Ba Tây… Thua Nhảy Dù – Nguyễn Văn Phúc

Nguyễn Văn Phúc

nhung-thien-than-mu-do

Tặng anh T “cháy”, Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù

Ba Mươi Tết, Tháng Giêng 1968 – Quận Ba, Sài Gòn

Thằng bé hí hửng phóng nhanh ra khỏi nhà Nội. Nó chạy vội đến nhà bạn bên trong xóm, có một chuyện nó muốn khoe với bạn. Chỉ cách đây vài phút, nó còn ngồi nghiêm chỉnh trên chiếc trường kỷ nhà Nội, lắng nghe lời dạy bảo của người:

– Con cố gắng học hành, mai sau thành người hữu dụng cho đất nước.

Không phải nó muốn nói cho bạn biết, Nội vừa giảng về Tứ Ân, nào là Ân đất nước, Nghĩa đồng bào …Chỉ vì Nội hứa, ngày mai sẽ lì xì cho mình, những hai bao lì xì.

Trước mặt tiền nhà bạn là một sòng bài. Xóm nghèo, dân lao động chỉ chờ ba ngày Tết để được đánh bài thả dàn, không sợ mấy ông cảnh sát làm khó dễ, vui thì tha, còn buồn, mấy ông bắt bỏ bót. Thằng bé tò mò đứng nhìn, ngồi chung với mấy người dân trong xóm là hai người lính trẻ bận đồ Dù, nó biết là lính Dù vì họ đội nón bê-rê đỏ. Thằng bé biết chắc vậy vì chú Út mình cũng là lính Nhảy Dù. Vả lại, bên kia đường, lại là doanh trại, hậu cứ của một tiểu đoàn Dù.

Tiếng của một người lính vang lên:

– Từ tám nút trở xuống, mầy gom tiền cho tao.

Giọng một người đàn ông trong sòng bài:

– Vậy là ổng được chín nút rồi.

– Chín nút mầy làm luôn.

– Gom luôn ba tây …Mẹ! Ba tây cũng phải thua Nhảy Dù.

Hai người lính đứng dậy, nhét tiền vào túi, rời khỏi sòng bài, đi thẳng ra đường Lê Văn Duyệt. Có nhiều tiếng nói nhỏ của những người đánh bạc:

– Tụi Nhảy Dù chơi giựt.

– Ỷ là lính Dù …chơi ăn giựt.

Thằng bé ngẩn ngơ đứng nhìn, nó nghĩ thầm Chú Út mình cũng là lính Dù mà. Rồi nó lại đi theo hai người lính, sau lưng nó là một lão ông trong xóm.

Vừa ra đến đường Lê Văn Duyệt, hai người lính bước vào một quán cà phê, thằng bé muốn về lại nhà, nhưng linh tính báo cho nó biết, có một điều lạ kỳ đang xảy đến. Thằng bé theo lão ông băng sang bên kia đường, lão ông đi ngay đến cổng chánh doanh trại Dù, ông nói với hai người lính gác cổng, ông cần gặp người chỉ huy trại, về việc hai người lính Dù đánh bài, giựt tiền của dân. Một người lính tuổi ngoài hai mươi bước ra, ông ta cho biết, ông là người sĩ quan trực trại ngày hôm nay.

Viên sĩ quan Dù theo lão ông bước vào quán cà phê, lão ông cho viên sĩ quan biết, chính là hai người lính này. Viên sĩ quan trả tiền cà phê cho người chủ quán. Giọng lạnh lùng, ông nói với hai người lính:

– Hai anh đi với tôi, dân chúng than phiền hai anh vừa “quậy” đâu trong xóm.

Lão ông, thằng bé và ba người lính Dù đi ngược vào trong xóm, đến ngay sòng bài. Viên sĩ quan ra lệnh cho hai người lính lấy tiền trong người ra, trả lại cho mấy người đánh bài.

– Bốp! Bốp!

Vừa đá thật mạnh vào đít hai người lính, viên sĩ quan, vẫn với giọng lạnh lùng, vừa la t

– Lần nầy tôi tha, lần sau dân mà còn thưa các anh về tội quậy phá, tôi sẽ đập hai anh, mỗi người ba mươi gậy.

Có tiếng đàn bà thì thầm:

– Trời ơi, ổng mới đá có hai đá mà hai ông lính này xiểng niểng muốn té, đập cho ba mươi gậy thì chỉ có nước đi nằm nhà thương.

Ba người lính Dù rời khỏi xóm, không biết rằng có một đứa bé, đang chậm bước theo sau.

Vừa đến trước quán cà phê, viên sĩ quan nhìn quanh, thấy chỉ có thằng bé con đứng gần đấy, ông móc bóp, lấy ra một tờ giấy bạc, đưa cho hai người lính. Bấy giờ, vẫn lớn tiếng, nhưng giọng nói lại đầy tình thân, ông bả

– Đ. M. Tao dạy hai thằng bây làm sao, còn nhớ không?

– Ăn cắp gà, ăn cắp vịt của dân, đừng để cho dân biết.

– Thôi, tụi bây vô uống cà phê đi. Nhớ! Không được làm mất mặt binh chủng.

– Cảm ơn Trung Uý.

– Cảm ơn Trung Uý.

Thằng bé đứng nhìn viên sĩ quan, ông mỉm cười với nó, nụ cười thân thiện, và ông bước về doanh trại.

Thằng bé đi về nhà, nó nói thầm Chú Út đâu có dạy mình ăn cắp gà, ăn cắp vịt của dân.

Mồng Một Tết, Mậu Thân, 1968

Từng tiếng pháo nổ đì đùng đánh thức thằng bé dậy. Sau khi làm vệ sinh, bận vội bộ đồ mới vào, nó chạy sang nhà Nội, nó vẫn còn nhớ Nội hứa sẽ cho nó hai bao tiền lì xì. Bên trong, Nội và Cha, với vẻ mặt nghiêm trọng, đang chăm chú lắng nghe tiếng nói của người xướng ngôn viên từ chiếc ra-đi-ô. Thằng bé biết được quân cộng sản vi phạm luật hưu chiến, đang tấn công vào nhiều tỉnh thành miền Nam. Nội nó lên tiếng:

– Không biết mấy ông sĩ quan trẻ, bạn cùng khoá của thằng Út đang đóng ở đâu? Tháng trước, thằng Út dẫn tụi nó về thăm ba, mấy đứa bận đồ Dù trông dữ dằn, mà sao tụi nó nói chuyện lễ độ, có học, có tư cách, đàng hoàng quá.

– Thưa ba, họ đang hành quân ngoài Huế. Tiểu đoàn thằng Út đóng ở Quảng Trị, còn hai tiểu đoàn của mấy người bạn nó nằm phía ngoài thành phố Huế. Con nghe nói Quảng Trị đang đánh nhau, nhưng Huế thì vô sự.

Xứ người, một ngày cận Xuân

Thằng bé giờ là một người đàn ông trung niên và cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc từ hơn ba mươi năm qua. Người đàn ông trung niên đang chuẩn bị cho buổi tối ba mươi Tết, ông chờ đón giao thừa, mừng năm mới. Mấy ngày nay, theo dõi báo chí, ông đọc được nhiều bài viết nói về việc Việt cộng tàn ác, ra tay giết hại các người dân Huế trong trận chiến Tết Mậu Thân tại Huế.
Ông nhớ lại ngày đầu Xuân ở Sài Gòn, nhớ Nội và Cha đã lo lắng cho chú Út và những người bạn chú đang hành quân ở ngoài Huế, năm Thân nọ. Ông cũng nhớ lại “ba tây còn thua Nhảy Dù”, ông lại nhớ đến viên sĩ quan Dù năm xưa, người đã dạy cho hai người lính “ăn cắp gà, ăn cắp vịt của dân, đừng để cho dân biết.”

Ngày cuối năm ấy, lúc còn bé con, ông ngạc nhiên vô cùng, khi viên sĩ quan Dù, lúc thì tỏ vẻ hung dữ, khi thì hiền hòa móc bóp đưa tiền cho hai người lính trẻ, trông giống như một người anh, cho tiền đứa em trai mình. Bao nhiêu năm ở xứ người, ông cố công tìm hiểu về cuộc chiến Việt Nam, về những người lính miền Nam, những người đã bị giới truyền thông tây phương đối xử một cách bất công, đầy thành kiến.

Hơn mười năm trước đây, những người lính nay đã già, mang gia đình sang định cư xứ người, ông có dịp gặp họ, làm bạn với họ, nhìn gia đình họ cố gắng hội nhập vào cuộc sống mới. Từng bước chậm nhưng vững chắc, họ vừa đi làm vừa lo dạy dỗ con cái ăn học, mong con sớm đỗ đạt, thành tài nơi xứ người. Ông nghe được những mẩu chuyện về đời lính của họ, nhìn cách họ sinh hoạt, tổ chức những lần họp mặt binh chủng, họp khoá, biết họ vẫn lo làm lụng, kiếm tiền, dành tiền gởi về cho mấy “thằng em” còn kẹt lại quê nhà, ông thấy được tình huynh đệ chi binh của họ, và ông nghiệm ra được cái sự việc “ăn cắp gà, cắp vịt của dân, đừng để cho dân biết”.

Người sĩ quan Dù trực trại năm xưa, chắc chắn ông đã từng lội rừng, từng ăn cơm gạo sấy, uống nước hố bom với những người lính trẻ của mình và biết bao lần, ông đã vuốt mặt cho những “thằng em”. Ông đã chia sẻ những nỗi khổ nhọc, những buồn vui trong đời lính với họ. Cái câu “ăn cắp gà, ăn cắp vịt của dân, đừng để cho dân biết”, chỉ là cách nói, ngôn từ của người sĩ quan tác chiến, luôn thông cảm, thương yêu, che chở, dạy dỗ các người lính của mình, và nếu cần, sẵn sàng ký “củ”, nhận tội thay cho những đứa em khi chúng làm điều sai quấy, vì ông biết mỗi một lần hành quân, ông có thể mất đi các người lính của ông trong bất cứ giây phút nào.

Và, hai người lính trẻ đã bị ông cho ăn “bốt-đờ-sô” năm ấy, những người đã nói “ba tây còn thua Nhảy Dù”, đã làm một việc sai lầm, rất đáng bị khiển trách. Có thể vì tuổi đời còn non trẻ, lãnh xong lương là xài cho nhanh cho gọn. Khi kẹt tiền uống cà phê, trong một giây phút nhất thời, vì trẻ người non dạ, đã làm một việc bông đùa, vô ý thức. Nghĩ cho cùng, tiền lính là tính liền, ăn quịt hay bắt được một hai con gà, một hai con vịt vô chủ đang nhốn nháo chạy loạn đâu có đủ đền bù cho bao nhiêu ngày tháng lội rừng, leo đèo, vượt núi với bao nguy nan luôn chờ chực.

Những người lính trẻ này, những người trước khi tình nguyện nhập ngũ để được khoác lên người bộ áo hoa dù, đã chuẩn bị tinh thần để chấp nhận một đời sống gian nan khổ cực, luôn phải đối diện với hiểm nguy, luôn kề cận với thần chết. Và trong đời sống quân ngũ, những người lính trẻ vừa chiến đấu, vừa lo bảo vệ dân, luôn chỉ cho dân đi đến nơi an toàn, xa lánh chiến họa. Trong những lần chạm địch, họ luôn xông về phía trước, cố đuổi giặc thù ra khỏi quê hương, hoàn thành sứ mạng bảo quốc an dân, mang thanh bình lại cho đất nước. Tận trong trái tim họ, những người lính trẻ đã không chiến đấu vì mấy đồng đô la xanh, đỏ và họ cũng không chiến đấu cho ông Diệm, ông Thiệu. Những người lính trẻ đi lính, chỉ vì: “Sống rồi đồng bào ơi! Sống rồi đồng bào ơi! Lính Cộng Hòa tới! Lính Cộng Hòa mình!”

Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Little Saigon

– Daddy! There is an old man with the Red Hat.

Đứa bé trai vừa nói vừa đưa tay chỉ vào một người đàn ông bận quân phục Nhảy Dù đang tiến đến tượng đài. Trên tay người đàn ông này là một bó hoa trắng, ông ta đến trước tượng đài, đặt bó hoa trắng dưới tượng hai người chiến sĩ Việt Mỹ, ông đứng nghiêm, tay phải để nhanh lên trán.

Người đàn ông trung niên ngồi trên băng ghế đá với đứa bé trai, ông đặt tay mình lên vai đứa bé.
Ông vừa định lên tiếng thì đứa bé nói:

– Daddy! He is saluting …

– Suỵt! Hãy để cho ông ta có một ít thì giờ riêng tư.

– Daddy! Is this old man a friend of Ong Ut? You had told me many stories about Ong Ut. You said Ong Ut always wore Red Hat, that all Red Hats are friends of Ong Ut …

– Daddy! How come Ong Ut is in heaven while his friend is here, and why is he crying?

Ba người lính Nhảy Dù trên đường Lê Văn Duyệt vào buổi chiều cuối năm xưa. Bây giờ, các Anh ở đâu?

Xưa nay đi chinh chiến có bao người trở về?

Sài Gòn Nhỏ, ngày 23-10-2008

Nguyễn Văn Phúc

Nguồn http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1284853552&first=780&last=839

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s