Hoa Diên vỹ ( Iris spp ) – Bùi Huyền Trân

on

                                                                                Bùi Huyền Trân

   Từ phương trời xa, bạn tôi ‘Nhỏ Gia Long’ Chả Quế gửi tặng 2 bức ảnh nói là hoa Diên vỹ.. vì ở Việt Nam họ gọi cả hai cùng tên là.. Diên vỹ, tuy hai cây hoa này : một là fleur-de-lys và một là Iris. Thật là lạ.. ? Tôi chợt nhớ đến hoa Mimosa cũng bị gọi như vậy .. Để làm Chả Quế vui (vì Công chúa Gia Long này hay buồn), Huyền Trân viết tặng Nhỏ.. hai bài ngắn riêng biệt  : Iris spp (Diên vỹ) trong đó có 3 loài nổi tiếng gồm Iris versicolor (hoa đa sắc), I. florentina (hoa trắng) và I. japonica (của Đông phương) sẽ được trình bày trong bài này, còn bài thứ nhì sẽ dành cho và Fleur de Lys (Lilium candidum hay L. album)

  • Vấn đề định danh :

Tên Diên vỹ là phiên âm Hán việt của Yuan Wei, tên Tàu của chi thực vật Iris (họ Iridaceae)Diên là diều hâu và Vỹ là đuôi . Trong Sách Tra cứu tên Cây cỏ Việt Nam của Võ văn Chi có ghi một cây Iris duy nhất là Iris japonica và gọi cây đuôi diều

   Chi Diên vỹ có trên 300 loài khác nhau, hoa đa sắc và có cả ngàn chủng trồng (đặc biệt là các chủng trồng lai tạo trong nhóm Dutch và Spanish Iris)

1- Diên vỹ ,  Iris versicolor (Diên vĩ hoa tím)

Các tên thường gọi : blue flag, harlequin blueflag, larger blue flag, northern blue flag

Tại Anh và Ái nhĩ Lan : purple iris

   (tiếng la tinh : vers= biến thành, chuyển thành ; versicolor = nhiều màu, thay đổi màu)

Iris versicolor (Diên vĩ hoa tím)

  • Hoa Diên vỹ và Văn hóa : Iris versicolor

   Nữ thần Iris, trong thần thoại Hy lạp là sứ giả của Thần Juno (Zeus), từ Thần đỉnh Olympus, mang thông điệp từ Trời xuống cho người phàm dưới dạng một Cầu vồng.

Iris là con gái của Thaumos, Thần đất, Iris được Nữ Thần Hera thương yêu vì Iris chỉ mang các tin vui đến cho Hera nên được biến thành cầu vồng..

 Iris theo tiếng Hy lạp, là ‘thiên nhãn=con mắt của Thiên đường’, dùng chung đề chỉ tâm nhãn và cầu vồng.. Vận tốc bay nhanh chóng của Iris ..được xem là thời gian chóng tàn của hoa và cầu vồng là hình ảnh đa sắc của Iris versicolor. Hoa Diên vĩ tháp tùng linh hồn về nơi Vĩnh cửu khi đi trên con đường biểu tượng bằng ‘cầu vồng’ ; do đó phong tục Tây phương khi đặt các bó Diên vĩ tím nơi phần mộ là muốn nói lên niềm hy vọng và sự bất diệt của linh hồn . Phong tục Hồi giáo (phương Đông) khi dùng Diên vĩ trắng trên mộ phần người quá vãng đã lan sang thế giới phương Tây..

    Hoa Diên vĩ cũng là biểu tượng, cho vương quyền từ thời Cổ Ai cập. Hoa được vẽ trên các cổ mộ từ 4000 năm trước, khai quật được trong khu vực ‘Thung lũng các vị Vua’ (Valley of the Kings). Diên vỹ được tạc trên lông mày các tượng Nhân sư (Sphynx) và các Vương trượng được mô phỏng theo hình dạng hoa để biểu tượng cho Vương quyền của các pharaoh Ai cập..

     (Fleur de Lys và biểu tượng của Vua Louis VII .. xin đọc bài .. Hoa Bạch Huệ)

   Với người Ai cập, Iris tượng trưng cho Thần Horus, vị Thần Faucon (Diều hâu) . Horus tượng trưng cho mặt trời buổi sáng và buổi chiều,,

   Tại Hoa Kỳ : Diên vĩ được Tiểu bang Tennessee chọn làm Hoa biểu tượng (1933), tuy không ghi rõ màu hoa, nhưng được mọi người đồng thuận là Iris tím.

Tỉnh bang (Province) Quebec của Canada đã thay hoa Fleur-de-Lys (Madonna Lily) bằng Iris tím làm.. Cây hoa ‘của’ Quebec..(1999)

    Với Vương quốc Bỉ.. thì Iris hoa vàng (Iris pseudacorus), hay Iris des marais = Iris faux-acore được vùng  Bruxelles-Capitale chọn làm biểu tượng..

Iris pseudacorus.  L’Iris est le symbole de la région de Bruxelles – Capitale.
 

  Tại Nhật , Diên vĩ biểu tượng cho chí khí anh hùng và quý phái..

  • Hội họa và Văn chương

Trong thế giới hội họa , nhiều họa sĩ nổi tiếng đã vẽ những bức tranh tuyệt đẹp về Iris và 2 danh họa được biết nhiều nhất là Van Gogh và Monet.

  • Họa sĩ Van Gogh đã vẽ một số bức tranh dùng chủ đề là Hoa Iris. Bức nổi danh và đắt giá nhất là “Irises” (năm 1987 đã được bán với giá 53.9 triệu đô la), hiện trưng bày tại Getty Museum. Bức tranh sơn dầu trên vải này  được Van Gogh vẽ năm 1889 khi nằm trong Dưỡng trí viện Saint Paul-de-Mausole ở Saint-Rémy-de Provence. Đây là bức tranh vẽ về Iris đầu tiên khi Van Gogh nhập viện.  
  • GS Hội họa Trịnh Thanh Thủy trong bài ‘Bí ẩn quanh các bức họa Hoa Diên vĩ lẫy lừng của Van Gogh “ trên chimviet.free  nhận định như sau :

“..Nó đánh mạnh vào thị giác của người xem bằng những gam màu sắc tuyệt vời. Trong khoảnh khắc của một cận ảnh bạn như đứng trước một vườn hoa Diên vĩ rực sắc xanh tím lạ kỳ, sống động, mạnh khỏe và bừng sáng..”  Bà viết tiếp : “.. nó hệt như tâm hồn cô đơn, quằn quại của Van Gogh khi đã tìm được khoảnh khắc an bình thanh thản..’

   Bức tranh “Vase of Irises “ (1890), Viện bảo tàng Metropolitan Museum of Art (New York) vẽ một bó hoa Iris trong bình. trên nền màu hồng nhạt. và GS Thủy đưa ra nhận xét .. “.. để ý kỹ bạn sẽ thấy bên góc phải một đóa hoa ba cánh đang tàn úa với màu sắc khác lạ..” theo Bà  thì “cánh hoa mang tâm trạng u uất, hoang mang và hỗn loạn của một người đang quyết định cho mình một chọn lựa dứt khoát, một chia ly..”

  Bức tranh tĩnh vật “ Vase with Irises Against a Yellow Background” (1890)cũng tại Getty Museum, là một bức tranh lạ, vẽ bó hoa tím, đặt trên nền vàng chanh sáng cùng sắc vàng tương phản của chiếc độc bình..

   Danh họa Monet có các  bức tranh dầu trên vải  “The Path through the Irises”, “The Yellow Irises” mang nhiều ảnh hưởng Nhật.. Riêng bức ‘The Yellow Irises 2″ vẽ những cánh hoa iris vàng trên nền xanh lam..

“The Yellow Irises 2”  – Monet

Nếu các họa sĩ làm Iris nổi danh thì các thi sĩ.. đâu chịu kém ?

Tác giả nổi tiếng D.H Lawrence với bài thơ “Scent of Irises” viết :

             “ A faint, sickening scent of irises

              Persists all morning. Here in a jar on the table

             A fine proud spike of purples irises

             Rising above the class-room litter, makes me

             Unable”

Cảm nhận được mùi thơm của Diên vĩ , chắc sẽ .. nhớ mãi hương người thương ? (Xin đọc L’amant de Lady Chatterley của DH Lawrence)  

   Một bài thơ về Hoa Iris của Henry Wadsworth Longfellow (1807-1882)

           “ O flower de luce, bloom on and let the river linger to kiss thy feet!

            O flower of song, bloom on and make for ever

            The world more fair and sweet.. “

được chuyển ngữ ..như sau :

               “ Ôi loài hoa của giấc mơ

                 Sông hôn em nụ ngẩn ngơ mặn mà

                 Ôi loài hoa của tình ca

                 Điểm tô thế giới, thật thà yêu thương..”

Nhà phê bình Pavithra K. Mehta trong “The Poetry of Irises” đã ‘nhìn’ thấy trong Diên vĩ : “Irises look like Rumi’s poetry sounds, like Mozart’s music liquefied and poured into iris-shaped molds’ (?) Iris là thơ ‘quyện với nhạc?

  Thi sĩ Rumi : “What in your life is calling you, When all the noise is silenced, The meeting adjourned.. The lists laid aside, And the wild iris blooms by itself in the dark forest..What still pulls on your soul ?”                   

  • Diên vỹ trong Ngôn ngữ các loài Hoa

Hoa Diên vĩ đa sắc, như Cầu vồng là biểu tượng của liên lạc cảm thông  giữa Trời và Đất, là một phương thuốc của Sáng tạo và Cảm hứng cho những người ‘bị trầm cảm, có cảm tưởng bị đè nén vì cuộc sống trần gian..áp lực nặng trên ‘đôi chân yếu đuối’.. Hoa thích hợp với người thiếu tự tin, không tin vào khả năng nội tâm của chính mình để sáng tạo và hạnh phúc.. Hoa cũng giúp những người đang căng thẳng vì lo lắng cho tương lai bất ổn..giúp giải tỏa các mặc cảm tiềm ẩn của bản thân

   Khi tặng hoa Diên vĩ là muốn cầu chúc người nhận sự dũng cảm, sự thông thái..

  • Cây Diên vỹ :
  • Vài đặc điểm thực vật :

         Tên khoa học : Iris versicolor, họ thực vật Iridaceae

Mô tả : Cây thuộc loại cỏ đa niên,mọc cao 10-80cm, có khuynh hướng mọc thành bụi từ những rễ bò lan. Rễ khô, hình trụ hay dẹp, bên ngoài màu xám, bên trong nâu-đỏ. Chồi hoa không phân nhánh, mọc thẳng đứng, thường có những lá gốc rộng chừng 1cm. Lá hình lưỡi kiếm, xếp theo gân giữa tạo dạng quạt. Hoa màu xanh lam rất phát triển có 3 lá đài và 3 cánh hoa có hai dạng.. Các lá đài dài  không có lông và có những vết khoang màu vàng-xanh lá cây nơi đáy chân lá. Hoa màu từ lam nhạt đến đậm và có thể tím..Quả là nang có góc tù, có 3 ngăn trong chứa nhiều hạt nhỏ

  Cây mọc tại các vùng đất ẩm (wetlands) kháp vùng Trung và Bắc Mỹ, Canada và được trồng phổ biến tại Âu châu

  • Diên vỹ (Iris versicolor).. cây thuốc :
  • Thành phần ;

  Theo Alaska’s Wilderness Medicines : Iris versicolor chứa iridin, isophthalic acid, một hợp chất loại long não (camphoraceous), gôm, tannin, dầu béo.. Rễ có chất bột, tannin, gôm, nhựa và alkaloids..

     Theo Southern Cross University (www.scu.edu.au) , Các hoạt chất chính gồm  Triterpenoids (iridin, iridals); oleoresins, salicylic acid, isophthalic acid, alkaloids, tannins, tinh dầu loại furfural..

    Tạp chí “Antibiotics (Basel) Jul 2020 (PMID #32664528) ghi nhận các phân chất UHPLC (Ultra High Performance Liquid Chromatography) tìm được trong Iris 180 hợp chất gồm các isoflavonoids, phenolics, acid béo, terpenoids, steroids, xanthones và quinones..

      Tinh dầu chứa các alpha-ironone và gamma-ironease, beta-damascenone, squalene ..(Thai Journal of Pharmaceutical Sciences)

  • Nghiên cứu khoa học:

      Khả năng trị liệu của Iris versicolor hầu như chưa được nghiên cứu , trên PubMed chỉ ghi một nghiên cứu công bố trên “Antibiotics” về hoạt tính diệt khuẩn của các dịch chiết bằng methanol từ lá và rễ Iris,dùng trong các kem đánh răng và nước súc miệng . Kết quả ghi nhận dịch chiết iris diệt được các vi khuẩn trong miệng và bám vào răng như Streptococcus gordonii, Veillonella parvula, Fusobacterium..Tác dụng diệt vi khuẩn này có thể do myristic acid trong cây..

  • Công dụng dân gian :

   Diên vĩ (Iris versicolor) là một trong những cây thuốc dân gian thông dụng nhất của thổ dân Bắc Mỹ, Các ‘thầy’ thuốc thổ dân dùng cây để giải độc cơ thể.- làm tăng tiểu tiện và sinh mật đồng thời gây xổ nhẹ..Rễ tươi có vị cay-chua, nhai sống gây nôn mửa, đau bụng và xổ tháo. Rễ phơi khô ít cay hơn. Dùng rễ khô nấu trà uống giúp nhuận trường, xổ độc, kích thích tạo mật..

    Các Thầy Dược thảo (herbalist) Anh-Mỹ từ Thế kỷ 16 như Grieve (Modern Herbal), Culpeper, Felter H W (King’s American Dispensatory) và British Herbal Dispensary..ghi nhận ;

  • Iris versicolor có tác động vào hệ lymphatic, làm tăng hoạt động của hệ này và cải thiện hoạt động miễn nhiễm, nên rất hữu dụng để thanh lọc máu huyết, giải trừ độc tố, khi dùng trị các bệnh về da. Nhờ tác dụng lợi tiểu nên giúp thải độc tố qua nước tiểu
  • Diên vĩ tím tác động vào gan, mật và bàng quang, làm tăng tiết mật, giúp giải độc cho gan, và giúp sự tiêu hóa, kích thích sự tiết các dịch tiêu hóa  trị no hơi, đầy bụng, táo bón, ăn không tiêu cùng các chứng gây ra do khó tiêu như nhức đầu, tức ngực..
  • Diên vĩ cũng giúp hạ đờm, giảm đau cổ họng, sưng mũi..

2- Diên vĩ  Iris florentina (Diên vĩ hoa trắng)

   Diên vĩ hoa trắng là loài diên vĩ biến đổi của Iris germanica, được trồng phổ biến tại Âu châu làm hoa cảnh, nhất là tại Ý (Florence) và tại Pháp.. Rễ có mùi thơm rất đặc biệt như mùi hoa pensée..

(Xin đọc tiếp ..  Phần hai của Bài)

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s