hỏi tôi: Tản Văn, Tùy Bút và Ký giống, khác nhau chỗ nào. Câu hỏi khá bất ngờ và, kỳ thực, tôi không biết rõ lắm, bèn tìm kế hoãn binh, bảo chị đợi tôi trả lời trong một bài viết, thay vì vài câu email sơ sài cho qua. Nhận lời xong, tôi mới biết mình dại, vì không dễ dàng trả lời cho thỏa đáng câu hỏi này chút nào. Thôi thì, đành cố tới đâu hay tới đó, có chi bất cập, sai trái, mong các bạn góp ý và chỉnh sửa lại cho đúng.

Giữa ba thể loại, có lẽ Ký dễ phân biệt nhất. Ký cũng là một thể loại văn học phổ biến trong văn học Tây phương, nên tôi có nhiều phương tiện tra cứu hơn. Vì thế, xin nói trước về Ký.

Ký là tên gọi chung cho một nhóm thể tài chữ nghĩa văn xuôi nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học, như báo chí, chính luận, ghi chép… Chủ yếu của Ký là ghi chép theo dạng tự sự, miêu tả nhiều hơn là phân tích nội tâm. Ký có nhiều thể loại: Hồi ký, Bút ký, Du ký, Ký sự, Phóng sự, Nhật ký, v.v…

Ký nói chung khác với Truyện ở chỗ Ký không đưa ra một xung động nội tại. Phần khai triển của tác phẩm chủ yếu mang tính miêu thuật. Đề tài và chủ đề Ký trình bày cũng khác, so với Truyện. Trong khi Truyện khai triển tính cách cá nhân con người (bằng cách xây dựng nhân vật) trong tương quan với hoàn cảnh và bối cảnh, thì Ký chỉ chú trọng đến chính bản thân môi trường, mà xem nhẹ tính cách của nhân vật (nếu có) trong đó.

Bởi thế, Ký chủ ý miêu tả tính cách xã hội hoặc dân tộc, nghiêng nhiều về mặt báo chí, chính luận, biểu thị bởi sự quan tâm mang tính thời sự, chính trị. Đặc điểm của Ký là tính tư liệu, tái hiện tính chính xác của sự kiện, của hiện tượng có thực; (Hồi ký chiến tranh Tháng Ba Gãy Súng của nhà văn quá cố Cao Xuân Huy là một thí dụ.) Nội dung của Ký ở đây không hẳn chỉ có những miêu thuật khách quan, mà còn bao gồm những lý giải, đánh giá chủ quan, thậm chí tâm tình riêng của tác giả. Ở đây, Ký giao thoa với Truyện, và bởi thế, có thể xem những tác phẩm như vậy là Ký Văn Học.

Bây giờ hãy thử nói đến Tùy Bút.

Định nghĩa cơ bản của Tùy Bút là một thể tài văn xuôi không đề tài nhất định, theo dòng cảm hứng mà viết, tùy hứng mà phóng bút. Theo Từ Điển Nguyễn Quốc Hùng, Tùy Bút 隨筆 là “Theo bút mà viết. Lối văn không gò bó ý tứ.” Nói chung là gặp gì viết nấy, nghĩ sao nói vậy, tự do tuyệt đối. Tiền tố “tùy,” tiếng Hán, có nghĩa là “theo,” “thuận theo,” như trong các chữ “tùy nghi,” “tùy cơ ứng biến,” “tùy thế,” v.v… Với định nghĩa này, nếu bạn ra đường đi bộ thấy một hòn đá tầm thường, về nhà viết một bài dài năm nghìn chữ về hòn đá, thì đó là một Tùy Bút. (Kỳ thực, viết về một hòn đá mà thú vị, thu hút người đọc thì bạn là thiên tài văn chương chứ chẳng chơi đâu.) Ngoài ra, bạn có thể viết về tiếng ếch nhái, mùi hoa dạ lý, cái ngon của bát phở, mái tóc cô thiếu nữ thanh xuân, cặp đùi thon dài trắng muốt của cô hàng xóm người Mỹ nằm tắm nắng một ngày đầu Xuân, tật hay nhậu nhẹt của ông bạn họa sĩ dở hơi, thậm chí, tật nói nhiều của bà vợ trong nhà, v.v… Nó tựa như nghị luận mà không phải nghị luận, bởi nó tùy hứng và đầy cảm xúc chủ quan chứ không có tính cách biện biệt, phải trái hơn thua. Lô-gích của nó là một lô-gích phi-biện-luận, không cao kỳ, mà hấp dẫn, thân mật như câu chuyện tâm tình giữa hai người tri kỷ.

Suốt thời kỳ Trung Đại, văn học Việt Nam chỉ có duy nhất một tập Tùy Bút đáng ghi nhận là cuốn Vũ Trung Tùy Bút (Tùy Bút Trong Mưa) của danh sĩ Phạm Đình Hổ [1768-1839].

Vì đề tài phóng túng, tùy cảm hứng mà viết nên Tùy Bút rất thích hợp với những tâm hồn văn chương yêu chuộng tự do, không thích cái cương tỏa của hàn lâm, cái chiết tỏa của giáo điều. Ví dụ như Nguyễn Tuân trước Cách Mạng Tháng Tám. Cái “ngông” của Nguyễn Tuân đã khiến ông trở thành người viết Tùy Bút hay nhất Việt Nam trước 1945.

Nhưng phải đợi đến sau 1954 Tùy Bút mới có cơ hội bung nở thành một nghệ thuật dưới ngòi bút tuyệt luân của nhà văn Võ Phiến. Theo tôi, chính ông Võ đã đẩy thể tài Tùy Bút đến một cương vực nghệ thuật mới với tài nhận xét tinh tế, miêu thuật sắc bén, dùng chữ tài tình, đúng chỗ, hợp tình. Ngoài ra, giọng văn dí dỏm, nhẹ nhàng cũng khiến Tùy Bút Võ Phiến chinh phục  biết bao triệu con tim người đọc Việt Nam.

Viết Tùy Bút tưởng dễ mà không dễ, bởi nó không phải nơi cho bạn khoe kiến thức. Nó là mối giao cảm tuyệt hảo giữa bạn với sự vật; chỉ khi nào bạn đi vào linh hồn của sự vật thì lúc đó bạn mới có thể thành công trải lòng mình trên trang viết Tùy Bút. Võ Phiến viết tùy bút sở dĩ thành công là vì ông đã đi vào linh hồn của sự vật, từ “Ăn uống sự thường,” “Của mắm và người”  cho đến “Đô thị hoang sơ,” “Giã biệt mùa nắng,” quy tụ trong hai tập, tập nào cũng trên 300 trang, và bài nào cũng thấm đẫm cái phong vị thấm thía của chữ nghĩa và sự vật ông miêu thuật. Đọc Tùy bút Võ Phiến, bạn chỉ có thể thốt lên một câu rất ư bình dân: Trời, đọc “đã” quá!

Thế còn Tản Văn?

Ý nghĩa nguyên thủy của Tản Văn là “văn xuôi không có vần,” dịch từ la prose của Pháp hay prose của Anh. Cuốn Từ Điển Việt Nam của cụ Lê Ngọc Trụ ghi, “Tản Văn (danh từ): Văn xuôi, văn viết không cần ăn vần, cân đối, hay theo một khuôn khổ nào cả.” Từ Điển Nguyễn Quốc Hùng thì ghi Tản Văn 散文 là: “Văn xuôi không có vần điệu gì.” “Tản” còn là cách gọi thơ không vần, tự do, gần giống văn xuôi, không theo quy tắc thi pháp chặt chẽ nào. Cụm từ Prose Poem thường được dịch là thơ xuôi, hay “tản thi.” Thời cổ ở Trung quốc có một thể loại thơ gọi là “tản hành” với tính cách không hạn vần và niêm luật, tương tự thơ Tự Do hay thơ Tân Hình Thức ngày nay.
Nhà thơ Nguyễn Hòa Trước có một tập thơ xuôi – prose poems – tuyệt vời, nhan đề (gửi) em, mùa xuân sơ sinh, do NXB Văn Học Press xuất bản năm 2018.D

Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh cũng có một tập thơ tuyệt vời không kém, nhan đề Tản Văn Thi – có thể dịch là prose poems, cũng do NXB Văn Học Press xuất bản năm 2019.

Văn hào Alexander Solzhenitsyn, bên cạnh những tác phẩm tiểu thuyết nghìn trang nặng ký, cũng có một tập Prose Poems, xuất bản đầu thập niên 70.

Xem thế, cái gì không phải thơ nhưng cũng không phải văn thì người ta gọi là Tản Văn? Người xưa, cả Đông lẫn Tây, xem trọng văn vần, xem thường văn xuôi, nên chữ “tản” / prose hàm ngụ một ý nghĩa tiêu cực.

Tuy vậy, tôi nghĩ Tản Văn, theo thời gian, ý nghĩa có biến đổi phần nào. Ngày nay người ta hiểu Tản văn như một thể tài văn xuôi nghiêng về Tùy bút nhưng phóng túng hơn, có quyền vung bút “lạc đề” thoải mái, và có tính thơ. Yếu tính sau cùng có lẽ quan trọng hơn cả. Nói thế bởi tôi nghĩ đến hai cuốn tản văn Bóng Bay Gió ƠiLang Thang Nghìn Dặm của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh.

Trong bài “điểm sách” cuốn Bóng Bay Gió Ơi, tôi viết như sau:

“Đọc cuốn tản văn Bóng Bay Gió Ơi của Nguyễn Thị Khánh Minh, chúng ta nên đọc thật chậm. Như đọc thơ. Bởi đấy là thơ. Bởi chị viết văn như làm thơ, chữ nghĩa nuột nà tung tỏa, lôi cuốn như có bùa phép – hay bùa hương, chữ của chị – làm mê hoặc người đọc. Đọc chậm để có thể thẩm thấu tầng chữ nghĩa của văn chương và qua đó họa may chúng ta hòa nhập lên tầng cảm xúc và phần nào nhận ra tâm hồn của tác giả…”

Đó là câu chữ viết về một tập thơ chứ không phải văn xuôi.

Phân biệt giữa Tùy Bút, Tản Văn, và Ký, điều đó có lẽ không cần thiết lắm đâu, bạn ạ. Cái cần thiết cho chúng ta ngày nay là đôi lúc nên tạm quên cuộc sống bình nhật để tâm hồn lắng đọng, thả lỏng thần trí để thưởng thức nghe một khúc nhạc, ngắm nhìn một bức tranh, hay đọc một áng văn chương, bất kỳ thể tài nào, Truyện, Thơ, Ký, Tùy Bút, hay Tản Văn. Đó là ý nghĩa muôn đời của cuộc sống, xưa cũng như nay, đơn giản vô cùng mà sao chúng ta gần như quên lãng.

(Cảm ơn chị ND đã giúp tra cứu vài chữ tiếng Hán. – TYT)

Sau ngày 30 tháng 4, 1975, khi còn ở trong trại tị nạn Camp Pendleton ở Nam Cali, tôi có dịp ở chung lều với gia đình một ông bác sĩ thuộc lứa tuổi trung niên. Như nhiều người Miền Nam, ông tỏ ra cay đắng cho rằng Hoa Kỳ đã bỏ rơi Miền Nam. Ông cho biết sẽ xin tị nạn tại Pháp hay Canada, vì cảm thấy không thể sống tại đất nước đã phụ rẫy mình. Chúng tôi đứt liên lạc từ sau khi rời trại, và tôi không rõ gia đình ông gồm bà vợ, vợ chồng cô con gái và ba đứa cháu ngoại còn nhỏ đã phiêu bạt nơi nào.

Ai làm mất Nam Việt Nam là câu hỏi thời thượng dạo ấy. Như hồi quân của Mao Trạch Đông tiến chiếm Hoa Lục năm 1949 người ta đã hỏi nhau, đúng ra là đổ lỗi cho nhau, là ai đã làm mất Trung Hoa. Trở lại chuyện Việt Nam: Giới bảo thủ thì đổ cho là giới báo chí khuynh tả làm mất Miền Nam. Họ quên là số phận Miền Nam đã được định đoạt từ khi Tổng Thống Cộng Hòa Richard Nixon bắt tay với Trung Quốc ba năm trước đó, ngoài lý do chia rẽ khối cộng sản còn là nhắm vào thị trường béo bở với hàng tỷ người tiêu thụ tương lai. Mặc dù chính chúng ta dạo ấy không muốn tin như thế. Ai làm mất Miền Nam thì là chuyện đã rồi đối với tôi vào buổi sáng ngày 1 tháng 5 cách đây 45 năm thức dậy trong căn lều nhà binh mới dựng hôm trước, cỏ còn cao quá đầu gối, tối om, chỉ mới có tôi và hai đứa con nhỏ, 9 và 2 tuổi, được lùa vào đây nửa đêm hôm trước từ chiếc xe buýt đón chúng tôi đến từ Guam tại phi trường Los Angeles. Tôi nhìn ra những ngọn đồi thoai thoải phủ thảm hoa vàng giữa cái lạnh rơi rớt từ mùa đông vừa qua, nghe trong đầu câu hát Lòng thật bình yên mà sao buồn thế / Giật mình nhìn tôi ngồi khóc bao giờ… (Trịnh Công Sơn, “Bên Đời Quạnh Hiu.”) Có điều tôi không đang khóc. Mắt tôi ráo hoảnh.

Tôi lớn lên tiêm nhiễm lời răn dậy “tiên trách kỷ, hậu trách nhân,” tự trách mình trước rồi hẵng trách người. Và từ buổi sáng trên đồi hoa vàng nơi xứ người, tôi nhìn vào chính tôi, vào hồn của mảnh đất Miền Nam thân yêu nơi tôi lớn lên từ năm 1954 sau khi cha mẹ tôi mang chúng tôi 11 anh chị em chạy nạn cộng sản vào lập nghiệp. Đây cũng là nơi ra đời của một quốc gia mới mẻ, mang tên Việt Nam Cộng Hòa, được sự hỗ trợ tận tình của một Hoa Kỳ thời hậu đệ nhị Thế Chiến đã trở nên hùng mạnh nhất thế giới, và của các bạn đồng minh trong khối tự do, những quốc gia đã chịu ơn nước Mỹ giúp tái thiết thời hậu chiến. Không thể phủ nhận, đã hẳn, Hoa Kỳ thoạt kỳ thủy đã có chủ ý coi VNCH là “tiền đồn cuối cùng” để ngăn chặn làn sóng đỏ tưởng bách chiến bách thắng hồi ấy. Song người Việt Miền Nam chúng ta coi đây là cơ hội ngàn năm một thuở để xây dựng một xã hội tự do dân chủ thực sự đầu tiên trong lịch sử của hàng ngàn năm nếu không là sống trong chế độ quân chủ chuyên chế thì là bị đô hộ bởi ngoại nhân. Người Miền Nam không coi nhẹ nền cộng hòa còn rất non trẻ này. Trong khói lửa mịt mù và một bối cảnh chính trị nhiều biến động, họ vẫn kiên trì xây dựng và vun sới cho mảnh đất tự do nhỏ bé này.

Vậy mà, bằng cách này cách khác, chúng ta đã phí phạm cơ hội quí báu này. Tôi sẽ không dài dòng kể lể ở đây hàng núi lý do tại sao, cả nội lẫn ngoại. Chỉ vắn tắt là sau 20 năm dựng nước trong một bối cảnh chính trị bất ổn và một cuộc chiến đẫm máu đã lấy đi hàng triệu sinh mạng cả dân lẫn quân, kết cuộc là cuộc đại di tản lần thứ hai cho những người may mắn chạy thoát gọng kìm cộng sản ngày một siết chặt tự do sau cái ngày oan nghiệt 30 tháng 4. Hàng vạn ngàn người không may mắn đã liều mạng vượt biên và bỏ mình trong rừng sâu hay ngoài biển cả. Hàng ngàn vạn người khác của chế độ cộng hòa đã bị lùa vô các trại tập trung cưỡng bách lao động mọc lên nhan nhản khắp vùng đất nước. Nhiều người đã bỏ mạng. Họ là những quân dân cán chính, trí thức, khoa học gia, kỹ sư, bác sĩ, chuyên gia, văn nghệ sĩ – phần lớn tình nguyện đi trình diện hy vọng sau khi được “cải tạo học tập” họ sẽ được phép mang khả năng giúp xây dựng đất nước. Điều đó đã không xẩy ra trong một chế độ đòi hỏi “hồng hơn chuyên.”

Tổng Thống Kennedy có lần đã nói: “Chiến thắng có cả trăm ông cha và thất bại trở thành mồ côi” (Victory has a hundred fathers and defeat is an orphan). Người Việt Miền Nam, dù lưu vong hay còn ở quê nhà, thẩy đều đã trở thành “mồ côi.”

Nhiều thập niên qua, chúng ta đã sống trong thầm lặng, chịu đựng bị hiểu lầm và nhục nhã, cố gắng dồn mọi nghị lực vào việc xây dựng lại đời sống trên mảnh đất quê hương thứ hai, nuôi dậy con cái, vun sới gia đình, và có một dạo còn cung cấp cho người thân, bằng hữu còn kẹt lại sống thiếu thốn mọi sự. Vào giờ rảnh rỗi và dịp cuối tuần, chúng ta tập hợp nhau, người bàn chuyện quang phục quê hương; kẻ nói chuyện bảo tồn lịch sử và văn hóa đã và đang bị cộng sản tàn phá, hủy hoại ở quê nhà – cũng là một hình thức quang phục quê hương khi các giá trị dân tộc và nhân bản đang trên đà thoái hóa nơi quê nhà. Những hoạt động này đã giúp nối kết người Việt hải ngoại không chỉ ở Mỹ mà còn ở khắp thế giới lại với nhau. Các nỗ lực bảo tồn văn hóa và lịch sử của người Việt hải ngoại thường nhỏ giọt, riêng lẻ, phần lớn do cá nhân bỏ tiền túi ra thực hiện. Thảng hoặc, có những trường hợp nhận được tài trợ như nhà văn Võ Phiến được một tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội tài trợ đi sưu tầm tài liệu và thực hiện bộ “Văn Học Miền Nam Tổng Quan” vào đầu thập niên 1980. Dù vậy, kết quả của những nỗ lực này phải nói là phong phú, xuất hiện dưới hình thức sách báo, băng đĩa nhựa, hình ảnh, bầy bán khắp nơi. Những tác phẩm bị cộng sản cấm đoán, tịch thu, đốt hủy cũng đã được chụp và tái bản ở hải ngoại, ngay cả những bộ sách của thời tiền chiến được tái bản ở Miền Nam trước 1975 cũng theo chân chúng ta ra hải ngoại. Và hồi ký đủ loại đề tài phong phú của nhiều người viết thuộc mọi thành phần trong và ngoài nước, đặc biệt là các hồi ký của nhiều người đã từng là đảng viên cộng sản nay tỉnh ra. Từ ngày kỹ thuật Internet ra đời cách đây 25 năm, sinh hoạt văn hóa này càng nở rộ. Dù vậy, các ấn phẩm vẫn chỉ thu hẹp phần lớn trong phạm vi tiếng Việt, hạn chế đối với các thế hệ trưởng thành hoặc sinh ra và lớn lên ở hải ngoại. Gần ngày kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 đánh dấu ngày Miền Nam bị bức tử, tôi nhận được tập sách từ lâu trông đợi và cuối cùng đã tới tay. Đó là tuyển tập “The Republic of Vietnam, 1955-1975 – Vietnamese Perspectives on Nation Building,” bàn về công cuộc kiến quốc của Việt Nam Cộng Hòa, do Vũ Tường, giáo sư ngành chính trị học tại Đại học Oregon, và Sean Fear thuộc Đại học Leeds, Anh Quốc, biên soạn và nhà xuất bản Cornell University Press ấn hành. Đây là một tập hợp các bài thuyết trình tại cuộc hội thảo hai ngày Symposium Nation-Building in War: The Experience of Republican Vietnam, 1955-1975, diễn ra tại Đại Học Tiểu Bang California ở Berkely cách đây vài năm, do một nhóm giáo sư trẻ gốc Việt tổ chức.(*) Trong bài này, người viết sẽ dùng chữ “Kinh Nghiệm Kiến Quốc” để chỉ tên của tuyển tập này.

Bìa trước của tuyển tập ‘Kinh Nghiệm Kiến Quốc’

Các tác giả trong tập “Kinh Nghiệm Kiến Quốc” gồm các cựu viên chức, giáo sư, chiến binh, ký giả, và văn nghệ sĩ của một thời Miền Nam, nay đã trên dưới 80. Họ chia sẻ kinh nghiệm của một thời trẻ trung đầy lý tưởng trong công cuộc xây dựng tân quốc gia Việt Nam Cộng Hòa “như một quốc gia họ kỳ vọng trong trí tưởng với tất cả thiết tha, chứ không phải là một công cụ chính trị của chính phủ Mỹ,” theo các chủ biên trong bài giới thiệu tuyển tập. Đó là các lời chứng về chiến tranh, chính trị, kinh tế và đời thường của người dân thuộc mọi tầng lớp trong thời Đệ nhị Cộng hòa giữa bầu không khí sôi sục của trận chiến mà người Mỹ quen gọi là Chiến tranh Việt Nam. Khác với quan niệm phổ biến tại Mỹ do ảnh hưởng tuyên truyền của cộng sản, là chính phủ VNCH là bù nhìn của Mỹ, tập sách “cho thấy cuộc xung đột tại Việt Nam là một phân chia ý thức hệ giữa cộng sản bắc phương và phe không cộng sản Miền Nam, chứ không chỉ là cuộc chiến ủy quyền trong thời Chiến tranh Lạnh,” như các tài liệu đã giải mật cho thấy việc cộng quân đã được cộng sản quốc tế hỗ trợ như thế nào bên cạnh quyết tâm của người cộng sản đưa VN vào quỹ đạo ngoại bang này.

Tôi phải nhìn nhận là cho tới gần đây, ký ức cề công cuộc xây dựng đất nước thời cộng hoà của tôi chỉ thu gọn vào môi trường tôi có thể tạm cho là mình biết nhiều nhất, đó là văn học nghệ thuật. Tập sách “Kinh nghiệm kiến quốc” đã cho tôi một cái nhìn toàn diện về các công cuộc phát triển và tiến bộ khác trong công trình xây dựng đất nước trên bình diện qui mô. Khó mà có thể tưởng tượng tất cả chỉ diễn ra trong vòng 20 năm, và trong một bối cảnh chiến tranh khói lửa đầy chết chóc tang thương.

Qua năm phần chính – phát triển kinh tế, chính trị và an ninh, giáo dục, báo chí và truyền thông, và văn hóa và nghệ thuật – chia thành 17 chương, người đọc có dịp tham dự hàm thụ công cuộc dựng nước gian nan song đầy hào hứng, phấn khởi. Trong phần thứ nhất về phát triển kinh tế (Chương 1-4), các ông Vũ Quốc Thúc (giáo sư luật học), Nguyễn Đức Cường (cựu bộ trưởng thương mại kỹ nghệ), Phạm Kim Ngọc (cựu bộ trưởng kinh tế), và Cao Văn Thân (cựu bộ trưởng nông nghiệp và cải cách ruộng đất) thay phiên nhau trình bầy kinh nghiệm xây dựng hệ thống ngân hàng, tiền tệ còn phôi thai và chịu ảnh hưởng nặng nề của thời Pháp thuộc, cùng công cuộc phát triển kinh tế quốc gia, và đặc biệt là chương trình cải cách ruộng đất khá thành công thời đệ nhị Cộng hòa, qua chương trình Người Cầy Có Ruộng áp dụng vào năm 1970 nhằm mua lại đất ruộng của các đại điền chủ, phân phát và sang tên cho nông dân.

Chương 5-7 bàn về chính trị và an ninh, qua đó, cựu phát ngôn viên chính phủ Hoàng Đức Nhã chia sẻ kinh nghiệm tham dự các cuộc điều đình đã dẫn tới Hiệp định Paris 1973; ông Trần Minh Công, cựu đại tá giám đốc tổng nha cảnh sát, bàn về những thách thức trong việc gìn giữ an ninh trong bối cảnh cuộc chiến tranh du kích; và ông Bùi Quyền, cựu trung tá quân lực VNCH, tâm sự về những suy nghiệm trong vai trò người lính tiền tuyến, và chia sẻ phẩm định của ông về quân đội cộng hòa, và kinh nghiệm làm việc với các cố vấn quân sự Mỹ.

Lãnh vực nào cũng đầy thông tin quan trọng và hữu ích cho một công cuộc tái xây dựng một Việt Nam nhân bản, khai phóng và tiến bộ trong tương lai, song một trong các lãnh vực lôi cuốn tôi nhất là giáo dục vì đó chính là nền tảng cho sự phát triển vững bền và lâu dài. Trong hai chương 8 và 9, hai nhà giáo dục Nguyễn Hữu Phước và Võ Kim Sơn thay phiên nhau trình bầy về nền giáo dục của VNCH dựa trên nền tảng nhân bản, dân tộc và khai phóng – tôi không khỏi hình dung tới chiếc kiềng ba chân vững vàng trong bếp của người Việt xưa. Miền Nam đã nhận được sự tiếp tay của nhiều trường đại học tại Mỹ, trong đó có Đại Học Tiểu Bang Michigan giúp tái tổ chức và điều hành các hệ thống công lập; Đại Học Nam Tiểu Bang Illinois giúp huấn luyện các giáo viên tiểu học; Đại Học Ohio trong việc thiết lập hệ thống trung học tổng hợp; và Đại Học Wisconsin/Stevens Points tiếp tay khai triển hệ thống giáo dục cao cấp.

Kết quả là sau 20 năm xây dựng đất nước, VNCH đã thiết lập và phát triển được nhiều cơ sở giáo dục như các trường trung học tổng hợp, hệ thống đại học cộng đồng, hệ thống trắc nghiệm và thẩm định, và các đại học huấn luyện giáo chức. Trừ vô số các trường do tư nhân đứng ra thiết lập khắp nơi ở Miền Nam, còn tất cả các trường công, từ tiểu học tới đại học, hoàn toàn miễn phí. Gần đây trên Internet, tôi thấy xuất hiện những bài viết rất cảm động nói lên niềm tiếc nuối đối với hệ thống giáo dục của Miền Nam. Điển hình là bài khá dài và chi tiết, tựa là “Nhìn lại nền Giáo dục VNCH: Sự tiếc nuối vô bờ bến,” về hệ thống giáo dục của Miền Nam.(**) Nhiều người trẻ trong nước cũng đã bầy tỏ niềm nuối tiếc đã không được lớn lên trong môi trường đó.

Một cuốn sách dậy địa lý cho học sinh lớp ba, do Bộ Văn Hóa và Giáo Dục ấn hành khoảng thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Trái, bìa trước của sách; giữa, hai trang trong của sách; và trái, bìa sau của sách, với hàng chữ: “Dân chúng Hoa Kỳ hợp tác với Bộ Văn Hóa và Giáo Dục của Việt Nam Cộng Hòa thân tặng các Trường Sở tại Việt Nam,” và bên dưới: “Sách này tặng, không bán.”

Nhờ nền giáo dục phổ biến và phần lớn miễn phí, số học sinh, sinh viên gia tăng, nhu cầu sách vở cũng nhờ vậy mà tăng trưởng, tiếp tay đẩy mạnh các sinh hoạt văn hoá khác, trong đó có các ngành thuộc văn học nghệ thuật và báo chí.

Trong các Chương 10-13, ba nhà báo Phạm Trần, Vũ Thanh Thủy và cá nhân tôi, Trùng Dương, chia sẻ kinh nghiệm của mình. Trong khi ông Phạm Trần thảo luận tổng quát về nền tảng pháp lý của ngành truyền thông và sinh họat báo chí trong đó điểm nổi bật là đại đa số báo do tư nhân làm chủ và tự tài trợ, khác với trong chế độ cộng sản; thì Trùng Dương kể về cuộc đấu tranh cho đệ tứ quyền, đó là quyền tự do báo chí và quyền kiểm điểm việc làm của chính quyền – điều không thể xẩy ra trong một xã hội cộng sản. Đặc biệt là cựu phóng viên chiến trường Vũ Thanh Thủy chia sẻ kinh nghiệm tường thuật từ tuyến đầu độc đáo của mình, đồng thời phơi bầy sự thiếu sót và không chuyên nghiệp của các ký giả ngoại quốc mà chị gặp trong khi hành sự, song chính họ lại là những người có ảnh hưởng lớn tới dư luận của quần chúng Mỹ về cuộc chiến tại Việt Nam.

Trong Chương 14, nhà văn Nhã Ca, tác giả “Giải khăn sô cho Huế” và nhiều cuốn tiểu thuyết khác, mô tả linh động cảnh trăm hoa đua nở rực rỡ chưa từng có trong lịch sử văn học Việt Nam – sự rực rỡ đã bị cộng sản bóp chết khi họ chiếm được Miền Nam, như họ đã làm với phong trào Nhân Văn Giai Phẩm vào giữa thập niên 1950. Nữ diễn viên Kiều Chinh, một khuôn mặt quen thuộc của ngành điện ảnh không chỉ ở Miền Nam mà còn tại thủ đô điện ảnh Hollywood, đưa người đọc duyệt qua sự phát triển đầy hứng khởi của ngành điện ảnh của Miền Nam ở Chương 15.

Và cuối cùng, kết thúc tập “Kinh Nghiệm Kiến Quốc,” trong Chương 16 và 17, là cái nhìn của hai người trẻ,  Nu-Anh Tran thuộc Đại Học Connecticut và Tuan Hoang thuộc Đại học Pepperdine, về sự cần thiết lên tiếng của các vị lớn tuổi trong cộng đồng Việt đã sống qua thời cộng hòa để đóng góp vào kho ký ức lịch sử Hoa Kỳ.

Cuộc chiến tại Việt Nam hiển nhiên “không chỉ là cuộc chiến ủy nhiệm,” các chủ biên tuyển tập kết luận. “Cuộc tranh chấp cộng sản/cộng hòa tại Việt Nam không thể hóa giải này đã tồn tại ngay cả trước khi quân đội Mỹ vào tham chiến, và nó tồn tại tới ngay cả bây giờ trong cộng đồng Việt trên khắp thế giới. […] Với nguồn gốc lịch sử và ý thức hệ sâu xa của cuộc nội chiến tại Việt Nam, bên cạnh vai trò quan trọng của Miền Nam trong việc khuôn đúc nên kết quả, ta không thể tiếp tục tảng lờ mà không kể tới ảnh hưởng của di sản cộng hòa trên nguồn gốc và hậu quả của cuộc chiến.”

Khi tôi điểm tập sách này trong cảnh cấm phòng tại gia vì đại dịch Covid-19,con vi trùng vô hình song tàn độc đang tàn phá khắp thế giới, biến nước Mỹ từ một quốc gia giầu mạnh nhất thế giới – nơi mọi quốc gia lớn bé vốn vẫn trông vào để tìm sự lãnh đạo đưa nhân loại qua các cơn khủng hoảng trong quá khứ – đã và đang trở thành trung tâm dịch bệnh, không cả có đủ những vật liệu tầm thường như khẩu trang, đồ bảo hộ giúp giữ các bác sĩ, y tá và các nhân viên liên hệ an toàn trong công tác cứu giúp bệnh nhân. Con số ca nhiễm bệnh và tử vong tại Mỹ đã vượt qua mọi quốc gia khác trên thế giới trong vòng có vài tuần lễ. Không ai còn dám trông chờ vào nước Mỹ nữa. Hiện tượng này lại càng khiến tôi thấy thiết tha nhớ về một dĩ vãng không còn. Dù vậy, tôi vẫn tin tưởng nếu ta sống sót qua cơn khủng hoảng, di sản của quá khứ chắc chắn phải sẽ giúp ta xây dựng một tương lai bền vững hơn, nếu ta biết học hỏi từ kinh nghiệm.

Tuyển tập “Kinh nghiệm kiến quốc” hiện chỉ mới có bản Anh ngữ, có bán tại Amazon.com và tại Web site của Cornell University Press tại  cornellpress.cornell.edu, giá $24.95. Được biết ấn bản Việt ngữ sẽ ra mắt vào mùa thu năm nay.   [TD2020/04]

Chú thích:
(*) Xem bài tường thuật “UC Berkeley Nhìn Lại 20 Năm VNCH Xây Dựng Quốc Gia Trong Thời Chiến, ” kỳ 1 tại https://damau.org/44777/uc-berkeley-nhin-lai-20-nam-vnch-xay-dung-quoc-gia-trong-thoi-chien-ky-12, và kỳ 2 tại https://damau.org/44805/uc-berkeley-nhin-lai-20-nam-vnch-xay-dung-quoc-gia-trong-thoi-chien-ky-22 (**) Huỳnh Minh Tú, “Nhìn lại nền Giáo dục VNCH: Sự tiếc nuối vô bờ bến,” https://tuxtini.com/2013/12/01/nhin-lai-nen-giao-duc-vnch-su-tiec-nuoi-vo-bo-ben/ [TD2020/04]

Nguồn: https://www.tvvn.org/tan-van-tuy-but-va-ky-giong-khac-nhau-cho-nao-trinh-y-thu/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s