BUỒN VUI PHI TRƯỜNG 3 – Dương Hùng Cường

on

Dương Hùng Cường

Đánh máy: Lê Thy

https://baovecovang2012.files.wordpress.com/2021/03/bia_buonvuiphitruong.jpg?w=442&h=700

B uổi sáng, Thắng thức dậy lúc bảy giờ…Hối đã về từ lúc nào Thắng không biết, đang nằm ngủ trên giường, chân tay dang ra trong một dáng điệu rất thoải mái. Chắc Hối về từ lúc năm giờ sáng. Qua một đêm vất vả trông Hối như già thêm. Thắng rửa mặt, lấy xe phóng xuống phi đoàn trực thăng, rủ Đặng đi ăn sáng.

Đặng là phi công trực thăng, có tính gàn ghê gớm. Tối hôm qua, Đặng phải trực tại phi đoàn nên có dặn Thắng nhớ tới rủ đi ăn sáng. Lúc Thắng xuống tới nơi, thấy Đặng đang ngồi tán gẫu với mấy người tân binh gác tàu bay trong hangar. Thắng phóng xe lại gần.

– Mấy cha gác tàu bay nói chuyện, đêm hôm qua nghe thấy tiếng vật nhau huỳnh huỵch ở trong tàu bay trực thăng. Mày có tin không?

Thắng chưa biết trả lời sao, thì anh chàng hạ sĩ ngồi gần đó lên tiếng công nhận:

– Gác trực thăng thấy như vậy là sự thường…

Mặt của Đặng như buồn hẳn lại… Chàng nhớ tới một người bạn thân. Hắn là một cây sợ ma, không ngờ bây giờ hắn lại thành ma. Đặng vẫn có những cái vui, buồn bất chợt. Nhiều khi ngồi lái tàu bay, Đặng cứ cười một mình. Người ngồi bên cạnh hỏi thì chàng chỉ cho thấy nhiều cái khôi hài trong tàu bay. Cái cần lái thì dài quá, cái tay ga thì ngắn quá mà vẫn cứ phải ở chung với nhau. Ngày nào cũng chỉ có ngần ấy cái đồng hồ. Thế mà không hiểu sao chỉ nhờ cái cần lái với hai cái bàn đạp mà nhiều thằng tậu được nhà, mua được xe ô-tô.

Người ta cho Đặng là gàn vì Đặng hay có những triết lý lẩm cẩm. Nghe chuyện một ông quan lớn tát ông quan bé, Đặng cũng cứ thắc mắc:”Sao người ta lại tát nhỉ? Tát thì đâu có đau. Sao lại không đấm, sao lại không đá?…” Đặng có thật nhiều băn khoăn trong nội tâm nên lúc nào cũng có một dáng đi thẫn thờ.

Đặng ngồi lên yên xe đằng sau của Thắng. Thắng rú ga, vọt mạnh. Gió buổi sớm mai lành lạnh, thổi bay của Đặng chiếc mũ dô-kề. Đặng cằn nhằn:

– Chạy xe gì mà như đi ăn cướp…

Những anh chàng phi công trực thăng hình như ghét tốc độ, thích một tác phong tà tà… Đi chở xác chết tất không muốn mình lại thành một xác chết. Đi lôi những chiếc tàu bay nằm ăn vạ ở ruộng về, rất không muốn lại bị người ta lôi mình…

Đặng hay kể cho Thắng nghe cuộc đời của một phi công trực thăng. Lái trực thăng, hay bị chở xác chết. Có những xác chết, mặt mày nhăn nhó như đã trải qua những giây phút đau đớn cùng cực trước khi chết. Những xác này, phần nhiều là xác sĩ quan. Thường thường, họ cố bấu víu lấy sự sống nhưng những vết thương trên người quá kinh khủng, khiến người nhìn xác chết có cảm tưởng như xã hội của những người đầy đủ xương thịt đã đóng kín cửa lại rồi…

Có những xác chết, nét mặt có vẻ vui, trên bộ mặt trắng bệch vì hết máu, có điểm một nụ cười nhợt nhạt. Những xác này phần nhiều là lính. Trong khi chờ trực thăng tới, những xác chết đó để dưới cơn mưa tầm tã, hay nắng thiêu người nhưng không phải vì thế mà nụ cười bị tắt trên đôi môi tím.

Ngày nào cũng chở xác chết, mới đầu Đặng thấy nghẹn ngào, chua xót. Đã nhiều lần, Đặng đã lớn tiếng nói những lời thật thậm tệ để sỉ vả những kẻ, vì vội mà cẩu thả với những xác chết. Nhưng sau này, Đặng quen đi.

Những buổi chiều, bay trong bầu trời u ám, Đặng không phân biệt được là sương mù buổi chiều đang xuống hay mình đã nhìn cảnh vật chung quanh qua ngấn lệ. Nhiều khi ngồi im lặng trong phòng lái, Đặng tò mò, cúi đầu xuống, nhìn lại đằng sau thấy toàn là những xác chết. Đặng bỗng thấy rùng mình, cảm thấy mình cũng biến thành xác chết.

Đặng kết luận với Thắng:

– Chỉ là một sự thay đổi danh từ… Nếu tiếng “chết” mà đổi thành tiếng “sống”, thì những người nằm đó là những người sống, còn tao, tao đang ngồi trong phòng lái chỉ là… chỉ là một xác chết.

Đặng vẫn có những lúc chán đời như vậy. Hai người đi vào Câu-lạc-bộ Lê Hoành Sơn. Khi tên người nào mà đã được đem ra đặt tên cho một Câu-lạc-bộ, thì kẻ đó tất nhiên là đã “ngỏm củ tỉ”. Lê Hoành Sơn, Lê văn Lộc, Huỳnh Hữu Bạc. Có những người bạn, từ lâu không gặp , Thắng tưởng rằng nó đổi đi xa, không ngờ một hôm, ghé qua một căn cứ, gặp cái bảng tên nó treo trước một quán ăn. Như trường hợp, vài hôm trước ở Đà Nẵng, Thắng vào Câu-lạc-bộ Nguyễn Bội Ngọc. Chàng kinh ngạc hỏi Thiện:

– Nó chết rồi à?…

– Thằng nào?

– Ngọc…Nguyễn Bội Ngọc.

Thiện trợn tròn mắt nhìn Thắng, như tưởng rằng Thắng ở trên cung trăng vừa rớt xuống. Mày không biết à? Báo chí đăng ầm lên, vụ lựu đạn nổ trong kỳ triển lãm Không Quân trước toà Đô-chính. Thằng Ngọc đã anh dũng nằm đè lên trái lựu đạn để cho dân chúng ít chết. Thế là nó thành anh hùng. Tên nó người ta đặt cho Câu-lạc-bộ.

Thắng và Đặng ngồi vào bàn, gọi hai tô phở. Phở ở đây không ngon lắm, nhưng vẫn đông khách vì người ta ngại ra phố. Những tấm màn cửa sổ màu đỏ vẫn còn kéo che kín. Câu lạc bộ này, buổi tối là một dancing, nên ban ngày kéo màn cửa sổ vẫn giữ được cái không khí âm u.

Lúc Thắng và Đặng ra ghế xa-lông ngồi uống cà-phê thì có một ông Đại-uý tiến tới bàn. Ông bắt tay Đặng thật chặt. Bàn tay bắt tay Thắng thật lỏng lẻo, nhạt nhẽo. Ông hỏi Đặng:

– Hôm nay, tàu bay toa đi Nha Trang?

Đặng trả lời khó chịu:

– Ừ, có chuyện gì không? Tôi đi đổi phiên cho thằng Trịnh.

– Cho moa quá giang đi Nha Trang có được không?

Thắng thấy mình có bổn phận kéo một cái ghế để tỏ ra mình lịch sự:

– Anh ngồi chơi.

Thắng bắt gặp đôi mắt lạnh lùng. Ông Đại-uý vẫn đứng chờ Đặng trả lời. Đặng thản nhiên:

– Có quyền…

Ông Đại-uý tươi hẳn nét mặt:

– Cám ơn, cám ơn toa. Chín giờ moa tới phi đoàn toa nhé. Chờ moa rồi hẵng cất cánh nhé.

– Đồng ý.

Ông Đại-uý đi rồi, Đặng nhìn ly cà-phê, nước nhỏ giọt vào trong ly. Đặng gọi những giọt cà-phê là những giọt nước mắt đen. Thắng vẫn bị ám ảnh bởi đôi mắt lạnh lùng:

– Thằng đó nó có vẻ ghét tao, không hiểu tại sao…

– Tại mày gọi nó bằng anh. Ồ, để ý đến nó làm gì. Những thằng ăn giấy, những con mọt giấy, ngày nào cũng sống trong bốn bức tường, có bao giờ tìm thấy cái phóng khoáng của con người. Với lại cũng tại mày. Nó là đại úy, mày cứ gọi nó bằng đại uý. Đó là cái thuyết chính danh của Khổng Tử. Con chó thì gọi là con chó, con mèo thì gọi là con mèo. ..Chẳng có việc gì mà phải đắn đo…

Giọng Đặng nhiễm đầy vẻ chua chát. Thắng thấy yêu cái gàn của Đặng:

– Mày là Trung-úy, tao có bao giờ dùng cái tiếng Trung-úy để gọi mày đâu..

Đặng buông sõng :

– Thằng Đặng là Trung-uý, nhưng không phải thằng Trung-uý nào cũng là thằng Đặng.

Thắng nhắc chiếc phin cà-phê đặt ra ngoài, cho vào ly hai muỗng đường. Tiếng muỗng nhôm đập nhẹ vào thành ly kêu lanh canh. Thắng cầm ly cà-phê lên uống mà nhìn thấy ở trong ly đôi mắt của mình. Đặng ơi, tao yêu mày… Đừng có bao giờ để cho chúng nó mang tên mày đặt cho tên một cái Câu-lạc-bộ.

Thắng nói ra mồm cái ý nghĩ đó:

– Tao mong rằng không có cái Câu-lạc-bộ nào mang tên Trần Dưỡng Đặng…

Đặng giật bắn người, như bị kiến đốt. “Ị mồm đái miệng” cái mồm ăn mắm, ăn muối của mày. Nhưng rồi Đặng ngồi thẫn thờ, cúi khòm hẳn lưng xuống, xoay xoay ly cà-phê quanh cái đĩa. Cuộc đời có cái gì là vững chắc. Thắng cũng cùng một ý nghĩ của Đặng.

Hai người cùng nghĩ tới một người bạn thân. Thằng Lê Đình, Thượng-sĩ Lê Đình. Những thằng đã chết rồi nếu không đặt tên cho Câu-lạc-bộ, người ta cũng mang tên chúng nó ra đặt tên cho một con đường. Con đường đi qua cư xá độc thân của Thắng mang tên Thượng-sĩ Lê Đình. Ngược con đường Lê Đình là đường Trung-úy Trương Hiệp, đường Chuẩn-uý Võ văn Xuân, đường Trung-uý Nguyễn Thống…

Toàn là những người quen…Tên của những con đường trong căn cứ đều gần gũi, thân mật hơn những con đường Sàigòn. Thắng chẳng quen được một ông nào có tên được đặt cho đường Sàigòn. Các cụ tổ ấy đã chết từ “đời tám hoánh” nào rồi, còn đâu nữa. Còn tên đường trong căn cứ là tên của những người có khi chết còn chưa xanh ngọn cỏ…Nhìn thấy một vài ba tấm bảng, không hiểu sao Thắng cứ thấy rờn rợn thế nào ấy.

Thắng có một thằng bạn, có một lần đi qua một con đường chưa được đặt tên. Nó nói giọng bỡn cợt:

– Con đường này để dành cho tao..

Không ngờ vài hôm sao nó “ngỏm” thật và buồn thay, tên nó người ta lại đặt cho một tên đường khác.

Dạo này trời cứ mưa luôn…Thắng nhớ tới một người phi công chết đuối ở sông Nhà Bè. Phi cơ đang bay bị hỏng máy, phi cơ của anh bị hạ cánh bắt buộc xuống sông. Đôi giày nặng quá mà anh không mặc áo phao. Xác anh chìm xuống đáy sông.

Hôm đó, trời mưa sụt sùi…Thắng đứng trên bờ sông mênh mông sóng vỗ, lơ đãng nhìn theo những chiếc thuyền con, lênh đênh đi kiếm xác. Tiếng gõ cốc, cốc vào mạn thuyền, rời rạc vang trên sông. Người thuyền chài nói rằng gõ như vậy, để xác nằm dưới đáy sông phải nổi lên mặt nước.

Thắng muốn lên một con thuyền để nếu có tìm thấy xác thì chàng được nhìn tận mặt cái con người nổi tiếng hào hoa lúc trong bụng đầy nước sông. Nhưng những người thuyền chài không cho Thắng đi.

Thắng đứng bên sông, đón những giọt nước mưa chui vào trong cổ áo, chạy dài xuống sống lưng. Một bà cụ già, nằm lăn trên cỏ, khóc còn hơn trời mưa. Một người con gái, thật trẻ và thật đẹp, tóc dính bết vào má, cắn chặt chiếc khăn mùi-xoa. Cảnh đó làm cho Thắng sợ mãi. Tối hôm đó, trước cửa phòng Thắng có một con đom đóm bay lập loè…

Lòng Thắng thật buồn nhớ tới ngày còn đi học. Đường Rollandes tràn ngập lá vàng. Thắng học cùng lớp với Lê Đình mà tên hắn viết lên bảng, gắn vào cột đèn điện…

Có một hôm, một ông nhà binh ăn mặc thật là đẹp, thật là hùng tới trường… Ông từ cái nước Sàigòn vượt mấy ngàn cây số ra đây để nói về chuyện tàu bay. Chuyện tàu bay, kể cả chuyện đi tàu bay giấy nữa, nghe thật là hấp dẫn.

Làm thế nào để cái tàu bay bay được? Nhờ có đôi cánh?…Hoả tiễn thì làm gì có cánh mà nó vẫn bay được. Nhờ ông phi công?…Tàu bay vô tuyến điều khiển chẳng cần tới ông phi công. Nhờ cánh quạt?… Tàu bay phản lực thì làm gì có cánh quạt. Nhờ có động cơ?…Những chiếc planeurs và những chiếc diều, làm gì có động cơ mà nó vẫn bay lượn trên mây.

Rồi ông ta giảng nghĩa một thôi, một hồi. Tất cả cứ há hốc cái mồm ra mà nghe. Kết quả thì tất cả cái lớp học của Thắng đều hiểu rằng, một cái máy mà bay được thì gọi là cái máy bay.

Nhưng rồi cái buổi nói chuyện ấy cũng cám dỗ được nhiều thằng. Trong số đó có Thắng và Lê Đình. Thắng làm đơn xin đi học nghề thợ máy, còn Lê Đình thì làm đơn xin đi học nghề tài xế tàu bay.

Thời đó, người mình chỉ được học lái “bà già”. Có con cào cào, nó bay lên cao, nó lộn nó nhào, nó rớt xuống sông là máy bay “bà già” đấy. Có một mùa mưa, mưa to ghê lắm, nước ngập cả hangar, “bà già” nổi lềnh bềnh trên mặt nước như xác mấy đứa chết trôi.

Máy bay “bà già” bay… mau lắm. Nếu bị ngược gió, tống lút tay ga mà tốc lực cũng chỉ gần bằng xe mô-tô. Thằng bạn Thắng, thằng Pi-lốt Thái Bình, đã lái tàu bay “bà già” đuổi theo một em ngồi đằng sau mô-tô, giơ tay vẫy, hôn gió, mà không làm sao đuổi nổi, đành nhìn theo em nhỏ dần, nhỏ dần rồi mất hút.

Thằng Pi-lốt Thái Bình biết lái tàu bay rồi mới tập đi xe đạp. Khi nó thành phi công thì Thắng là thằng giữ xe đạp cho nó tập. Người nó cứ vẹo đi. Nó biết lái tàu bay thì người còn nguyên mà khi biết lái xe đạp thì chân mang hai cái sẹo…

Thằng này là thằng có nhiều giai thoại nhất…thế giới. Có lần bay ở Phan Thiết về Nha Trang, tàu bay “bà già” bay hết những ba giờ đồng hồ, cánh quạt máy bay còn ục oặc chưa ngừng quay, nó đã tông cửa nhảy xổ ra như gió.

Thắng ở sân đậu, giật mình ngạc nhiên, cứ tưởng rằng trong máy bay có chuột. Thắng ghé mắt, cầm tuột-nơ-vít khua khắp các gầm ghế, không thấy gì, nhìn theo thì thấy thằng Pi-lốt Thái Bình chạy mất hút về phía cầu tiêu. Cửa cầu tiêu mở ra đóng lại, gây một trận động đất nhỏ. Một lúc sau, nó mới ở trong cầu tiêu ra, mặt hí hởn, mắt sáng lên, nụ cười hể hả, ra xem xét lại máy bay. Cả phi trường được một bữa cười gần vỡ bụng.

Những người bạn ngày xưa, đi lính cùng một lần với Thắng, có Pi-lốt Thái bình, có Lê Đình… Người nào cũng có tên riêng. Lê Đình có cái tên ông Táo, vì ông Táo đội mũ, mang hia mà lại chẳng mặc quần…Tên nào đặt ra cũng có nguyên nhân. Chuyện Lê Đình thành ông Táo cũng vậy.

Một hôm nó cưỡi “bà già”, bay qua một khu bờ biển. Đang bay, “bà già” khục khặc ho lên vài tiếng rồi cánh quạt nhất định nằm ngang. May cho nó là nó đang bay cao, nên nương theo đà gió lượn xuống thấp dần và lết vào một phía bờ biển bỏ hoang, chưa có vết chân người. Ục một tiếng, máy bay của nó đâm nhẹ xuống bãi biển, gãy cẳng, cánh cắm xuống cát. Nó ra khỏi máy bay bình an, chỉ hơi nhức tim một chút xíu thôi.

Máy bay ở nhà, lâu không thấy nó về, đổ xô đi tìm. Nó thấy tàu bay, bay qua, bay lại trên nền trời mà tàu bay lại không nhìn thấy nó. Bực mình quá, nó cởi quần áo tẩm dầu xăng, đi cách xa máy bay một quãng rồi đốt, khói um lên. Máy bay lúc bấy giờ mới nhìn thấy nó, đánh dấu chỗ đó vào bản đồ rồi nhờ mấy ông quần áo trắng tới chở nó về.

Mãi đến tận mười hai giờ đêm, tàu mới cặp bến. Nó đi đôi giày cao cổ, đội mũ cát-kết, khoác cái mền của các ông áo trắng cho mượn, đi bộ từ ngoài bãi biển vào trong căn cứ. Cả cái cư xá độc thân vẫn còn chưa ngủ chạy ra xem, xúm lại nắn khắp người nó, xem nó có bị sứt mẻ gì không…Có thằng lại còn nắn cả “chim” của nó nữa. Chỉ sợ nó bị văng mất “con chim” thì đời nó tàn. Tiếng ồn ào, huyên náo đánh thức hết cả căn cứ dậy. Trông cái dáng điệu đội mũ đi hia của nó, một thằng vội đặt tên:

– Từ giờ trở đi, gọi nó là phi công ông Táo.

Thế là từ đấy, nó nghiễm nhiên trở thành ông Táo. Đối với đàn bà thì ông Táo nhát ghê lắm, nhưng về cái môn nghịch ngầm thì ông Táo lại kinh khủng.

Trong phòng ông Táo, lúc nào cũng có cà-phê. Ông Táo thích uống cà-phê, nhưng phải tự mình pha lấy. Nước cà-phê, pha lần thứ hai, ông Táo đặc biệt dành cho Thắng. Uống vẫn còn đặc và sánh. Ông Táo gọi cái cà-phê pha lần thứ hai đó là cà-phê Lundi. Tiếng cà-phê Lundi, ông Táo dùng nói chuyện với Tây, mà Tây vẫn hiểu như thường. Mấy thằng Tây thật thông minh. Rồi tùy theo giá trị mặt mũi từng thằng , ông Táo cho uống cà-phê Mardi, cà-phê Mercredi…Ấy thế mà khi gần cuối tháng, nhiều thằng vẫn còn đòi uống cả đến cà-phê Samedi.

Hồi đó, còn thời Tây…Những anh lính viễn chinh hay dở trò nhăng nhố. Ở căn cứ, cả phi trường đều ghét Đại-úy Penan. Cái thằng ông Táo bị ức hiếp nhiều lần, tức quá, viết vào trong cầu tiêu: Đại-úy Penan coi chúng mình như cục c…

Hôm sau, đã có thằng khác nối điệu: Chúng mình coi Đại-uý Penan như con cá tra…

Ấy thế mà cũng đến tai thằng đại úy mặt đỏ. Thắng thì rất phục cái thằng nào đã dịch nổi hai câu đó. Thằng mặt đỏ, đem chuyện đó ra xỉ vả anh em và ông anh cả của căn cứ thì họp tất cả lại để chửi, để vuốt ve, để hứa hẹn…Sau cùng, ông kết luận:

– Tôi mong rằng các anh em sẽ là cái gạch nối giữa cấp chỉ huy và binh sĩ…

Tiếng cái thằng ông Táo nho nhỏ ở cuối hội trường:

– Mong rằng không phải là cái gạch nối giữa đàn ông và đàn bà…

Tiếng cười rúc rích nổi lên, rồi khi ông anh cả của căn cứ bước ra khỏi cửa, tiếng cười nổi lên ầm ầm. Chuyện tiếu lâm Tây, Tàu, ta, Mỹ của những chàng trai mặt đầy chất láu cá vang vang chung quanh cái gạch nối giữa đàn ông và đàn bà. Vài thằng đạo đức giả vội bịt tai chạy như ma đuổi…

Kết quả của câu chuyện đó là ông anh cả đề nghị đổi lung tung. Ông biết rằng lũ quỷ sứ mà bị cô lập thì sẽ hiền lành như cục đất. Trong khi chờ lệnh thuyên chuyển, lũ Mọi da vàng nhất định khi nói chuyện với lũ Mọi da trắng, chỉ dùng tiếng Tây bồi. Mọi da trắng ức lắm, không thèm chơi với Mọi da vàng. Nhưng Mọi da trắng mà chơi với nhau, thì chỉ toàn những trò lẩm cẩm.

Trong một Câu-lạc-bộ, hai thằng mọi da trắng đang chơi một trò lẩm cẩm là đố chữ. Bắt đầu một mẫu tự, rồi hai, rồi cứ tiếp tục mãi…Thằng nào tịt mà thằng kia còn nói thêm được một chữ nữa là thắng…Bàn bên cạnh, bọn Thắng đang ngồi uống nước, thấy cái trò lẩm cẩm ấy mà bực mình. Hai thằng Mọi da trắng đã chơi tới chữ có năm mẫu tự.

Chợt thằng ông Táo xoay ghế, quay mặt về phía hai thằng da trắng:

– Tao biết có một chữ có 5 alphabets mà chắc tụi mày không biết…

Hai thằng da trắng cùng hỏi:

– Chữ gì vậy mày?

Thằng ông Táo đứng dậy, đi tới gần hai thằng Mọi da trắng, chõ mồm vào tận mặt hai thằng , nói như quát:

– Merde!

Cả bàn của bọn Thắng cười ầm ầm. Tiếng cười của thằng Pi-lốt Thái Bình to nhất, cứ hố hố. Thằng ông Táo ung dung trở về, ngồi vào ghế. Hai thằng Mọi da trắng mất hứng, mặt đỏ bừng, nhìn lũ Mọi da vàng bằng cặp mắt như muốn nuốt sống ăn tươi.

Rồi lệnh thuyên chuyển ra đúng vào lúc mà thằng nào cũng kiết, xoay bở người mới được ba đồng mua bốn điếu thuốc Ruby. Thằng đi Đà Nẵng, thằng về Biên Hoà. Thắng bị đổi về làm ở một bàn giấy tại Sàigòn. Ông Táo bị ở lại chỗ cũ mới khổ sở làm sao chứ. Ông Táo buồn tái, buồn tê.

Lúc chia tay với Lê Đình, Thắng như muốn khóc. “Chúng mình ở với nhau, bạn sống có, bạn chết có, sao mày nỡ bỏ chúng tao mà đi”…Ông Táo nắm chặt tay Thắng, bắt tay rồi như không muốn bỏ ra.

Cái công việc ở bàn giấy làm con người của Thắng cứ mòn đi, cứ rỉ đi. Những buổi sáng, không biết làm gì, chỉ còn cách ngồi đánh đố ruồi để xem ai phải trả tiền bữa ăn sáng. Đặt hai cái thước lên bàn, ruồi đậu vào thước của thằng nào trước thì thằng đó ăn sáng không phải trả tiền. Chơi trò này hồi hộp lắm. Hồi hộp còn hơn cái lần hạ cánh đầu tiên mà không có thầy ngồi đằng sau. Những thằng ngồi cùng bàn giấy với Thắng có đủ mọi nghề. Canh chừng ruồi không mệt bằng canh chừng thằng bạn. Cứ hễ quay mặt đi chỗ khác một tí, là nó đã thè lưỡi, liếm ngón tay rồi bôi nước miếng lên thước kẻ…

Một buổi sáng, Thắng đang ngồi canh ruồi…Ruồi đã bò gần đến thước, sắp sửa leo lên thì tự dưng bay vụt đi. Thắng ức lắm, ngửng đầu lên nhìn thì gặp “đôi mắt ngây thơ” của thằng Pi-lốt Thái Bình. Thằng này vẫn có tật ăn to, nói lớn. Nó nói rung cả cửa kính:

– Muốn nghe chuyện của thằng Lê Đình thì đi theo tao. Trả xong tiền ăn sáng, tiền cà-phê rồi tao mới kể…

Thắng thấy lòng mình thật náo nức. Những thằng bạn thân, khi xa nhau, ít khi nào viết thư cho nhau. Nếu viết cho nhau, chỉ cần viết một câu chửi lên cả một trang giấy cũng đủ tỏ nỗi nhớ nhung…Bởi vậy, Thắng theo thằng Thái Bình để nghe chuyện thằng “ông Táo”.

Sau khi ăn uống theo cái kiểu “tiền của sở” nó mới ề à kể. Thì ra Lê Đình bị thương nằm trong Quân Y viện Cần Thơ. Bây giờ vết thương gần thành sẹo rồi, nhưng độ nửa tháng trước thì tình trạng bi đát lắm. Không thằng nào dám cá ông Táo sống, mà chỉ đổ xô cá về phía ông Táo về trời.

Trận giặc Bình Xuyên, miền Hậu Giang đã ghi cho Lê Đình một cái sẹo. Hôm đó Lê Đình lái tàu bay với một ông Sĩ-quan Quan-sát viên, đi chỉ điểm cho pháo binh trong mặt trận Hậu Giang. Quân đội của mình và phản loạn Bình Xuyên chỉ cách nhau có một khu rừng. Hai bên ăn mặc giống nhau nên ông Sĩ-quan Quan-sát viên bảo Lê Đình xuống thấp để nhìn cho rõ.

Ngày đó thì Lê Đình đã lái “bà già” Mỹ. Tên “bà già” Mỹ là L19, dân tàu bay gọi là cái “tớp tớp”. Bay khoái hơn “bà già” Tây nhiều. Lê Đình nhào xuống nghe thấy tiếng súng dưới đất nổ tùng tùng như trống bongo. Vừa lượn một vòng dưới thấp, thì bên dưới bắn lên một tràng 12 ly 7. Lê Đình vội kéo lên cao. Nhưng một viên đạn đã bắn trúng xà ngang rồi chui vào đầu ông Táo.

Có một chuyện lạ là Lê Đình không biết mình bị trúng đạn, vẫn ngồi lái như thường. Me xừ phó nhòm thấy máu đầy mặt Lê Đình, vội vỗ vai nó mà la lớn:

– Ông Táo ơi, cậu bị đạn rồi…

Lê Đình nhìn xuống ngực, thấy máu ướt áo, thì vội sờ nắn ngực. Không thấy đau. Theo vết máu, sờ lên cằm thì thấy máu đóng cục ở cằm. Nắn cằm cũng không thấy đau. Sờ lần lên thái dương, gặp đúng chỗ vết thương, Lê Đình mới thấy nhói buốt, tê dại cả người và gục đầu xuống cần lái, ngất đi.

Ông Sĩ-quan phó nhòm, nắm lấy hai vai Lê Đình lắc mạnh và rên rỉ gọi:

– Ông Táo ơi, tỉnh đậy đi ông Táo..

Thằng Pi-lốt Thái Bình kể tới đây thì cười hề hề:

– Ông ấy ngồi trong tàu bay, thằng tài xế gục một đống trên ghế lái mà ông ấy lại không biết lái mới chết cha chứ…May làm sao, thằng ông Táo ú ớ, tỉnh dậy được một lúc, làm như thói quen, hạ cánh xuống phi trường Sóc Trăng. Xe cứu thương chở nó lên quân y viện Cần Thơ. Còn ông Sĩ-quan phó nhòm, có lẽ phải đưa đi Viện thần kinh trắc nghiệm lại…

Pi-lốt Thái Bình nhiều khi cũng có những ý nghĩ hài hước. Người ta khiêng Lê Đình ra sân, thổi kèn đánh trống rồi gắn cho Lê Đình chiếc anh dũng bội tinh. Ngày nghỉ phép về Sàigòn, Lê Đình tới cư xá tìm Thắng. Thắng nhìn vào cái anh dũng bội tinh của Lê Đình:

– Mấy lần rồi mà mày chưa ngỏm. Chắc là mày bất tử…

Nhưng vài tháng sau có tin Lê Đình chết ở Đà Lạt. Người mang tin này lại cho Thắng lại là Đặng, thằng bạn đang ngồi đây với Thắng. Lê Đình chết vì một phút trẻ con. Hôm đó Lê Đình chở một ông tướng lên Đà Lạt. Trời thật tốt và ít mây. Sau khi ông Tướng lên xe về tư dinh, Lê Đình cũng lên máy bay cất cánh. Thấy đoàn xe ông Tướng bò chậm chạp, lên dốc xuống đồi, Lê Đình sà xuống thấp bay đuổi theo, vượt qua rồi lại bay vòng trở lại, bay sà xuống thấp một lần nữa.

Ông Tướng ngồi trên xe, lấy làm lạ, tưởng mình bỏ quên món đồ gì trên phi cơ. Cặp đây rồi, ‘ba toong” đây rồi… Ông bảo tài xế ngừng lại rồi dơ tay vẫy đuổi cho Lê Đình bay đi. Nhưng Lê Đình tưởng ở dưới đất dơ tay vẫy, khoái chí vòng lại một lần nữa, thật thấp. Khi vượt qua, chàng ngoái cổ lại đằng sau cười, không ngờ lúc quay đầu lại thì thấy một hàng cây trước mặt…

Thắng uống hết ly cà-phê:

– Tội nghiệp cho ông Táo!…

Đặng gọi nhà hàng cho thêm hai ly cà phê nữa. Những người bạn cứ ra đi, ra đi dần dần, để rồi thấy mình thật cô độc như một con đường dài hun hút dưới ánh đèn đêm.

Thắng hỏi Đặng:

– Sao đêm qua mày trực mà hôm nay phải đi Nha Trang?…

– Tao muốn đi sớm để đổi phiên cho thằng Trịnh. Vợ nó mới đẻ… Cho nó về phục vụ gia đình cho tròn tình nghĩa với cái chính phủ quần thâm…

Thắng đưa Đặng về Phi-đoàn Trực-thăng rồi trở về đi làm…Cuộc đời ngày hôm nay lại giống như ngày hôm qua. Ngày mai rồi cũng lại giống như ngày hôm nay. Lê Đình ơi! Chỉ có mày là sung sướng, thoát được ra ngoài những chán nản của cuộc đời…

Nguồn: https://baovecovang2012.wordpress.com/2021/03/29/buon-vui-phi-truong-duong-hung-cuong/3/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s