BUỒN VUI PHI TRƯỜNG (2) – Dương Hùng Cường

on

Dương Hùng Cường

Đánh máy: Lê Thy

https://baovecovang2012.files.wordpress.com/2021/03/bia_buonvuiphitruong.jpg?w=442&h=700

Chia tay với Trung, Thắng vòng xe vào trại. Qua một sạp báo, Thắng quơ tay nhặt vội gần một chục tờ báo. Quẳng tờ giấy bạc hai chục lên mặt sạp, Thắng cười với cô hàng báo có đôi mắt buồn buồn rồi lại phóng xe đi. Cửa phòng khóa kín, tắt đèn. Chắc là Hối, người bạn ở cùng phòng, đã đi trực. Đêm nay, Hối trực phi cơ thả bom soi sáng.

Thắng nghĩ tới cái phi vụ buồn nản, trực flare ship. Chiếc phi cơ chở đầy bom soi sáng, cất cánh lúc mười giờ đêm, bay vòng vòng ở điểm đợi trên không phận Sàigòn trong sáu giờ đồng hồ. Nếu có một đồn bị địch tấn công ở dưới đất gọi lên thì lại trực chỉ đồn đó, tới thả những trái hoả châu cho sáng rực cả vùng trời. Nếu không có, cứ bay ở trên trời cho hết sáu giờ đồng hồ trực.

Nhiều khi, nhìn mãi những vùng ánh sáng xanh, đỏ của Sàigòn, Thắng có những ý nghĩ dại dột là mong cho một đồn nào đó bị tấn công. Để thay đổi cho cặp mắt. Từ trên cao nhìn xuống, những ánh lửa bay xiên ngang, đan nhau thành những vệt dài rồi vụt tắt như những ngôi sao băng. Ngồi trên thật cao, không nghe lọt những âm động chiến trường .

Thắng mở khoá, bật đèn, nằm dài trên giường thoải mái.

– Thắng về rồi đấy à?…

Tiếng Sơn ở phòng bên cạnh hỏi. Dãy nhà của hạ sĩ quan độc thân chia ra làm nhiều phòng, mỗi phòng có hai người. Thắng nói vọng sang:

– Ừ, về rồi! Có chuyện gì vậy?…

– Đọc báo chưa? Có tin rớt tàu bay của “Air nước mắm” ở Quảng Ngãi đấy.

Thắng ngồi bật dậy, vội vàng trải rộng tờ báo. Hình chụp một chiếc DC3, tan thành từng mảnh, rải rác trên một khu ruộng. Thắng vừa đọc báo vừa vói tay bật nút máy phát thanh. Tiếng hát vọng ra não nề. “Trời sinh ra ta , ta là cát, đời đưa ta đi, đi về đất“. Thắng cởi hết quần áo, nằm lên giường. Chàng vẫn có thói quen đi ngủ ít khi mặc quần áo. Ở cái cư xá hạ sĩ quan độc thân này, rất nhiều người thích ngủ với thân hình Adam. Nhiều khi Thắng nghĩ lẩn thẩn rằng thế giới này toàn là đàn bà hay toàn là đàn ông, thì thân hình chẳng cần gì phải che đậy.

Thắng giở vào trang trong , tìm một tiểu thuyết kiếm hiệp. “Vì báo ở Hồng Không qua không kịp nên Mộ Dung Cô Tô phải gác lại một kỳ”. Thắng chợt cảm thấy lẻ loi. Căn phòng ít khi có đầy đủ hai người. Những căn phòng bên cạnh, vang tiếng cười đùa. Thắng tắt máy phát thanh. Ở phòng bên cạnh, chắc là đang có một cuộc kể chuyện tiếu lâm. Phía đầu nhà, trong nhà tắm, không biết thằng nào đang ê a bài hát “Nửa đêm ngoài phố” mà nó tự đặt lấy lời ca…

………………………..
“Rồi kéo áo thung lên mà chùi…..
………………………..

Tiếng “kéo” uốn éo, kéo dài như tiếng một con đĩ đực. Ở tất cả các cư xá độc thân, nơi nào cũng đều tục tĩu như vậy.

Thắng mặc vội chiếc áo, đi sang phòng bên cạnh. Thì ra chúng nó đang tán ông già Lộc. Ông Thượng-sĩ già trưởng kho Quân-trang đang khổ sở với chúng nó vì kho Quân-trang đang định phát cho mỗi thằng một đôi giày. Giày Mỹ, cổ hơi cao, thật đẹp. Ông già cứ bấn cả người lên… Ông thuộc loại độc thân cụ, có con gái lớn học lớp Đệ nhị, có con trai lớn bị động viên Thủ Đức. Từ ngày vợ chết, ông gửi hết lũ con vào trường, gửi những đứa lớn cho họ hàng, bà con rồi vào đây sống với lũ quỷ sứ độc thân.

– Đừng có “áp-phe” với tao. Muốn lãnh thì cứ xuống dưới kho, đứng xếp hàng …

– Thôi mà bố… Con gửi bố cái phiếu xanh quân trang đây. Bố làm cho con cái “bông”. Một tí ti là xong chứ có lâu lắc gì.

– Mày gửi rồi thằng nào cũng gửi, tao biết làm sao. Mày xuống dưới kho đi.

Những thằng trời đánh vẫn xúm vào lải nhải…Tán tỉnh chán rồi hăm doạ. Được rồi, cụ đừng có hòng xả xăng máy bay để đổ vào cái tắc-xông xe bò. Được rồi, hôm nào cụ phải “tét” Anh văn, cụ sẽ biết tay tôi. Được rồi, con gái của cụ, hôm nào tôi theo cho mà coi. Ông già Lộc giận quá, hét lên:

– Mẹ, đưa hết sổ Quân-trang đây.

Tất cả những cái mồm đều há hốc ra cười. Thắng cũng chạy mau về phòng, lấy sổ Quân-trang để lĩnh giày sớm. Ông Trưởng kho Quân-trang làm cái công việc của sở ngay tại phòng ngủ. Tiếng cười đùa ầm ầm. Chúng nó vuốt ve ông già Lộc, bật quẹt đốt thuốc ngồi quạt cứ như chầu bố già. Mặt của ông già vẫn hầm hầm. Thắng an ủi:

– Thôi mà bố… Chúng mình hơn Cộng sản ở chỗ là có nhiều tình cảm. Mẹ kiếp! Ai mà cũng như bố thì mình chiến thắng Cộng sản từ lâu rồi…

Thắng thấy vui lây với cái không khí trẻ con. Thằng nào cũng đều trên ba mươi cả rồi. Đâu có phải là còn bé bỏng gì. Chúng nó nhất định phải chọc cho ông già cười. Phải cười, bố phải cười… Không cười, tụi tôi lột quần bố…

Thắng đi về phòng, đã bịt hết cả hai tai lại mà còn nghe thấy tiếng đồng ca chát chúa của cả một ban hợp ca đông đảo, nhất định phải chọc cười ông già Lộc.

“Bạn cùng ta…
“Kéo quần bố ra…

Thắng phì cười. Thắng thấy rằng không thể nào rời được cái cư xá độc thân này. Ông già Lộc cũng mới tới ở được chừng ba tháng.

Một buổi chiều, bỗng thấy ông lái cái tắc-xông xe bò mà bốn cái bánh nhẵn như đầu Yul Bryner tới cư xá. Ông xách va-li, nhòm từng phòng. Tới phòng thằng Sơn thấy còn một giường trống, ông đặt va-li lên giường.

– Cho tao ở với mày cho vui….

Sơn trố mắt nhìn. Ông già Lộc thản nhiên trải drap, căng mùng. Ông viết chữ, dán luôn tên Thượng-sĩ Lộc dưới tên Thượng-sĩ Sơn, ngay cánh cửa. Nghĩa là ông già nhất định sẽ định cư ở đây.

Rồi ông lôi trong va-li ra một chai whisky còn một nửa. Ngồi xếp chân vòng tròn trên giường ông uống không cần ly. Say rồi ông bắt đầu nói, ông nói tiếng Tây. Nói tiếng Tây chán, ông nói tiếng ta, chửi thề:

– Mẹ mấy thằng thầy thuốc… Vợ tao chết bây giờ tao buồn lắm…

Tất cả cái cư xá hạ sĩ quan độc thân nhốn nháo hẳn lên…Chúng nó đi lục tìm thêm whisky, tiếp tế cho ông già… Ừ, mấy thằng này chơi được đây. Hồi tao ở Mạc-xây… Thôi mà bố! Tụi tôi,thằng nào cũng biết mùi đầm cả rồi mà… Ông già Lộc ngữa cổ , tu hết một phần tư chai, giữa tiếng reo hò của lũ quỷ sứ. Nhà tao cho Mỹ thuê rồi. Con mang đi gửi hết. Chờ vài ba tháng, cho nó nguôi ngoai đi rồi tao đòi lại nhà, đòi lại con…Tao đếch thèm ở chung với chúng mày nữa. Uống rượu say sưa, ông nói tiếng Tây một hồi rồi lăn quay ra ngủ. Thằng Sơn phải buông mùng, lầy mền đắp cho ông già Lộc. Tội nghiệp cho kiếp lính già!…

Ông già Lộc không đòi lại nhà…vì ông khoái cái cư xá độc thân. Mỗi buổi chiều thứ bảy, ông đi nhặt từng đứa con, đưa đi dạo phố, đi coi hát bóng. Thắng gặp một lũ lóc nhóc sáu đứa, phần nhiều cũng đã lớn, theo ông già trong hành lang Tax.

– Chào bác đi chúng mày!…

Thắng đã luống cuống nhìn người con gái. Mắt mở to như mắt nai. Nó giống mẹ nó đấy. Ông già Lộc hãnh diện vì có con gái đẹp. Đã có một vài thằng nham nhở:

– Thấy cháu mà bác muốn ở tù quá!..

Thắng biết rằng trong đám bạn bè, thế nào có thằng thành con rể ông già Lộc. Nhưng bây giờ, người lính già vẫn lái cái tắc-xông, có bốn cái vỏ xe nhẵn thín đi làm. Chờ ngày về hưu.

– Bố Lộc cho mượn cái xe, tối nay đi du hí…

– Ừ, nhưng coi chừng. Công-tắc vặn thật nhẹ, đừng có vặn mạnh mà gẫy chìa khóa. Có mở cái nắp đằng sau, lấy ma-ni-ven thì coi chừng không nó đập xuống gẫy cổ.

Ông già dặn liên miên…Thằng mượn xe lè lưỡi…Thôi đành đi xe Vespa vậy. Mượn xe của bố thì thật dễ, nhưng “đi đến nơi về đến chốn” cái đó mới thật là cái khó. Cái xe già nua như tuổi trời, như tuổi lính, như cái lon thượng sĩ. Cuộc đời cứ dần qua cho đúng câu “ăn cơm Lê văn Lộc, ngủ hội trường Phi Long, đầu cắm ba ngọn nến”.

Thắng nhớ mãi hình ảnh ông già Lộc đi trong thương xá Tax với sáu đứa con. Già Lộc ngậm “píp”, mặt nghiêm trang, khác hẳn với khuôn mặt khi trở về cái cư xá độc thân. Trông lộc ngộc như một con ngỗng đầu đàn. Thắng nghĩ đến tương lai mình. Rồi cũng chỉ như thế. “Tương lai của mày đấy, Thắng ạ!” Thắng tự nhủ mình như vậy và thấy một cái chán nản vô cùng.

Nếu không có những phút vui trong cái cư xá độc thân này, thì cuộc đời kể như là hạ màn mất rồi. Mỗi buổi chiều, một bà già chừng bốn mươi tuổi, tới lấy đồ giặt. Bà đứng ở đầu nhà, nói vọng vào trước:

– Các ông ơi, tôi tới lấy đồ giặt….

Tất cả những câu chuyện đang tán nhảm ngoài hành lang đều bỏ dở. Chúng nó chạy vào trong phòng ầm ầm. Vào phòng để mặc quần áo. Sau chừng năm phút, bà già giặt đồ mới từ từ tới các phòng. Bà ôm một đống đồ giặt đi ra. Có lần Thắng hỏi:

– Sao bà không giặt đồ cho Mỹ?…Nhiều tiền hơn giặt cho tụi tôi chứ.

Bà già cười:

– Giặt cho chúng nó lấy mười hai đồng một bộ. Giặt cho các ông lấy mười đồng. Hơn có hai đồng mà nhiều chuyện bực mình lắm.

Thắng không hỏi tới những cái bực mình, nhưng mà chỉ cần nghĩ một chút cũng hiểu. Con người vốn nhỏ nhen, bần tiện. Chỉ cần thiệt vài quyền lợi cỏn con cũng đủ đưa tới những sự tranh giành, những sự bẩn thỉu ty tiện. Thắng đã thấy những người bạn, khi còn độc thân thì tính tình phóng khoáng, cũng thuộc vào loại hào hoa nhưng khi lấy vợ thì coi đồng bạc to bằng cái chiếu. Gặp thứ gì cũng khuân về nhà. Một cái thùng gỗ không đáng bao nhiêu. Thậm chí đến cái hộp đựng “bu-gi” cũng mang về. Để chọc mấy lỗ làm cái đựng hạt tiêu. Thắng nghĩ thầm: ” Một cái lọ đựng hạt tiêu ngoài chợ giá có mấy đồng bạc, làm cái gì mà phải khổ sở như vậy…” Nhiều khi, Thắng muốn dùng những lời sỉ vả thật cay nghiệt để mắng những thằng đó, nhưng Thắng kìm hãm lại được. Chắc chúng nó nghèo. Mình đã có vợ đâu mà mình biết. Những chuyện về cơm áo bao giờ cũng day dứt những thằng đàn ông. Mình hết tiền, mình có thể nằm nhà, nhưng chúng nó mà hết tiền, vợ mè nheo, con khóc, có lẽ chúng nó cũng có những nỗi khổ tâm riêng.

Có một hôm xe bị hỏng, Thắng ngồi chờ ngoài cổng trại, chờ một thằng bạn nào đi qua để quá giang vào trong trại. Trời nặng màu chì, sắp mưa…Thắng ngồi co ro trong điếm canh. Đồng hồ mới chỉ hai giờ mười lăm. Cổng trại lúc nào cũng tấp nập, xe cộ ra vào không ngớt. Thắng đã phải chứng kiến một cảnh mà đã cố dằn lòng mình xuống, mà vẫn thấy sục sôi một ý nghĩ hằn học. Có một đoàn chừng năm chiếc cam-nhông của một nhà thầu cho Mỹ, chở đầy xi-măng, xin vào trong căn cứ. Ngoài cổng giữ lại…Chờ hỏi điện thoại xem có đúng như vậy không . Ông nhà thầu lo lắng nhìn trời. Đã lác đác vài giọt mưa. Mưa mà đổ xuống bây giờ thì mấy xe xi-măng đi tiêu. Ông năn nỉ:

– Xin ông cho vào nếu không trời sắp mưa.

– Tôi còn phải hỏi điện thoại..

Nhưng cuộc đối thoại được dứt khoát ngay khi ông nhà thầu chìa ra một phong thư:

– Dạ, ông có cái thư ở Nha Trang gửi tới, nhờ tôi chuyển tới ông..

Người lính mặc “xi-vin” cầm lấy cái bao thư. Thắng có đủ thông minh để biết trong đó đựng cái gì. Thế là chẳng cần đến việc khám xét. Chẳng cần chờ sự liên lạc với cơ quan Mỹ. Thắng muốn đem việc này tố cáo lên cấp trên nhưng dễ gì ai tin mình nên tự nhiên Thắng thành một con người dễ dàng tha thứ. Tội gì mà “đem giây buộc cổ”!

Thắng cứ thắc mắc về cái “đồng loã” của mình để rồi vài ba đêm thao thức, không ngủ được. Nhiều khi Thắng nghĩ đến công việc làm, đến những người lính biên trấn nằm trên Pleiku, nằm ngoài Đà Nẵng, lúc nào cũng thật gần với sình lầy, để rồi ở đây, có những con người phản bội, mê mải làm giàu, làm những công việc không xứng đáng với những con người cầm súng. Một chút thoáng buồn cho những người lính mang nặng suy tư.

Những quán nước dưới gốc cây điệp, cũng mang lại cho những người lính Không Quân còn trẻ, những cái tủi hận mênh mông. Những người có vợ mở quán nước, lấy việc nhà làm chính, còn những công việc của Không Quân chỉ là công việc phụ. Một người lính Mỹ vào một quán nước, ngồi vào bàn, dơ tay lên khỏi đầu, búng ngón tay một cái :”Lieutenant, one beer!”. Ông trung úy mang ra một chai bia. Đã một dạo, người ta gọi ông là “Lieutenant one beer”. Trung úy một chai la-de! Tưởng không có gì mỉa may cay độc bằng. Nhưng đồng tiền quyết định tất cả. Cho chúng mày mỉa mai. “Rồi đây, ông lấy giấy năm trăm, ông vo tròn lại, ông búng vào mặt chúng mày cũng đủ rỗ mặt chúng mày ra”.

Đằng sau những cái quán nước, chỉ cách vài hàng giây kẽm gai và một khu đất trống là Phi Đoàn Trực-thăng. Phi cơ lên xuống, hàng ngày chở những xác chết từ những chiến trường của khắp nẻo đường đất nước. Ban đêm, cả cái phi đoàn ấy lặng lẽ như chìm vào cái ánh sáng lờ mờ của những ngọn đèn điện màu vàng. Như xa hẳn thành phố. Cũng có những tiếng gió rì rào thổi luồn vào đám cỏ. Cũng có những tiếng ếch kêu và tiếng dế nỉ non những đềm sương xuống lạnh.

Cách đây vài ngày, Thắng phải đi công tác miền Trung. Thắng là nhân viên phi hành đoàn của một chiếc C47, chở bom soi sáng, túc trực ngoài Đà Nẵng. Chiến trường miền Trung đang thời kỳ nóng bỏng. Chiếc C47 vượt qua hai giờ rưỡi bay, hạ cánh xuống phi trường Đà Nẵng. Thắng đứng giữa biển và núi. Khí trời như ở miền Bắc trong mùa khai trường. “Hàng năm, cứ về cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc…”

Tình hoài bắc của Thắng chợt tan biến khi nghe tiếng Phantom cất cánh, tiếng máy phản lực rít xé không gian, vừa lên khỏi phi trường, chưa kịp lấy cao độ, đã nhào xuống bắn phá. Việt Cộng ở sát ngay phi trường. Chiến trường còn nóng hổi cái không khí sát phạt. Ở Đà Nẵng dù những đêm không nghe tiếng súng, người ta vẫn thấy trong cái im lặng, một cái gì sắp nổ bùng, vỡ ra, để đưa những con người vào cái thế chiến đấu hay là chết.

Phi cơ của Thắng đậu ở chỗ để dành riêng cho phi cơ chở bom soi sáng. Hai bánh xe đè lên chữ flare ship. Bom soi sáng, lúc nào cũng phải để trên phi cơ, để khi có lệnh gọi, chỉ việc cất cánh bay đi. Thắng phải vào Ban Cứu Hoả để nhờ coi chừng, khi có chuyện gì, nhớ để ý tới chiếc phi cơ mà trong lòng nó mang hàng trăm trái bom dễ cháy.

Thắng đi bộ vào Đại-đội Cứu-hoả của Không-đoàn 41. Những chiếc xe sơn màu đỏ nặng nề, nằm chờ để dập tắt những ngọn lửa. Thắng gặp toàn những người quen. Thắng tòng ngũ đã gần ba mươi năm, đã qua tất cả các phi trường, nên đi tới đâu, cũng gặp những người quen biết cũ. Với những anh em chữa lửa, Thắng đã từng chia với nhau những lo âu, những bực bội của cái thời Bearcat F8F Biên Hoà, ăn cơm chung với nhau nơi phi trường Nha Trang cát trắng.

Thắng tới, thì các anh đang cúng rằm tháng Bảy. Hai con heo quay nằm soãi chân ra các góc bàn, nhe hai hàm răng ra cười như chế nhạo lũ người hãy còn tin ở những oan hồn, uổng tử. Những người lính chữa lửa dễ chết lắm. Chết để cứu những người khác sống. Anh Trung-sĩ Mạnh dẫn Thắng ra đằng sau nhà, xem một mảnh bom kỷ niệm của Đội Chữa-lửa Không-đoàn 41. Mảnh bom văng ra từ một chiếc phi cơ phản lực B57. Tàu bay của Hoa Kỳ, nhưng mà khi có lửa cháy thì không phân biệt những gì của ai cháy.

Mạnh cười nói với Thắng:

– Nếu tàu bay của Việt Cộng mà rơi xuống, bốc cháy, không chừng chúng tôi cũng chữa…

Thắng ngồi nghe tâm sự của Mạnh, cũng là tâm sự của người lính chữa lửa Không Quân. Công tác của các anh là một công tác cứu người.

Những người lính chữa lửa Hoa Kỳ, làm việc được hưởng đầy đủ các thứ tiện nghi. Hoa Kỳ được trang bị một cái máy đo sức nóng, để biết tới độ nào bom có thể nổ để mà…chạy. Lính chữa lửa của cái xứ Giao Chỉ này, thì có lẽ phải chờ đến kiếp sau mới có. Thành ra, khi những trái bom của chiếc B57 phát nổ thì nhìn chung quanh chỉ toàn lính chữa lửa của cái “không quân nước mắm”. Mạnh kể đến đây cười hì hì:

– Tôi lộn tung đi hai vòng…Lúc đứng lên thì trái bom khác lại nổ, tôi lại nằm xuống. Hơi nóng thấm qua mặt nạ làm rát mặt. Tôi lấy làm lạ là bị bầm vập như vậy mà nhìn xuống tay, vẫn thấy còn ôm khư khư cái vòi rồng…

Nếu là lúc khác mà nghe Mạnh kể như vậy, thì Thắng thế nào cũng nghĩ bậy. “Ôm khư khư cái vòi rồng”, Thắng nghe Mạnh nói một cách rất thật thà, thành khẩn, nên Thắng chỉ hơi nhếch mép, mỉm cười. Thắng thấy Mạnh rất yêu nghề.

Giá sinh hoạt ở Đà Nẵng đang lên cao.. Mạnh thở dài, chua xót:

– Nhiều thằng, buổi sáng, đói mờ người đi, đến nỗi đạp cái thắng xe chữa lửa không nổi.

Thắng thật buồn.. Vậy mà anh em cũng vẫn góp tiền để mua heo quay cúng cô hồn. Thắng ngồi cạnh anh em, trước mâm thịt heo quay, miếng thịt quay ở trong mồm như muốn mắc nghẹn. Thắng cố duỗi cổ để nuốt. Thắng nghĩ rằng trong Không Quân, có nhiều thằng thật vô ích, chẳng đáng được hưởng một ly ông cụ gì về tưởng thưởng cả thì lại được hưởng đầy đủ. Trong số đó có cả Thắng, nếu Thắng đem so sánh Thắng với các anh em chữa lửa.

Thắng đưa câu chuyện ra khỏi vùng ưu tư bằng cách kể những kỷ niệm xưa ở Biên Hoà. Những chiếc F8F bất thường như những cô gái “tốc-kê”. Sắp sửa hạ cánh, nhất định chỉ thò ra có một cẳng. Tới những con người khu trục tài hoa như Nguyễn Thế Long, Phạm Phú Quốc, Lưu văn Đức… Nhất là Thiếu-tá Lưu văn Đức. Vừa cất cánh lên khỏi phi đạo, cao độ mới chừng hai trăm thước, lộn một vòng làm một tonneau xong thì ba cái bánh xe biến mất.

Thắng thấy lòng thật vui với những kỷ niệm ngày xưa. Có những lần, tàu bay lộn úp sấp, nằm úp xuống phi đạo, mất nhiều công phu, trục, lôi, kéo, chữa lửa chực sẵn để dẹp từng tia lửa, đến lúc kéo được ông phi công ra thì ông ta kêu mất kính Ray-Ban, mất bóp. Mạnh kể chuyện như không biết mệt. Thắng vừ ngồi nghe, vừa ăn thịt heo quay, uống “ba xi đế”. Ở đất Đà Nẵng này chỉ có thế. Bốn chục đồng một chai la-de. Thắng quên hẳn cái không khí Sàigòn.

Thắng đứng dậy, từ giã anh em chữa lửa. Mạnh hỏi:

– Đi đâu?…

– Xuống kho bom, nhờ chúng nó coi lại những cái “kíp” nổ của bom soi sáng…

Mạnh lại một cái xe chữa lửa, đưa Thắng xuống kho bom. Mặt của Mạnh đỏ bừng, không biết vì men rượu “ba xi đế” hay vì cái nóng miền Trung. Kho bom ở biệt lập tận hàng rào an ninh phi trường . Chiếc xe nặng nề, đi vòng phi đạo. Đường đi thật xa, không một bóng cây. Nắng miền Trung đổ lửa, nhảy múa với bụi đường.

Vừa qua hàng rào giây kẽm gai, Thắng đã thấy người lính của kho bom, đội nón lá, cầm búa đang bổ xuống những trái bom để làm đứt những chiếc đai. Chắc công việc này vẫn tiếp tục ngày nầy qua tháng khác. Thắng vừa nhảy xuống xe thì có tiếng gọi:

– Ê, Thắng…

Thắng nhìn vào trong kho…Thiện, người bạn cùng học một trường thợ máy ở Rochefort, có biệt danh là Thượng-sĩ I Đầu Bạc, đang vẫy tay gọi Thắng:

– Ra đây bao giờ? Cần cái gì?

Thắng cười:

– Vừa ra đây xong thì tới kiếm mày. Cho tao một nhân viên được không?…Tàu bay tao chở bom soi sáng.

Thiện chỉ vào năm, sáu người đứng chung quanh . Toàn những tên ghê gớm. Hoàng mập, Kính voi, Tư rocket. Những thằng này nâng bom lên móc không cần tới máy nâng chạy bằng động cơ MJ1. Lấy thằng nào tao cho luôn. Cho luôn cả tao nữa.

Thắng chăm chú nhìn Thiện. Đầu Thiện bạc phơ, hết cả nét đẹp trai. Hồi còn ở trường thợ máy, Thiện được nhiều cô đầm mê. Ngược lên phương Bắc là tỉnh La Rochelle. Xuống miền Nam là Bordeaux, Toulouse. Thiện đi tới chỗ nào, cũng có đầm con nhà lành, trả tiền cho đi ăn, đi nhảy. Còn bây giờ thì ngồi trộn bom napalm mùi xăng bốc lên ngạt thở.

Thắng thò tay vào túi lấy bao thuốc lá. Vừa đặt điếu thuốc lên môi, Thiện đã rút phựt điếu thuốc lá ra khỏi môi Thắng, đút lại vào trong bao thuốc:

– Đồ ngu! Ở chỗ này mà hút thuốc… Có chán đời thì đừng làm cho những người khác chết theo chứ.

Thiện cười vang , rút găng tay ném vào góc nhà. Ngoài kia, nắng đổ lửa, một người lính đang cầm búa bổ xuống cho đứt những đai bom. Mái tôn nóng hầm hập, có tiếng kêu lách tách khi bị nóng làm dãn ra, uốn cong những chiếc đinh rỉ sét. Thắng quay ra ngoài xe:

– Mạnh về trước đi…Tôi ở lại đây chơi với thằng khốn nạn Thiện. Cám ơn Mạnh, cám ơn mấy miếng thịt heo quay.

Trực flare ship chỉ vất vả vào ban đêm. Ban ngày thì cần gì phải thả bom soi sáng…Thắng ngồi chơi với Thiện cả buổi sáng. Thiện kể cho Thắng nghe vẫn nhận được thư của mấy con đầm. Có đứa đã có chồng với một đống con. Có đứa gửi thư vẫn thấy còn đề mademoiselle.

– Các em thấy mình adjudant chef, cứ tưởng là ghê gớm lắm. Ở cái nước Tây, thì cái lon thượng sĩ nhất đã kể là vinh hoa phú quý rồi. Mẹ kiếp, bố khỉ….

Thiện chửi bâng quơ, chửi hết, chửi mình, chửi Thắng. Thằng Nguyễn, thằng Võ, thằng Huỳnh, chúng nó phản bội nghề nghiệp, bỏ đi làm phi công hết rồi. Bây giờ thì cũng đại úy, tuy rằng đi sau, đầu hai thứ tóc rồi mới học lái tàu bay. Chỉ còn lại tao, mày và mấy thằng khốn nạn nữa là còn sót lại của cái trường Rochefort. Thợ súng, thợ máy, thợ la-dô, những cái nghề bạc bẽo. Thiện ngâm thơ ồm ồm: Giận đời bỏ học đi làm đĩ…

Kính voi góp chuyện:

– Nghe nói chúng mày đi buôn lậu, giàu lắm…

Thắng nhăn mặt:

– Ừ, thì cũng có thằng giàu, có thằng sạt nghiệp. An-ninh và Quân-cảnh, lờ đi cho vài chuyến Mã Lai. Chúng nó tưởng bở, làm một chuyến lớn, thế là về bị chộp hết. Có nhiều thằng khuynh gia, bại sản, mang công mắc nợ vì buôn lậu. Đấy là nói chuyện thiên hạ. Còn tao, tiền lương tháng nào cũng chỉ đủ tiền uống rượu lấy gì làm vốn mà mua vải, la-dô…

Thiện thì cứ hùng hổ, đi đi lại lại, trong căn nhà chứa bom. Cái xe “đốt cát” của tao đâu rồi. Tao chở thằng Thắng đi nhậu. Có một chỗ ghi sổ, em chịu ta lắm, ít khi nào nhắc nhở đến chuyện “một trang nhật ký”. Kính bĩu môi:

– Gáy hoài! Sức mấy…Ông cho có bữa nổ ống khói, đi tiểu “một tiếng kêu cha, ba tiếng kêu chó”. Ê, Thiện! Hôm nay cho thằng Thắng, nó ăn cái gì…

. . . . . . .

Bây giờ nằm đây, Thắng thấy nhớ những người bạn cũ. Thiện, Kính và những người cùng đi chung chuyến tàu Athos II. Đêm nay, thật khó ngủ… Thắng đếm 1…2…3…Một trăm… hai trăm…Những phòng của cư xá đã tắt hết đèn. Tiếng ho của ông Lộc già ở phòng bên cạnh. Một ngàn… hai ngàn….Thắng ngủ trong tiếng động cơ cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất.

Nguồn: https://baovecovang2012.wordpress.com/2021/03/29/buon-vui-phi-truong-duong-hung-cuong/2/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s