Lan GASTRODIA Không Lá Nở Hoa & Thiên Ma, Vị Thuốc Đặc Biệt

DS Trần Việt Hưng

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/87/Gastrodia_elata_1.JPG/1200px-Gastrodia_elata_1.JPG

Chi Gastrodia, họ Orchidacea là một chi lan nhỏ, chỉ gồm khoảng 40 loài, không được giới ‘chơi lan’ chú ý vì hoa không đẹp, chóng tàn, nhưng với các nhà thực vật thì Gastrodia lại có một số đặc tính thú vị. Riêng về phương diện dược học thì Gastrodia là một cây thuốc đáng lưu ý. Gastrodia elata hay Thiên Ma là một trong 3 loài lan, được Dược học cổ truyền Tàu dùng làm thuốc (Hai cây kia là Dendrobium nobile = Thạch hộc (xin xem bài lan Dendrobium) và Bletilla striata=Bạch cập (xin xem bài lan Bletilla).
Chi Gastrodia trên thế giới gồm khoảng 40 loài phân bố tại Madagascar, Á Châu nhiệt đới, khu vưc Oceania (Đại Dương Châu), Nhật, Trung Hoa, Đài Loan, Triều Tiên, vùng Viễn Đông Nga. Việt Nam có khoảng 7 loài. Trung Hoa, theo Flora of China có 15 loài.
Nhà nghiên cứu Lan, Bùi Xuân Đáng, trong ‘Lan Rừng Việt Nam A-Z ‘ đã ghi nhận và mô tả 7 loài, hầu như chưa được đặt tên Việt, chỉ có Gastrodia foldosa được gọi là Lan Trân Châu. GS Võ văn Chi trong ‘Sách tra cứu tên Cây cỏ VN’ chỉ ghi một loài duy nhất là Gastrodia taiensis và gọi chung các lan Gastrodia là Lan Trân Châu (?)
Gastrodia, đối với thổ dân tại Úc và Tân Tây Lan là một nguồn thực phẩm khá đặc biệt.

Đặc điểm chung của Gastrodia:
Các loài lan trong chi Gastrodia đều không có lá, có thân rễ phình lên thành củ và mọc hoa trên mặt đất. Cây không có lục diệp tố (chlorophyll) để tự tổng hợp dưỡng chất nên phải sống cộng sinh với một cây nấm. Hạt của Gastrodia cần bị thêm một loài nấm khác xâm nhập để có thể tạo thành củ.

Mô tả một vài Gastrodia:

1- Gastrodia theana:
Đây là một loài lan Gastrodia, chỉ gặp tại Việt Nam, được Averyanov mô tả lần đầu tiên vào 2005 từ một mẫu cây thu hái tại Thừa Thiên (Huế). Tên “theana” được đặt để ghi nhận công của Phạm văn Thế và Anna L. Averyana.
Tác giả Phạm văn Thế đã mô tả lan này như sau (Biodiversity of Viêtnam, 27 November 2013):
‘ Đây là loài lan hoại sinh không diệp lục, không lá mọc trên đất mùn. Chúng có thân rễ nạc, phình lên dạng củ, màu nâu xám, dài khoảng 2-4 cm, đường kinh thiết diện củ khoảng4-8 mm. Thân mọc thẳng đứng hoặc hơi cong, màu trắng đến mầu nâu vàng sáng. Thân cao 2.5-5 cm, dày 2-4 mm và mang 2-3 lá bắc hình trứng, rộng và chóp lá tù. Lá bắc dài 3-5 mm, rộng 2-4 mm, có rất nhiều vẩy nhỏ hẹp ở sát gốc. Chùm hoa ở chót thân mang 3 đến 8 hoa mọc sát nhau. Lá bắc hoa màu trắng đến nâu vàng sáng, hình trứng, dàì 2-5 mm rộng 1.5-2mm. Cuống hoa dài 3-5 mm. Hoa có hình dạng cái chuông, hầu như không mở, ở mặt trong bụng hơi phẳng. Hoa có thể tồn tại hơn một ngày. Các lá đài và cánh uốn cong kết hợp vơi môi, không bao giờ xòe ra. Lá đài màu trắng đến hơi hồng, Cánh hoa màu hồng-salmon, hình tam giác hẹp. Môi hoa màu xanh lá cây, đỉnh và gốc màu đỏ hồng tươi.’
Gastrodia theana, trổ hoa vào các tháng 3-4, mọc trong các khu vực rừng nguyên sinh, cao độ 300-400m ,trên đá phiến sét và đất cát, đặc hữu của Thừa Thiên-Huế.

2-Gastrodia sesamoides:
Gastrodia sesamoides được gọi là Potato Orchid, Bell Orchid, Cinnamon Bells, là cây lan đặc biệt của vùng Úc, Tân Tây Lan, thổ dân dùng củ làm thực phẩm. Cây mọc trong rừng rậm, khó tìm nên người bản xứ thường phải theo dõi một loài đại thử (bandicoot) hay đào bới đất để ăn củ này. Gastrodia sesamoides có thể mọc cao 18-75 cm, phát hoa mang 2-20 hoa, cánh đài màu kem và cánh hoa vàng, nâu nhạt kết hợp thành một ống không mở xòe ra. Hoa tự thụ phấn, thoảng mùi thơm của quế. Củ chứa nhiều chất bột, nên được xem như một loại khoai. Cây rất khó trồng vì tùy thuộc vào nấm có mặt nơi đất trồng, ty sợi của nấm giúp nuôi lan. Người Maori tại Tân Tây Lan gọi B. semoides là huperei hay perei, xem cây như một cây ‘thiêng’, khi đi đào cây, không ‘nhắc tên’ vì sợ cây nghe hiểu nên biến mất.

Gastrodia elata và vị thuốc Thiên Ma
Tập sách ‘Cây Thuốc và Động Vật Làm Thuốc Ở Việt Nam’ của Viện Dược Liệu VN, tập 2 trang 860 có mô tả về Thiên Ma (tuy cây này.không có tại Việt Nam) như sau:
.’ Cây nhỏ, ký sinh, sống lâu năm. Rễ củ mập, mọc ngang, thuôn hoặc hình bầu dục, dài 10-15 cm, đường kinh 4.5-6 cm, màu vàng nâu nhạt có nhiều ngấn ngang. Thân mọc thẳng, không phân nhánh, cao khoảng 1m, màu đỏ pha lam, mặt ngoài gồm những lá tiêu giảm thành vẩy, mặt trong rỗng. Cụm hoa tận cùng thành bông thưa gồm nhiều hoa nhỏ, màu vàng đỏ, có cuống ngắn, lá bắc dài hơn hoa, đầu nhọn, đài có răng gần đều; tràng có cánh tròn, hàn liền với bao hoa thành ống loe rộng.’
(Điểm cần lưu ý: Gastrodia là loài lan cộng sinh (symbiotic), không phải là ký sinh (parasitic)
Flora of China 25-2009 ghi rõ hơn: Cây cao trung bình 30-70 cm, cá biệt có thể đến 200 cm. Bộ rễ thường dạng xoắn (ellipsoid). Hoa có thể từ 20 đến 50 chiếc màu cam, vàng nhạt, xanh-lam nhạt, vàng-trắng.Mọc tại vùng rừng rậm cao độ 400-3200m ở An Huy, Phúc Kiến, Hồ Nam, Hồ Bắc, Sơn Tây, Tứ Xuyên, Nội Mông, Vân Nam, Đài Loan. Ngoài Trung Hoa, cây mọc tại Bhutan, Ấn Độ, Nhật, Đại Hàn, Nepal và vùng Viễn Đông Nga.

Trường hợp cộng sinh của Gastrodia elata:
Để sống lan Gastrodia tùy thuộc hoàn toàn vào một loài nấm trong đất Armillaria mellea (nấm mật ong). Nấm mật ong tuy có thể phát triển thành dạng quả thể, nhưng thường sống dưới dạng ty thể (sợi) nhiều hơn. Lan Gastrodia còn cần thêm một loại nấm khác để nẩy mầm Mycena osmundicola, nấm này xâm nhập hạt của lan, để lan phát triển thành củ, và sau đó với dưỡng chất từ Armellaria, phần củ dưới mặt đất tăng trưởng để sau cùng trổ hoa nhô từ dưới đất lên.
Nấm Armillaria, không bắt buộc phải tùy thuộc vào Gastrodia, chúng có thể ‘tìm ăn’ trên các cây khác, gây hại cho cây và có thể làm chết cây. Nấm không những ký sinh nơi cây sống mà còn tiếp tục sống bám vào cả thân cây đã mục (Xin đọc bài Nấm Armillaria trong ‘Nấm: Thức ăn, Vị thuốc’ của cùng tác giả)
Điểm đặc biệt của Gastrodia là lan ‘hình như’ giữ được Armillaria không lan tràn xa hơn nơi lan mọc để gây nhiễm các cây cối khác. Sự kiện Gastrodia ‘kiểm soát’ sự lan tràn của Armillaria chưa được giải thích rõ rệt, có thể do lan tiết ra phytoallexins, hợp chất ức chế nấm, ở một lượng vừa đủ để giữ nấm không lan. Trong khi Armillaria gây tổn hại cho hoa mầu như khoai, và cây thì lại không gây hại gì cho Gastrodia, ngược lại còn.nuôi Gastrodia. Những nghiên cứu còn ghi nhận Gastrodia ‘có lợi’ phải cần đến Armillaria, nhưng Armillaria hầu như.không được gì khi sống bám vào Gastrodia.

Thành phần hóa học:
Thành phần hóa học của Gastrodia elata được nghiên cứu nhiều nhất tại Trung Hoa, Nam Hàn và Nhật
Dựa theo các tài liệu Trung Hoa, sách ‘Cây Thuốc và Động Vật Làm Thuốc Ở Việt Nam’ (Viện Dược Liệu), Tập 2 trang 860 ghi:
‘ Thiên Ma chứa thành phần chủ yếu là gastrodin với hàm lượng 0.16-1.18 % (=p-hydroxymethyl-phenyl-beta-D-glucopyranosid) gastrodiosid
acid succinic, acid citric cùng với monomethyl ester, acid palmitic, sucrose, beta-sitosterol, daucosterol. Trong Thiên Ma còn có các polysaccharides, vanillin và vanillin alcohol.’
‘Theo Tiêu Dũng Khánh và cs. 2002 thiên ma còn có cymbinodin A, bis (4-hydroxybenzyl) sulfid, propenyl alcol-1-palmitat monoester, p-hydroxybenzaldehyd và p-hydroxybenzylalcohol.
Các nghiên cứu khác ghi nhận:
– Từ rễ chùm của G. elata, phân lập được các glucosides parishin B và C (công thức gồm beta-d-glucopyranosyl, ở dạng citrate) (Phytochemistry Số 42-1996)

Nghiên cứu dược học:
Sách ‘Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam’ liệt kê một số ‘tác dụng dược lý’ của Thiên Ma (dựa theo các tài liệu nghiên cứu của Trung Hoa) như:
Tác dụng gây trấn tĩnh: Thiên Ma có tác dụng đối kháng với hiện tượng hưng phấn thần kinh trung ương gây ra bởi caffein, kéo dài thời gian gây ngủ gây ra bởi pentobarbital. Các thử nghiệm được thực hiện trên chuột, khỉ và bồ câu. Hoạt tính gây trấn tĩnh được cho là liên quan đến GABA, do kích hoạt các thụ thể GABA. 4-Hydroxybenzaldehyde cô lập từ phần phân đoạn bằng ether trong dịch chiết G. elata bằng methanol ngăn chặn một cách rõ rệt thời gian hồi phục và độ nguy hại gây ra bởi pentylentetrazol. 4-hydroxybenzaldehyd chặn được sự sụt giảm của nồng độ GABA trong óc, ức chế hoạt động của men GABA transaminase.(Journal of Ethnopharmacology Số 73-2000)
Tác dụng chống co giật: Thiên Ma làm giảm các cơn co giật và giảm tỷ lệ tử vong do pentylentetrazol, khi thử trên chuột. Hoạt tính này do ở Gastrodin. Theo Dan Bensky (Chinese Herbal Medicine Materia Medica): Dịch chiết Thiên Ma khi chích cho thỏ, giúp làm tăng ‘ngưỡng co giật’, ngưng cơn co giật đang xẩy ra và ức chế các biểu hiện co giật sắp tiếp diễn trên EEG. Hiệu ứng này kém hơn tác động của phenobarbital Tình trạng co giật trở lại nếu ngưng dùng Thiên Ma liên tục 7 ngày.
Tác dụng giảm đau, chống sưng: Dịch chiết thô, dùng chích qua khoang bụng của chuột thử nghiệm cho thấy có khả năng ‘nâng cao’ ngưỡng đau, giảm phản ứng vặn mình (gây ra do chích acetic acid). Dịch chiết thô ức chế sự gia tăng thẩm thấu của mao mạch nơi khoang bụng chuột gây ra khi chich cho chuột acetic acid, đồng thời ngăn cản phản ứng gây phù do chích carrageenan. Hoạt tính chống sưng được cho là do tác động đối kháng với PG, 5-HT.
Tác dụng trên hệ Tim-mạch: Dịch chiết thô, thử trên tim cô lập của chuột gây giảm nhịp nhưng không ảnh hưởng đến biên độ co bóp của cơ tim. Thiên Ma cũng kéo dài những khoảng P, R và Q trên điện tâm đồ. Thử nghiệm trên thỏ, chích tĩnh mạch, dịch chiết gây hạ huyết áp đến 73 % mức ban đầu, và tác dụng hạ huyết áp kéo dài trong 4-5 giờ.
Dịch chiết bằng methanol G. elata có hoạt tính kích khởi tiến trình apoptosis qua sự khỡi động trình tự hoạt động tế bào qua hệ thống serine/threonine kinase và ức chế hoạt động của JNK (Life Science Số 75-2004), trong khi đó dịch chiết bằng ethanol có hoạt tính diệt tế bào ung thư, tùy theo liều lượng sử dụng.
Dịch chiết bằng ethyl ether từ lá Gastrodia elata có khả năng bảo vệ thần kinh, khi thử trên các tế bào neuroblastoma IMR-32, chống tác hại làm chết tế bào thần kinh gây ra bởi amyloid-beta peptid ( tế bào thần kinh vùng hippocampus thường bị hủy hoại trong bệnh Alzheimer’s, và trong bệnh lú lẫn) (Phytotherapy Research Số 17-2003). P-hydroxybenzoyl alcohol, cô lập từ lá G. elata có khả năng bảo vệ chống sự tổn thương tế bào não bộ trong trường hợp bị nghẽn mạch thoáng qua ( transient focal ischemic) bằng cách làm tăng sự hoạt động của các genes chống oxy-hóa nơi tế bào (Biology & Pharmacy Bulletin Số 28-2005)

Độc tính của thiên ma: (Theo Dan Bensky)
– Liều LD50 của dịch chiết thiên ma, khi chich qua màng phúc toan chuột nhắt là 51g/kg.
– Liều chích mỗi ngày 1g/kg, dịch chiết bằng alcohol, nơi chuột cống, gây ra tình trạng kém hoạt động, mất thèm ăn.
– Liều 12g/kg, chích qua màng phúc toan thỏ, gây mỏi mệt ù lì, giảm phản xạ, bỏ ăn, tim đập chậm và sóng EEG chậm lại

Các nghiên cứu về hoạt tính của Thiên Ma:
Gastrodin được xem là hoạt chất chính của Thiên Ma và được chứng minh là có những tác động như chống mê sảng (delirium), chống co giật, hạ huyết áp, bảo vệ hệ thần kinh trung ương bằng cách điều hòa hoạt động gây kich thich của các amino-acid vả hệ thống nitric oxide (Trung quốc Dược liệu Tạp chí Số 29-2009). Gastrodin gây tăng nồng độ glutamine, làm giảm gamma amino butyric acid, gây tăng asparagine và hoạt động như một chất gây giãn nở mạch máu ngoại vi (làm hạ huyết áp).Tuy nhiên trong củ Thiên Ma còn có vanillin và nấm Armillaria mellae: khi nghiên cứu trên thú vật, cả 3 hợp chất trên đều cho thấy có khả năng giúp kéo dài thời gian ngủ, và ngừa được co giật do động kinh. Dịch lên men từ nấm Armillaria mellae có tác dụng trị choáng váng, cải thiện ù tai và khả năng thính giác. Armillaria mellae = tianma mihuanjun (Thiên Ma mật hoàn khuân) còn có hoạt tính trợ giúp tăng cường hệ miễn nhiễm và hoạt tính này còn mạch hơn củ thiên ma tách riêng.

Thiên Ma trong Dược học cổ truyền Tàu:
Dược học cổ truyền Trung Hoa dùng rễ Gastrodia elata phơi khô làm thuốc. Vị thuốc có tên chính là tien-ma (thiên ma) và còn được gọi là ming-tianma (minh thiên ma), chijian (xich tiễn), ding-fengcao (định phong thảo).
Vị thuốc đã được ghi chép trong Thần Nông Bản Thảo Kinh như một vị thuốc bổ, ích khi lực, tăng tuổi thọ, và sau đó cũng được ghi trong nhiều sách thuốc cổ khác của Tàu như Dược tính bản thảo, Y học khôi nguyên, Bản thảo cương mục.
Tao Hongjing (Đào Hoàng Cảnh 425-536 TL) chép: Xích tiễn có lẽ là một loại nấm, nhô lên từ dưới đất, giống như một mũi tên màu đỏ, có lá mọc trên đỉnh.
Li Shizhen (Lý Thời Trân, thế kỷ 16) mô tả cây rõ hơn, cho rằng tianma là rễ của chijian, từ dưới đất nhô lên không rõ nguồn gốc nên gọi là tian (thiên= từ trời), ma, cây có sợi như cây gai.
Cây được thu hái vào mùa Đông và được phân loại theo trọng lượng để định thời gian đun sôi (rễ củ lớn trên 150 g đun trong 10-15 phút, nhỏ từ 70-100 g trong 7-10 phút) đến khi tâm của củ mềm. Củ sau khi nấu được xông sulfur trong 20-30 phút, và sấy khô trên lửa nhỏ (50-56 độ C). Sau khi đạt độ khô 70-80 %, sẽ được ép phẳng và sấy khô hẳn ở 70 độ C.
Thiên Ma được xem là có vị ngọt, tính bình và tác động vào các kinh mạch thuộc Can và Bàng quang, có các tác dụng ‘tức phong, chỉ kinh’, bình can,tiểm dương.Chủ trị các chứng kinh phong co giật, phá thương phong (uốn ván), can dương thượng khán, đau đầu chóng mặt.
Thiên Ma được dùng làm thuốc chống co giật, an thần giảm đau, chóng mặt, hoa mắt; chân tay tê dại, kinh phong ở trẻ em.
Tại Nam Hàn, vị thuốc được gọi là ch’onma dùng trị các chứng rối loạn về thần kinh, ngừa cảm lạnh và làm thuốc bổ.
Tại Nhật: vị thuốc tenma, là cây phơi khô trị chóng mặt, choáng váng, nhức đầu và các bệnh về thần kinh.
Thành phẩm Thiên Ma trong Danh mục đặc chế của Trung Hoa (đang ký và được Bộ Y Tế Trung Hoa chấp nhận)
Trong Danh mục Đặc chế có 2 thành phẩm chứa Thiên Ma làm hoạt chất chính được ghi nhận:
Tian Ma Wan (Thiên Ma hoàn)
Đặc chế được ghi là bào chế theo toa thuốc cổ trong JingYue Quan Shu (Kinh dược toàn thư) từ đời Minh 1368-1644, phối hợp 9 vị thuốc gồm Thiên Ma (8.2%), Du Zhong= Đỗ trọng (Eucommia Ulmoides 9.6 %), Niu Xi =Ngưu tất (Radix Achyranthis bidentatae 8.2 %), Du Huo= Độc hoạt (Radix Duhuo 6.9 %), Qiang Huo= Thương hoạt (Rhizoma et Radix Notopterygii 13.7 %), Dang Gui= Đương quy (Angelica sinensis 13.7 %), Bi Xie =Tỳ giải (Rhizoma Dioscorea 8.2 %), Di Huang=Sinh địa (Radix Rehmanniae Glutinosae 21.9 % và Xuan Shen= Huyền Sâm (Radix Scrofulariae Ningpoensis 8.2 %.)

Đặc chế được chỉ định điều trị:
Nhức đầu do Phong-Hàn
Trị nhức đầu loại ‘thiên đầu thống=migraine)
Trị tê bại chân do trúng phong (stroke) hay máu lưu thông không đều.
Trị đau do phong thấp khớp xương (Chứng Tý=Bi)
Trị tê liệt tay, chân, mặt sau khi bị stroke
Trị tê mặt trong bệnh Bell’s palsy.
Đặc chế ‘Thiên Ma hoàn’ được đăng ký sản xuất bởi Min-Kang Drug Manufactory. Một số sản phẩm khác như Tian Ma Qu Feng Bu Pian, Tian Ma Tou feng Pian.có những công thức thay đổi khác với công thức trên, thêm hoặc bớt một số vị thuốc.
Tian Ma Mi Huan Su: (Thiên Ma Mật huân tố)
Đặc chế là trích tinh của Nấm Armellaria mellae, dùng để bổ gan và an thần, chủ trị các chứng tê bại tay chân.

Tài liệu sử dụng:
Cây Thuốc và Động Vật Làm Thuốc Ở Việt Nam (Viện Dược Liệu), Tập 2
Chinese Herbal Medicine Materia Medica (Dan Bensky)
Outline Guide to Chinese Herbal Patent Medicines in Pill Form (Margaret A Naeser)
A Handbook of Chinese Healing Herbs (Daniel Reid)
Gastrodia (Subhuti Dharmananda)

TranVietHung, 7 tháng Tư 2014#1

Nguồn: https://www.tvvn.org/forums/threads/lan-gastrodia-kh%C3%B4ng-l%C3%A1-n%E1%BB%9F-hoa-thi%C3%AAn-ma-v%E1%BB%8B-thu%E1%BB%91c-%C4%90%E1%BA%B7c-bi%E1%BB%87t.65114/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s