LÍNH THÀNH PHỐ (CHƯƠNG 6)

on

Dương Hùng Cường

Đánh máy: Lê Thy

6- MẶT TRỜI Ở XA

Trong một thuở xa xưa, người lính tàu bay đã được đặt tên là người lính hào hoa… Ngay từ khi có cái tên đó, tôi đã không đồng ý. Bạn bè ở Không Quân của tôi thiệt là nhiều… Có những người còn ít tuổi. Có những người ở lứa tuổi tôi và hơn tuổi tôi. Tôi đã cố tìm một ít chất hào hoa trong con người, những người sống chung quanh tôi, mà thú thực rằng tìm không nổi.

Thằng bạn rất thân của tôi là thằng pi-lốt Thái-Bình. Cái tên này quen thuộc lắm.

Làm tới chức quan ba tàu bay, mà trong túi ít khi nào có tới hai chục ngàn đồng bạc. Có một lần nó hỏi tôi :

– Làm thế nào để biết được một thằng giàu hay nghèo ?…

Tôi trả lời :

– Có khó gì đâu. Một thằng giàu là một thằng không thèm tới phòng lĩnh lương lúc đông khách. Chờ cho khi nào thật vắng khách, thằng phát tiền ngồi cứ vêu mõm ra, lúc đó mới lò dò vác cái bản mặt tới… Mầy muốn tỏ ra rằng giàu có, thì chịu khó đợi tới mùng ba, mùng bốn, hãy tới phòng lương.

Nghe được lời giải thích, pi-lốt Thái- Bình mừng lắm. Nó nhất định lĩnh lương vào những ngày phòng lương ế khách. Nhưng thê thảm làm sao, ngày hăm hai, hăm ba, đã thấy mặt nó ở phòng lương ế khách. Mà chỉ là vì khách không dám tới. Nó đành đi một đuờng con cá nó sống vì nước. Được cái ông sĩ quan phát ngân vốn là bạn quen nên cũng không làm khó dễ, chỉ thòng một câu nghe thật não nuột :

– Tiền này là tiền quỹ vãng phản đấy, ông nhé. Xin ông đừng phát thanh ầm lên, thiên hạ kéo cả xuống đây thì tôi vỡ nợ…

Thằng Thái-Bình rất ư là kín tiếng. Còn làm ăn về lâu, về dài mà. Làm dưới quyền nó có rất nhiều thằng rất giàu. Ở đời có rất nhiều cách làm giàu : Kể cả vương đạo và bá đạo. Có nhiều khi nó từ chối những công việc có thể hái ra tiền. Tôi có hỏi nó tại sao, thì nó nhún vai :

– Tao là sĩ quan, tao không thể lem nhem…

Tôi không thể nào cãi lý đưọc với nó. Thằng này là thằng rất thuộc Cổ Học Tinh Hoa, nếu tôi đọc câu “thiên hạ đục cả, tội gì một mình ta trong” thì nó sẽ nói ngay, câu đó ở trong bài nào, trang nào, giòng thứ mấy… Mộng ước của nó thật khiêm tốn.

Chỉ mong có một cái cửa hàng nho nhỏ để cho vợ trông coi, mấy đứa con gái lớn học buôn, học bán. Nếu mình “về quê” thì vợ mình cũng có thể nuôi mấy đứa con học hành cho đỗ được cái tú tài. Chỉ có vậy thôi… Nó lại lên giọng đồ cổ :

– Ngày xưa, lúc thầy Nhan-Hồi đi làm quan, có tới hỏi đức Khổng-Tử, xin vài điều dạy bảo. Đức Khổng-Tử chỉ dạy cho môt chữ “nhẫn”. Nhẫn là nhịn. Cái gì cũng nhịn và nhịn… Mầy hiểu tao định nói gì không?

Tôi muốn trả lời nó là tôi chẳng hiểu cái con mẹ gì cả. Nhẫn là nhịn… Ô-Kê (Salem) có thể nhịn đưọc tất cả, trừ nhịn… đói.

Tôi xa thằng pi-lốt Thái-Bình đã mấy năm nay, nên bây giờ chỉ còn nhớ rất bàng bạc, vóc dáng con người nó khi ca tụng Tào-Tháo của thời Tam-quốc. Biết thế nào là đủ ?

Con người ta, chỉ khổ vì không “tri túc”. Đã được Lũng còn muốn nuốt cả Thục nữa ư ? Bất khả, bất khả ! Pi-lốt Thái-Bình ơi! Tao mong rằng mầy vẫn trong sạch, dù mầy ở Đà-Nẵng, nơi mà người ta tung ra hàng nắm đô-la để lấy lòng người. Con người ta chỉ có thể Khổng-Tử tới một mức nào thôi.

Tôi nhận thấy, phần đông lính đều nghèo. Tôi là một người viết về chuyện tàu bay. Tôi cố ghi những cảm giác thật chân thành, không bao giờ tự cho mình là kẻ đứng ngoài lề. Trong đám đông lũ người xúm lại chung quanh chiếc tàu bay trong đó có tôi, tôi nhìn chỉ thấy những khuôn mặt quen thuộc. Những người đó đối xử với nhau thân mật như trong một gia đình.

Những ngày đi lang thang khắp các Không đoàn để bắt một vài hình ảnh lạ, một niềm cảm xúc mới, tôi đã được các bạn già nhắc rất nhiều đến những tiếng nghèo, đói, khổ. Mà nghèo hơn, đói hơn, khổ hơn, là những người lính sống ở Biệt đội. Một người bạn già đã trách tôi :

– Không bao giờ tao thấy mầy viết về Biệt đội. Phải sống ở Biệt đội mới cảm thấy thấm thía những vui, buồn, tủi nhục của những thằng lính tàu bay.

Lần đầu tiên nghe thấy hai tiếng Biệt đội, tôi đã thật ngỡ ngàng. Tôi tưởng rằng cái quân chủng hào hoa của tôi chỉ có Không đoàn, Phi đoàn hay những phòng, sở nhung nhăng khác, không ngờ lại còn có Biệt đội.

Gần hai chục năm mặc quần áo lính, ăn cơm nhà binh đến gãy cả mấy cái răng, mà ngây thơ như những kẻ vừa ra khỏi ngưỡng cửa quân trường. Tôi tự sỉ vả tôi rất nhiều. Rất may là không nói ra mồm, chứ tôi cứ lải nhải chửi tôi, chắc là thiên hạ cho rằng tôi phát điên.

– Mầy chưa bao giờ nghe nói tới Biệt đội? Thì cũng chỉ mới khai sinh ra nó chừng vài năm nay. Chỉ tại vì các vùng chiến thuật thì lớn quá mà các Không đoàn thì ở xa không thể can thiệp vào chiến trường. Ôi buồn thay là cái đời lính tàu bay Biệt đội.

Tới những nơi khỉ ho, cò gáy, buồn cả đến lỗ chân lông, để chờ đợi lệnh của ông chỉ huy vùng đó. Khi có lệnh là bay lên ngay để làm yên tâm các chiến sĩ ở dưới đất. Nhưng công tác kkông phải chỉ có vậy đâu….

Thằng bạn già của tôi còn kể nhiều nữa, nhưng chẳng dám viết ra đây. Cuộc đời những thằng lính hào hoa mà như thế hay sao ?

Tôi nhếch miệng cưòi, gật gù cái đầu, nhưng trong lòng đang chửi : Bố anh! Chỉ được cái tô màu, phụ đề chữ Việt. Thời này đâu còn các quan thái thú, toàn quyền mà diễn cái màn đi cả trăm cây số để về nhà lấy cho quan cái áo lạnh. Tôi bèn làm một phát phỏng vấn:

– Mầy thấy cái Biệt đội quái quỷ ấy có cần không ? Nếu không cần, thì nói với các anh lớn giải tán quách đi.

Nó lắc đầu một cách dữ dội :

– Đâu có được ! Cần lắm chứ. Nếu không cần thì chúng tao đã thoát khỏi được cái kiếp đi đầy. Mầy đã ở Cheo-Reo bao giờ chưa? Ban đêm, nghe chim kêu, vượn hót mà tưởng mình là lính thú đời xưa, “ngang lưng thì thắt bao vàng”. Có nhiều thằng lấy vợ ở nơi biệt phái, vì nó ở đơn vi biệt phái nhiều hơn là đơn vị. Nói chung những nơi biệt phái đều buồn, buồn lắm. Tất cả mọi chuyện phó thác cho mấy ông bạn lục quân. Thương thì nhờ, mà ghét thì chịu. Nói ra thì nhiều chuyện đáng được ghi vào cuốn ” Biệt đội lệ sử”.

Tôi nghĩ rằng ai có thể ghét được người lính tàu bay, còn có cái mỹ danh là người lính hào hoa. Nhưng ở trên cõi đời nhăng nhô này, làm sao tránh cho tất cả mọi người không ghét. Tôi đã ghi vào trong cuốn tạp ký, rất nhiều câu chuyện. Chuyện giận, hờn, yêu, ghét đầy rẫy trên trang giấy mà nét mực ghi vội, lem nhem, khó đọc. Tôi lần giở một trang.

Ánh hỏa châu bùng lên. Một tiếng nổ nhỏ rồi không gian nhuộm một màu vàng bệnh. Nằm ngoài hiên, tôi đọc được cả hàng chữ nhỏ của tờ báo cũ, dán trên vách ván. Giờ giới nghiêm sớm, tiếng xe cộ vắng từ lâu. Im lặng đến nỗi tôi nghe thấy cả tiếng dội nước trong phòng tắm của cô hàng xóm. Và cũng bên cạnh đó, là phòng của một cặp vợ chồng đi ngủ sớm. Tiếng đối thoại thật nhỏ nhưng vẫn chui được vào đêm :

– Kỳ quá anh. Trời sáng, thấy nó kỳ quá !

– Khuya rồi mà. Em không thấy giới nghiêm rồi sao ?

– Không, em nói là hỏa châu sáng thế, lỡ ai nhìn thấy… đợi tắt hỏa châu đã.

Hỏa châu lơ lửng, lảng đảng trôi, vẽ trên nền trời một vệt khói uốn éo… Đột nhiên tắt ngấm, trả lại màu đen cho bóng đêm. Tiếng chiếc giường chuyển động. Tôi mỉm cười nhìn theo hai chiếc đèn xanh đỏ của chiếc phi cơ chớp, tắt lượn vòng… Rồi một tiếng nổ bụp nhỏ ở lưng trời. Ánh sáng vàng lại trùm lấy không gian. Lại có mẩu đốí thoại trong căn phòng hẹp :

– Thôi anh, còn sáng hơn hồi nãy nữa !..

– Bố chúng nó, làm gì mà thả cả hai ba trái một lượt ?

Tôi muốn cười lên thành tiếng. Cách đây ít lâu có thằng bạn đã khoe với tôi rằng nó đã nghĩ được một phương pháp giản tiện, làm một đường rầy xe lửa trong lòng phi cơ để thả hoả châu, có thể thả đuợc tới bốn trái cùng một lúc. Ngày mai tôi sẽ kiếm nó, kể cho nó nghe câu chuyện này… Cứ chờ đợi, hỏa châu tắt, rồi lại bừng sáng. Sự dằn co suốt đêm làm mệt nhoài con người. Tôi nghe thấy cả một câu chửi bâng quơ :

– Mẹ mấy thằng phi công. Giờ này không đi ngủ cho sướng mắt, còn cứ bay mà thả hỏa châu, làm người ta chẳng làm ăn được cái mẹ gì…

Tôi gấp cuốn tạp ký lại và tự nghĩ, làm cho tất cả bàn dân thiên hạ yêu mình, quả thực là một chuyện khó. Và sau một phút bốc đồng, tôi cắm một chiếc bàn chải đánh răng vào túi quần sau, lên đường theo Biệt đội.

Tôi muốn viết rất nhiều về các phi hành đoàn trực thăng. Người phi công vận tải lịch lãm, giàu có, người phi công khu trục oai hùng. Còn người phi công trực thăng phải làm cả hai chuyện vận tải và tác chiến, lại không có được sự giàu có, sự kiêu hùng cùa một phi công vận tải và khu trục. Cái bạc bẽo đối với “người” nó là như vậy. Đã thế những Biệt đội thường chỉ là những phi hành đoàn trực thăng, đầy tính chất đa dụng.

Cuộc chiến ở cái xứ sở nhỏ bé của tôi cứ kéo dài lê thê. Tôi tò mò đứng ngắm người cơ khí viên đang dán lại thân tàu, những vết đạn thủng lổ chổ, đầy trên dấu Hòng Thập Tự. Không hiểu những người dưới đất vô tình hay cố ý, bắn lên những con én tạo mùa xuân chiến trường.

Người xạ thủ đang lau dầu khẩu đại liên gắn ở cửa phi cơ. Tôi hỏi :

– Phi cơ tải thương thì gắn súng làm gì ? Tôi tưởng rằng mình làm những công tác cứu người, thì ít nhất mình cũng không nên để cái dụng cụ giết người ở bên cạnh.

Người xạ thủ nhắm một mắt, dơ nòng súng lên trời ngắm nghía rồi hạ xuống, buông một tiếng thở dài :

– Nhưng những đối thủ của mình, chúng nó có chịu hiểu như vậy đâu. Dẹp một bãi đáp để tải thương, cũng đầy gay go, nguy hiểm như dẹp một bãi đáp để đổ quân. Chúng tôi cần tranh thủ thời gian để cứu mạng các chiến hữu. Không thể chờ được chiến trường kết thúc. Anh đừng lấy làm lạ với khẩu đại liên trên chiếc phi cơ tản thương.

Tôi muốn trả lời anh rằng, với cuộc chiến tranh này, chẳng có gì lạ. Ngày Tết, biết bao nhiêu gia đình dùng vỏ đạn đại bác để làm bình cắm hoa. Nhìn cành hoa mai cắm trong vỏ đạn đại bác, giữa hương trầm nghi ngút khói thì cũng như nhìn những vết đạn bắn nát dấu thập đỏ nằm nghênh ngang chiếm một nửa thân tàu.

Tôi ngồi xuống chiếc bánh xe. Bóng chiếc cánh quạt cong cong, nặng chĩu, đè trên đầu tôi…Phi trường thành nội vắng. Biệt đội nằm đây, chỉ ngồi chờ công tác cũng đủ dài cả người ra. Chiếc phi cơ này vừa thi hành một công tác nặng mùi… Một đồn hẻo lánh heo hút bị tấn công đã ba hôm. Người sĩ quan đồn trưởng đã chết. Tàu bay phải tới hạ cánh để lấy xác về. Không một ai từ chối… bay tít trên cao, nhìn những đám khói nhỏ ở trong đồn ngoài đồn, bên phải, bên trái. Những bóng người xuất hiện, thoáng thấy rồi thoáng mất. Sau một cái gật đầu, chiếc trực thăng ào xuống như một tảng đá rơi. Nhưng cũng không kịp. Đạn lửa bay vi vút quanh thân tàu. Từng cụm khói nổ bùng chói tai, ngay ngang tầm mắt, bên trên, bên dưới. Người phi công chính lắc đầu. Xuống là chết. Chiếc phi cơ rú lên và bay vụt lên cao..

Lại thử vài ba lần nữa. Thân tàu rùng mình, trúng đạn, lảo đảo như một chiếc rổ tre khô trong cơn gió lốc. Và hai người nhìn nhau, lắc đầu. Lại mang tàu bay về.

Ông chỉ huy vùng nói mát mẻ :

– Chắc các ông sợ nên không dám xuống chứ gì ?

Người phi công trực thăng nói bằng một giọng chán nản,mệt mỏi :

– Tôi đã thử tới ba lần. Dù nhìn thấy bãi đáp ngổn ngang đầy giây kẻm gai, trong đồn lổn nhổn gạch đá, tôi cũng nhất định đáp xuống. Nhưng đạn bắn dữ quá. Chúng tôi đi lấy xác người, sợ rằng lại phải có người đi lấy xác chúng tôi. Nhưng đù sao, ngày mai, chúng tôi cũng trở lại.

Ba ngày đi rồi ba ngày trở lại với thân tàu trống rỗng. Tới ngày thứ tư, đồn mới im tiếng súng, chiếc trực thăng mới hạ cánh xuống giữa cảnh hoang tàn, đổ nát. Sau khi trình bày công tác, người đồn phó bùi ngùi :

– Ở đây không có an ninh. Các ông bay đi đâu chơi đi, rồi chừng một giờ sau trở lại. Chúng tôi sửa soạn, sẵn sàng để lúc các ông trở lại, có thể cất cánh ngay được.

Chiếc trực thăng bay đi, quan sát một vòng khu cây cỏ xác xơ. Đúng một giờ, bay trở lại. Xác ông đồn trưởng được bọc trong một tấm Poncho. Mùi thúi bay lên kinh tởm. Những người trong phi hành đoàn rứt chiếc khăn quàng, quấn chặt lấy mồm lấy mũi mà vẫn thấy một mùi khó tả. Chiếc băng-ca để vào thân tàu. Người cơ khí viên phi hành tháo vội những tấm kính để gió lùa vào thân tàu thật nhiều. Thì ra người trong đồn, tưởng rằng trực thăng không tới đã mang chôn. Nhưng rồi trực thăng lại tới nên phải đào lên bọc lại mang đi. Xác chết đã mấy ngày nằm trong lòng đất, được đưa lên khỏi lòng đất, rồi lại trở về lòng đất…

Anh Đại úy Châu cười nửa miệng:

– Anh chưa thấy cái cảnh vừa lái tàu bay, vừa thò đầu ra ngoài cửa sổ, chịu đựng gió thổi để khỏi ngửi thấy mùi người chết. Về đến nhà, tắm hết cả một bánh xà-bông mà vẫn cứ thấy vương vưong mùi tử khí. Thật là một công tác rất… nặng mùi.

Chỉ cần vài ba mẩu chuyện, tôi đã hiểu tâm sự những con người sống ngoài Biệt đội. Sự chết chóc còn tiếp diễn trên đất nước này, ngày này qua tháng khác, để rồi ngay cả những người còn sống, cũng không hiểu rằng mình còn sống hay đã chết.

– Chỉ là một thay đổi danh từ. Nếu chữ chết đổi thành chữ sống thì những hành khách nằm trong thân tàu mà tôi chuyên chở là những người sống. Còn tôi, tôi đang ngồi lái tàu bay đây, chỉ là một người chết…

Buổi trưa, tôi ăn cơm với hai phi hành đoàn trực thăng. Ở Huế, chỉ có những bữa cơm đạm bạc. Ấy vậy mà cũng phải trả tới một trăm đồng cho một người. Tôi nổi hứng mời mỗi người hai chai băm ba… Và tôi thấy túi tiền như nhẹ hẳn đi.

Lúc ăn uống xong, bao giờ lòng người cũng thoải mái. Tôi hỏi mấy anh, tại sao không ra ngoài thành phố ăn cơm. Ăn ở chỗ gần phi trường tuy rằng không phải đi xa, nhưng không thỏa mãn cái dạ dày. Thằng chuẩn úy già tên Sinh, cơ khí viên phi hành, chỉ ngay vào mặt tôi :

– Tại chúng mày đó…

Tôi ngạc nhiên:

– Tại sao lại tại chúng tao ?…

– Thì có một thằng nhà báo nào đó, đã viết một bài với đầu đề là ” có phi mà không có pháo “, nói rằng ở Biệt đội Tây- Ninh lúc có tàu bay khu trục thì kiếm mãi, không thấy ông phi công quan sát. Tàu bay không có chỉ điểm, đành vác bom về không. Nó viết bài đó, làm các anh lớn ra lệnh, là đi ăn cơm hay đi đâu phải báo ngay cho nơi phụ trách hành quân biết mà không được đi xa phi trường.

Tôi nhớ ra rồi… Bài “có phi mà không có pháo “, tác giả là nhà báo hội đồng xã Thanh-Chiêu. Thằng đó, chính là ngày tôi đi Biệt đội, nó cứ năn nỉ đòi đi theo. Tôi lên tòa báo nó làm việc kiếm nó. Nhưng các ông phụ trách quảng cáo, ngồi ở ngoài cửa ra vào, chặn ngay tôi lại. Có người quay tô-lô-phôn kêu cảnh sát quận nhì.

Từ ngày cái tòa báo được thân tặng một hộp bánh bích-quy, nhãn hiệu Tê-En-Tê và thằng cầm tới thân tặng đã được ăn kẹo, thì tòa báo đó phòng thủ còn kỹ hơn một trại lính…Thấy kêu cảnh sát, tôi sợ quá, phú lỉnh ngay. May cho tôi. Và may cho cả thằng Thanh-Chiêu. Nếu mà hôm nay nó ngồi đây, chắc chắn là nó sẽ ăn bảy cái đá đít. Không chừng tôi cũng đứng về phe anh em, tặng thêm nó một cái đá đít nữa là tám cái.

Một phi đội trực thăng biệt phái, gồm có hai chiếc trực thăng và bảy người trong phi hành đoàn. Bốn phi công, hai cơ khí viên phi hành và một y tá phi hành. Chỉ có như vậy mà nhiều khi họ lang thang ra ngoài Bắc vĩ tuyến.

Tôi nói với Chuẩn úy Sinh ;

– Biệt đội mà ở Huế thì nhất rồi…

Chàng lính già này phản đối ngay :

– Mầy không thấy chúng tao viết tên Biệt đội này lên tường à? Biệt đội này là Biệt đội chờ chết. Sân bay thành nội bị pháo kích không kể giờ giấc. Mà mày thấy cái hầm trú ẩn đấy, vừa bé bằng cái cầu tiêu. Muốn đi vào phải xếp hàng. Tới lượt mình chui được vào hầm thì đã hết mẹ nó pháo kích rồi.

Những thằng lính già thường có những nhận xét rất lẩm cẩm. Những nàng con gái Huế áo dài trắng tha thướt, đôi guốc không trầy một chút sơn, chỉ có cái bề ngoài ngà ngọc. Về đến nhà là cất ngay đôi guốc dùng để đi ngoài phố. Đôi guốc đi trong nhà là một đôi guốc xấu xí, dưới đế còn đóng thêm hai ba miếng cao su cho lâu mòn.

– Những ngày chủ nhật, mầy ra thành phố Huế, mầy sẽ thấy những cuộc thi chạy bộ, thi bơi thuyền. Đường thì bụi mù, mà những chàng lực sĩ chân ống sậy, cứ cố bò lê về tới đích. Hít bụi đến rụng hai lá phổi, mà giải thưởng chỉ là vài ba thước vải, một lá cờ hay nhiều khi chỉ là tấm huy chương đáng giá vài chục đồng bạc.

Chuẩn úy Sinh nói chuyện về Huế thì không có gì hấp dẫn. Ôi, cái buồn của thành phố này về mùa mưa thì thật như dứt ở người ra từng sợi lông, từng sợi tóc. Mở đầu bài thơ Nguyễn-Bính : ” Trời mưa ở Huế sao buồn thế, cứ kéo dài ra đến mấy ngày…” Rồi những tình khúc của Trịnh-Công-Sơn, nói đến cái mưa dài lê thê và những mối tình ở Huế, bàng hạc, mơ hồ như vang bóng một thời, như một chất “Diễm Xưa “.

Một chiếc xe thắng lại ngoài cửa, một giọng vang lên :

– Mời các ông về đi bay.

Chiếc trực thăng xoay mình, nhấc bổng lên bay là đà trên các mái nhà thành phố, vượt qua sông Hương rồi đậu trên một bãi cỏ trống khu Nhà thờ. Hôm nay, chỉ có một công tác buồn nản. Chở một ông linh mục và mấy cô y tá của giòng Thánh Đa-Minh tới một xóm đạo chủng đậu và chích ngừa.

Xóm đạo nằm ven biển, cạnh một cồn cát dài trắng xóa. Những cây thông còn nhỏ, nhú lên khỏi cát. Mái nhà tôn lấp loáng ánh nắng xế trưa. Những bóng nguời nhỏ xíu chạy túa ra những thửa ruộng khô chưa được cày vỡ đất. Phi cơ hạ cánh đằng sau xóm đạo. Tắt máy, vừa nhảy xuống thì thằng cơ khí viên phi hành la lớn :

– Mìn, mìn nhiều quá chúng mầy ơi!

Thì ra dân làng nầy cũng đầy chất nghệ sĩ, cũng hiểu được cái thú thứ nhì sau cái thú làm quận công. Thứ nhứt quận công, thứ nhì ị đồng. Chỉ khổ chúng tôi, phải mang theo vài ba kỷ niệm, vương dưới gót giày.

Lũ con nít xúm quanh chiếc tàu bay dứt thử một vài sợi dây lòng thòng, cầm đá chọi vào thành sắt lục cục. Ông trưởng phi cơ là anh quan ba Châu, đau lòng quá. Anh rút ngay dao ra, hoa lên một đường sơn đông mãi võ, kèm theo một lời hăm dọa :

– Thằng nào mà phá tàu bay thì tao cắt chim…

Lũ con nít đâu có sợ. Vì cái vẻ mặt của anh quan ba tàu bay này, ít khi nào giữ được nghiêm trọng. Đã một lần có một thằng nhỏ ở quận lỵ, đã bỏ một cục đá nhỏ vào ổ máy cánh quạt đuôi, làm phi hành đoàn xính vính. Rất may lần này có một người lính địa phương tới, xin quá giang về Huế. Anh quan ba Châu mừng quá :

– Đồng ý… rất đồng ý, với điều kiện là chú mầy phải canh gác tàu bay cho tới khi cất cánh. Không được cho con nít nghịch tàu bay.

Anh lính địa phương dạ một tiếng rồi tới bụi tre gần đó, bẻ một cây roi. Rồi dùng cây roi đó làm khí giới, anh quật vun vút vào không khí, lên đầu, lên lưng lũ con nít tò mò. Lũ người phi hành đoàn thảnh thơi ngồi trên bờ cỏ, lẽ dĩ nhiên là phải quan sát thật kỹ để tránh mìn. Anh quan ba Châu gật gù cái đầu :

– Chính quyền địa phương làm được việc thật.

Sống ở Biệt đội, một tuần lễ, tôi đã thấy chán ngấy. Chỉ vui vào những buổi chiều nhìn thiên hạ giành giật, năn nỉ để xin đi máy bay về Đà-Nẵng. Một màn hoạt cảnh làm lơ xe đò, đẩy xuống, kéo lên hành khách. Những hành khách đi tàu bay này, có rất nhiều bộ mặt. Có bộ mặt vênh váo vì là người nhà ông lớn, có bộ mặt chảy dài xuống để ca bài con cá. Thấy tôi xin về, ông Tư lệnh cười :

– Chán Biệt đội rồi à ?

– Chưa chán, nhưng tôi có tật là đi đâu chỉ mặc có một bộ đồ. Khi nào thấy bộ đồ có mùi hôi là bắt buộc phải về, vì không muốn làm khổ mũi người xung quanh.

Ông Tư Lệnh hít hít một vài hơi rồi đuổi :

– Ừ, về đi. Quần áo bạn hôi quá. Mong rằng văn chương của bạn viết sẽ không có mùi…

Nguồn: https://baovecovang2012.wordpress.com/2021/02/27/linh-thanh-pho-duong-hung-cuong/7/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s