Kỷ Niệm Rừng Lá Thấp – Trần Công Thành

Trần Công Thành

https://bienxua.files.wordpress.com/2020/12/931b9-rung-la-thap-1.jpg

Cứ mỗi lần nghe bài hát này của Nhật Trường về rừng lá thấp thì tôi nhớ lại thời tuổi trẻ của tôi với nhiều kỷ niệm êm đềm bên người cha mà tôi không được may mắn chia sẻ với ông trong những khoảng đời mà tôi cần ông nhất để trở thành người lớn, học hỏi để đối phó với cuộc đời. Có lẽ cuộc đời của mọi người bị định đoạt bởi một số phận mà mình khó tránh được nhưng không phải vì vậy mà chúng ta cứ bỏ mặc cho số phận, số phận của mình cũng do chính mình tạo nên từ cách suy nghĩ và hành động trong chính cuộc đời này mà không cần phải đến kiếp sau mới thấy kết quả.

Bình Tuy là vùng đất mới giữa Long Khánh và Phan Thiết, đó là nơi mà có nhiều cây lá buôn. Ngày xưa dân Việt Nam nghèo chưa có nhà bằng ciment nhiều, dân quê hoặc mới lập nghiệp thì kiếm một mảnh đất trống, dựng vài cây cột rồi đi ra rừng hái lá buôn về làm nhà, chắn gió che mưa là có một mái ấm gia đinh. Muốn di chuyển cũng tiện, gở lấy cây, còn lá đốt đi, nếu không thì đốt tuốt cũng xong, đến nơi khác tạo dựng nhà mới. Tôi muốn ghi chép lại khoảng đời của mình ở nơi này, một trong những khoảng đời đẹp nhất đối với tôi, có cha, có mẹ, có anh, có em, có rừng, có biển che chở và bảo bọc không kể đến những tình thương từ những người láng giềng thân thương của ngày xưa. Nhớ có lần đi Thánh Linh lễ hội Đức Mẹ Tà Bao với ba tôi bằng xe Sachs có đi ngang cánh rừng lá sầm uất nầy, nhiều khúc đường bị cây che ngang từ hai bên bờ va chụm lại ở giữa, có lúc không thấy ánh mặt trời, lá buôn thì dầy đặc xung quanh đường. Cái loại lá nầy cực mạnh, người ta hái rất nhiều nhưng vài ngày sau là nó lại mọc ra lại và thật là tốt, lá xanh tươi, không tì vết, cắt về , phơi khô chút rồi trải ra làm mái nhà hoặc tường nhà cột chặt lại bằng những sợi giây sống lá là xong, một mái ấm gia đinh thật tiết kiệm và đơn giản chỉ có điều là nó cũng rất dễ bị mục, chừng vài mùa nắng mưa là nó bị mục nát và mình phải làm lại từ đầu, nhưng đó cũng thích ứng với những dân vùng « kinh tế mới » như dân Rừng Lá của Bình Tuy ngày xưa.

Những năm 65, 66 con đường quốc lộ số một từ Phan Thiết đến Long Khánh bị đứt đoạn. Khúc đường này liên tục bị đắp mô đặt mìn nên không còn sử dụng được nữa. Từ Phan Thiết vào Saigon phải đi bằng đường ghe đến khoảng năm 67 mới được chính quyền lập lại giao thông và đặt những đồn lính ở những cây cầu chính để giữ cầu và bảo vệ an ninh. Từ Láng Gòn đến Long Khánh trở thành vùng không người ở và từ tối đến sáng sẽ là khu oanh tạc tự do. Mỗi sáng phải có quân đội đi mở đường coi có bị đắp mô hay gì không và sau đó mở cổng để các xe dân sự được đi đến tối thì đóng cổng và những ai còn ở ngoài cổng ấp chiến lược được coi như là « thuộc thành phần khác » và tính mạng sẽ không được bảo đảm bởi quân đội sau giờ giới nghiêm.

Sau khi quốc lộ số một được mở thì người dân xứ tôi bắt đầu lên rừng kiếm ăn, khai thác gỗ và bán lại cho những lái buôn hoặc trại cưa ở Saigon ra mua. Ba tôi được mướn để lo thu mua tại chỗ cây gỗ và sau đó xe be từ Saigon ra chở về Saigon bán lại cho những trại cưa hoặc xuất cảng. Trong mấy năm nầy khoảng 66-69 là những năm tôi theo ba tôi lên rừng làm gỗ và gần gũi với cái rừng lá thấp nầy.

Lúc mở đường trở lại thì quân đội Mỹ đã áp dụng chính sách khai hoang ở Việt Nam và dĩ nhiên khu rừng lá cũng bị agent orange làm thành trơ trụi, những cây cối khoảng 100 m chung quanh đường đều bị chết sạch, chỉ còn lại là những cây lá buôn, sau khi chết bên ngoài, đến lúc mưa đến nó lại mọc lên và vẫn tươi tốt, nhờ nó mà dân cư còn có được những bóng mát để núp nắng trong những ngày dài căn cứ nầy.

Công việc của Ba tôi và tôi cũng rất nhàn, cứ việc ra ngoài rừng lá, đến những nơi dépot cây chờ những người đi rừng về, nếu họ có cây sẽ kêu mình bán. Tôi phụ ba tôi đo chiều dài và đường kính của khúc gỗ, sau đó tính tiền và đóng mộc sở hữu của người chủ vựa cây để làm vết, canh giữ đừng để ai trộm gỗ, chờ vài ba ngày sau đó xe be từ Sài Gòn ra chở đi. Tôi còn nhỏ nên việc thọt tay vô giữa mấy khúc gỗ để đo cũng dễ dàng nên cũng giúp được cái gì đó cho ba tôi nhưng tôi nghĩ cái hữu dụng hơn hết là sự hiện diện của mình, giữa trời giữa đất bao la, ở vùng đất ‘no man’s land’ có thằng con ở kế bên cũng chia sẻ phần nào sự cô đơn của ổng. Bây giờ tôi cũng cảm nhận được điều đó, trong những khó khăn có những thằng con để sai việc này việc nọ cũng làm cho cái khó khan trở thành dễ chịu hơn. Những ngày dài căn cứ với những con đường đất đỏ đầy ổ gà và những nhọc nhằn của nó, đêm đêm về lại được ru bằng những tiếng rỉ rả của đại bác, cuộc đời không gì bằng hở các bạn, những kỷ niệm ít có và khó quên của cuộc đời.

Đại bác ru đêm chắc nhiều bạn nghe đến qua bản nhạc “Đại bác ru đêm” của Trịnh Công Sơn nhưng chắc cũng ít bạn đã được nếm qua. Đặc khu Rừng Lá có lẽ là nơi nổi tiếng dữ dội nhưng lại rất an bình trong cuộc chiến ở Việt Nam, có lẽ là nơi dưỡng quân của mấy ông trước khi vô chạm mặt Đồng Nai Saigon.

Mấy ổng thì rất nhiều nhưng không ai động đậy gì vì muốn được yên lành để dưỡng binh, còn tàu Mỹ thì luôn đậu ngoài khơi và không biết bị chứng gì, cứ đêm về là đều đặn nã đại bác và hỏa châu chiếu sáng liên tục như luôn nhắc nhở các bạn bên kia rằng tôi vẫn ở đây nên dân chúng cứ tối về là được tiếng ì ạch của đại bác ru ngủ. Nghe riết thành nghiện, nếu tối nào không nghe thì cảm thấy không yên giống như mình bị bỏ quên không ai để ý đến mình, đúng là con người trong hoàn cảnh phải thích ứng để mà sống, phản xạ của sự sinh tồn.

Những ngày có học thì tôi đi học bình thường, những ngày không làm gì thì tôi theo ba tôi đi căn cứ. Tối trước đó má tôi đã chuẩn bị đồ ăn cho, hai hộp nhôm sữa Guigoz, một hộp cơm, một hộp đồ ăn rồi hai cha con lên đường.

Tuy chẳng siêng gì mấy nhưng tôi học cũng được, chỉ cần rồ ga một chút lúc cuối năm là mọi việc ô-kê, năm sau tà tà tiếp tục nên cũng chẳng lo gì chuyện học hành, suốt ngày đầu óc chỉ để mà mơ, ngắm trời ngắm trăng ngắm nước và chờ trời gian đi qua. Tôi cũng chẳng có nhiều tham vọng gì, sống để mà sống như bao người khác thế thôi, được đi lính hạ sĩ quan hay sĩ quan là hách rồi và nhất là không bao giờ muốn mình phải là một gánh nặng cho gia đinh. Lúc sắp thi tú tài 1, thấy cha mẹ tôi cũng đã đuối sức để lo cho mấy anh học ở Saigon tôi nói với má tôi rằng xong tú tài 1 tôi sẽ đi sĩ quan để sống tự lập, cho má bớt gánh nặng và còn phải lo tiếp cho mấy em. Lúc đậu xong tú tài 1 và có kết quả tốt nên ba má tôi cũng muốn tôi tiến xa hơn và con đường ra đi xứ ngoài sau lớp 12 là phương án tối ưu nhất đến với tôi để bớt gánh nặng cho gia đinh và cuộc đời của tôi cũng được mở rộng hơn .

Hành trang xong thì hai cha còn lên đường, thường thì cũng không đi sớm lắm vì qua khỏi Láng gòn thì phải chờ lính họ mở cổng mới được đi ra ngoài. Từ Láng Gòn chúng tôi đi lên ngã tư 46 gặp quốc lộ và theo quốc lộ đến cây số 63 ranh giới giữa Bình Tuy và Long Khánh. Dọc đường ghé các bãi đổ cây xem có ai kêu mua bán gì không. Nhiều lúc hai cha con ngồi ở bãi cây giữa rừng thì có những đoàn lính đi qua, họ ngừng lại hỏi làm gì ở đây thì ba tôi nói đi làm rừng mua cây là xong. Những anh lính trẻ chắc là dân Saigon ra và cũng rất dễ thương, mấy ảnh cũng hay ngồi lại nói chuyện với Ba tôi và tôi như là để giết thời gian. Có những hôm đường bị đắp mô thì họ chận xe lại để quân đội giải quyết và sau đó mới cho dân chúng di chuyển, không đi được thì ngồi chờ thế thôi, không thắc mắc gì, không có cái vẻ nóng nảy hay bực dọc gì như khi bị kẹt xe ở đường xá Paris.

Con đường từ Láng gòn đến cây số 46 ngày xưa chỉ là con đường đất đỏ, nó rất là lầy lội mỗi khi trời mưa, không có dân cư ở nên ra khỏi Láng gòn là phải chạy một mạch đến 46 mới có một đồn lính và một vài túp lều là của những người dân dựng lên buôn bán. Thực ra cũng chẳng buôn bán gì, chỉ là chỗ nghỉ chân cho những người đi từ Sàigòn ra Phan Thiết hoặc ngược lại và muốn tẻ vô Bình Tuy. Những lúc bị mắc mưa lớn, cha con tôi cũng ghé lại mấy cái quán này để trú mưa hoặc ăn tạm một gói mì cho ấm bụng.

Vì là những cây cầu xây tạm nên lâu lâu có một trận mưa rừng lớn là đêm sau chúng tôi lại chứng kiến cái cảnh đất lở, cầu sụp và cả tuần liên tiếp là một màn kẹt xe ngoạn mục. Ngày nào cũng thế hai bên chân cầu là những cảnh đời tấp nập, xe ngừng, xe đi, người xuống, người lên, thật là cực nhọc đối với họ nhưng đối với tôi cũng là những ngày vui, chẳng làm gì, ngồi nhìn cảnh đời từ sáng đến chiều, náo nhiệt. Chính quyền làm cầu tạm, đi qua từng xe một. Từ quan đến dân, tiểu thơ hay dân bụi đời ai nấy đều xăn quần lội nước, vui thật là vui.

Lên căn cứ 63 ở chung với những người dân đi làm rừng cũng rất là thú vị, gia đinh chú Ba là nơi dừng chân của cha còn tôi trong những ngày căn cứ. Nhà không xa chỗ quân đội đóng mấy, dọc theo con suối có khoảng chừng 10 gia đinh cất nhà lá sống và đi rừng. Đây là khoảng thời gian mà tôi ăn thịt rừng nhiều nhất, ngoài những món nai mễn gà rừng và đặc sắc hơn là nhím hoặc kỳ đà là món ăn thường xuyên mỗi trưa ở đây. Anh em tương trợ lẫn nhau ăn uống sinh hoạt thoải mái mặc dù sống trong một hoàn cảnh rất là tạm bợ và nguy hiểm nhưng cũng chẳng ai khóc lóc gì. Vài bữa thì hay tin bên nầy hoặc bên kia chết ở ngoài quốc lộ hoặc trong những cuộc tấn công cầu. Chiều về khi màn đêm sắp phủ xuống thì không gian như ngừng lại, không một bóng xe trên quốc lộ, ở Phan Thiết đã đóng cửa không cho xe ra cũng như ở Long Khánh không còn cho xe về. Đường không người, ấn tượng nhất là những buổi chiều sau khi tạnh mưa, một màu sương trắng đục từ trong rừng úa ra, những cây bằng lăng nở rộ bông mầu tím, núi rừng hoang dã, trên quốc lộ có những con gà rừng nhởn nhơ không sợ ai, đẹp nhất những ngày may mắn gặp được chim công xõa cánh hùng dũng giữa quốc lộ, cái đẹp lạnh lùng của rừng núi vẫn in khắc trong tôi cho đến ngày hôm nay.

Ba tôi mất cũng gần 30 năm rồi. Lúc nhỏ thì mạnh ai nấy sống, chỉ có khoảng thời gian ở rừng lá được coi là sống và chia sẻ với nhau được vài năm, sau đó tôi đi mất và người cha ấy không còn nữa. Lúc tôi lớn lên ở xứ ngoài, bươn chải, tính toán, định đoạt một mình. Nhiều khi thật là bỡ ngỡ, ước gì lúc đó có được một lời khuyên của một người cha để mình cảm thấy an tâm của sự chọn lựa mà tiến tới. Cuộc đời nhiều khi cũng nực cười muốn có một lời khuyên hay chỉ trích để mình được hoàn thiện hơn nhưng cũng không phải lúc nào cũng có được hở các bạn Giờ thì rừng lá thấp không còn nữa hoặc là tôi không còn thấy nữa. Với khuynh hướng thời nầy ai cũng tranh nhau cất nhà dọc theo quốc lộ, những cảnh sinh hoạt và những đặc thù của những vùng đất mình đi ngang cũng gần như biến mất, chỉ còn nhà và nhà. Ngày xưa đi một đoạn đường là một cảnh thiên nhiên khác nhau, vùng đất đỏ, đất đen, đất cát, có cây trái gì đặc biệt làm cho người ta thấy hứng thú để dừng lại chỗ này chỗ kia chớ không như ngày nay. Bây giờ chắc có lẻ là đi cho lẹ để đến nơi rồi thôi. Chắc những cảnh « bước tới đèo Ngang bóng xế tà, cỏ cây chen lá, lá chen hoa » chỉ còn trong tưởng tượng của những người còn mơ và chưa chấp nhận hiện tại như tôi.

Vài hàng chia sẻ với các bạn một khoảng đời của tôi ở vùng rừng là thấp, có lẽ là những cảnh nầy ở vùng lá thấp sẽ không còn nữa và tôi cũng chẳng muốn cái khoảng đời này tái diễn cho mai sau, chỉ muốn ghi lại những gì đã qua của chính mình và luôn tôn trọng nó vì nó là một khoảng đời của một số người như tôi. Nhân danh rừng là thấp, tôi cầu xin cho đất nước được thanh bình, mọi người, mọi gia đinh được bình an, đoàn tụ và cùng nhau chia sẻ cuộc sống.

Cho đến bây giờ tôi cũng chưa có được một cái nhận định chính chắn về sự đoàn tụ gia đinh. Có lẽ vì xa nhà từ lúc nhỏ và phải đối phó không ngừng với cuộc đời nên đối với tôi cái cảm giác an bình mà mình có được khi được trở về quê hương bên những người thân, được bảo vệ yêu thương mà không cần phải tính toán, mình sơ hở thì cũng có người khác lo và che chở là một điều không tưởng và như là một món quà quá lớn đối với tôi. Tôi phân vân cho chính cuộc đời tôi và con cái tôi, có phải cần thiết là ai nấy cũng phải tung ra ngoài kiếm sống để có hạnh phúc hay không. Giờ đây với hoàn cảnh như ở Việt Nam và ngay cả bên Pháp hiện nay, chúng ta có còn cần phải tung ra đi kiếm ăn ở xứ này xứ nọ hay là ráng tìm cách ở gần gũi với nhau mới là điều tốt nhất. Mọi việc đều thay đổi , cái khoảng cách không gian thì được thu ngắn lại bằng những phương tiện hiện đại máy bay, Internet , Facebook … nhưng cái gì thay thế được cái cảm giác khi được một bàn tay của người mẹ rờ trán mình và chăm hỏi lúc mình cảm thấy khó chịu và mệt mỏi.

Lại một lần nữa mượn câu hát này của Trịnh Công Sơn để diễn tả tâm sự tôi: “Dù thật lệ rơi nhưng mà lòng không buồn mấy, giật mình tỉnh ra ồ nắng lên rồi”. Thái độ không vui không buồn và nước mắt đó làm tôi cũng ngạc nhiên về con người tôi, đến mức này rồi sao ?

Trần Công Thành

Cergy một chiều đầu Đông

Nguồn: https://www.tvvn.org/ky-niem-rung-la-thap-tran-cong-thanh/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s