Skyraider và Phi Vụ – Phi Long 31


Phi Long 31

Ngày cánh chim bay mãi không về – dòng sông cũ

A-1 Skyraider được chế tạo bởi công ty Douglas Aircraft trong năm 1944 còn gọi AD-1 (Able Dog) vào năm 1946. Tổng sản suất là 3.180 chiếc và chiếc cuối cùng vào tháng 2-1957 gồm 17 kiểu khác nhau cho mỗi chức năng và binh chủng sữ dụng. Phi cơ một máy 18 cylinders (R-3350-24W, 2.500 mã lực và R-3350-26WD, 2.700 mã lực ) gồm một chong chóng 4 cánh. Phi cơ có chiều dài 39.37 ft, ngang 50 ft và cao 15.75 ft. Hai bên phòng lái và phía dưới có bọc thép dầy nửa inch. Tốc độ bình phi từ 170 đến 200 knots, tấn công 260knots và tối đa 410 knots. Phi cơ có 15 racks, vị trí móc bom. Móc ở giữa và hai bên cánh trong có thể mang bình xăng phụ.

Phi cơ được trang bị 4 đại bác 20 ly, mỗi cánh hai cây, 200 viên mỗi cây. Tổng số lượng vủ khí có thể mang từ 7.000 đến 8.000 cân gồm bom, hỏa tiển, đạn…(phi cơ quá cũ chỉ mang 3.000 cân bom từ năm 1971) Phi cơ nặng 12.095 cân, với xăng nhớt, bom đạn có thể cất cánh ở 25.000 cân tối đa. Tầm hoạt động tối đa là 1553 miles. Sáu chiếc phi cơ đầu tiên đến phi trường Biên Hòa giao cho Việt Nam vào tháng 9-1960. Với đặc tính bay chậm, mang nhiều bom, ở lâu trên không, khả dụng trong nhiều thời tiết, đánh bom ở cao độ thấp và chính xác được mệnh danh là con Trâu Điên từng gây khiếp đảm cho Việt Cộng trên khắp chiến trường. Ba phi đoàn khu trục cánh quạt còn lại cho đến tháng 4-1975 là PĐ-514, PĐ-518 và PĐ-530. Trong phạm vi bài nầy người viết chỉ ghi lại những phi vụ đặc biệt.

Phi vụ yễm trợ tiếp cận

Vào hè năm 1971 ở tỉnh Hậu Nghĩa, một đơn vị bạn giao tranh với VC, hai bên cách nhau bởi con đường đất đỏ. Hôm đó phi tuần của tôi gồm hai khu truc cánh quạt A-1 Skyraider trang bị 6 trái bom 500 cân cho mỗi chiếc. Chiếc số hai, phi tuần viên là một Th/úy, tôi không nhớ tên, mới ra hành quân không lâu cho nên tôi chỉ thị cho số hai đánh xa ra mục tiêu từ 150 m trở ra. Theo sự yêu cầu của quân bạn bom phải rớt gần con đường đất đỏ về hướng tây trong khi quân bạn ở hướng đông con đường vào khoảng 50 m. Chúng tôi mở tần số FM để nghe quân bạn và phi cơ quan sát nói chuyện trong suốt thời gian thả bom. Phi cơ quan sát bắn rocket khói trắng đánh dấu mục tiêu cùng lúc quân bạn thả khói xanh cho biết vị trí. Trái bom đầu cách con đường về hướng tây 50 m do sự ảnh hưởng của gió.

Phi tuan khu truc cơ yểm trợ tiếp cận .

Quân bạn phản ứng trên tần số FM ngay và khẩn thiết yêu cầu đánh sát vào con đường với lời lẽ chưa bao giờ nghe trong những lần thả bom yễm trợ cho quân bạn trước đây. “Thà chúng tôi chết dưới bom đạn của mình còn hơn chết trong tay VC tối nay”. Bây giờ là mười giờ sáng. Nhưng tôi vẫn dè dặt thi hành nhiệm vụ để giúp quân bạn, còn việc thả bom có phương hại đến quân bạn là điều không thể thực hiện. Nếu có sự đáng tiếc xảy ra người phi công phải ra toà án quân sự hoặc ở tù. Tôi kéo dần từng trái bom vào con đường sau mỗi lần thả và lắng nghe trong tần số với sự thỏa mãn của quân bạn.

Tôi nhớ trái bom sau cùng không cách xa con đường bao nhiêu. Số hai thả xa mục tiêu để vớt mấy con nhạn lanh chân tránh bom. Sau cùng chúng tôi xuống thấp và bắn bốn lần hết tất cả đaị bác 20 ly vào sát con đường có những viên lạc lên con đường tốc bụi. Chúng tôi may mắn không bị phòng không 12.7 ly chiếu cố. Đây là vùng có nhiều phòng không nhưng không làm sao thấy chúng bắn lên trong lúc bận rộn thả bom, hơn nữa chúng ngụy trang khéo léo. Trước khi rời mục tiêu quân bạn cám ơn nồng nhiệt vì chúng tôi can đảm thi hành nhệm vụ và thỏa mản yêu cầu khẩn thiết của họ. Người lính Không quân đem xương máu xung phong vào trận mạc, yễm trợ quân bạn, mang lại niềm tin và tiết kiệm xương máu quân bạn.

Phi vụ đêm

Tất cả phi vụ đêm trên chiếc Skyraider đều khó khăn và nguy hiễm. Chiếc số hai gặp nhiều khó khăn hơn trong phi vụ đêm vì phải theo sát số một nhất là khi phi tuần đi vào mây hay mưa.Từ ngày tốt nghiệp ở Mỹ về sang bay phi cơ quan sát hơn hai năm cho đến khi trở lại bay Skyraider tôi chưa có một lần được huấn luyện hay ôn lại phi cụ hoặc cách thức gở phi cơ ra khỏi vị thế bất thường bằng cách dùng phi kế. Không có “check out” đánh đêm nhưng vẫn trực bay đêm và thi hành phi vụ cho nên một số phi công gặp khó khăn và bị vertigo. Phải chăng đây là thông lệ của đơn vị và tôi tự cảnh giác với câu “hồn ai nấy giữ”. Trường hợp nầy có thể giải thích là phi cơ khả dụng quá ít cho nhu cầu hành quân hơn nữa huấn luyện không là ưu tiên…

Thông thường khi thả bom đêm phải có phi cơ vận tải thả trái sáng thường là ở cùng cao độ với phi cơ khu trục. Phi công thấy mục tiêu và thế đất như trời nhá nhem tối lúc mặt trời vừa lặn, tạm đủ để thả bom như ban ngày. Vertigo xẩy ra khi bay trong đêm, mây hay mưa, phi công không thấy đường chân trời hay thế đất để điều khiển phi cơ, chỉ phải tin và dùng phi cụ để bay hoặc đưa phi cơ trở về vị thế bình phi nếu ở trong vị thế bất thường. Nói chi đến nhào xuống kéo lên thả bom đêm mà không có phi cơ thả trái sáng cho dù có trái sáng leo lét của tiền đồn, chỉ là trò đùa với tử thần. Đó là trường hợp yểm trợ cho tiền đồn Tống Lê Chơn (TLC). Quân Đoàn yêu cầu SĐ-3 KQ mỗi đêm một phi vụ yểm trợ cho đồn TLC. Tôi và số hai đã một lần phải dùng phi kế để gỡ phi cơ.

Tại sao họ không cho phi vụ thả trong lúc trời nhá nhem tối mà phải đợi một giờ sau để thả đêm? Xin nhường phần việc nầy cho các cấp chi huy. (Tiền đồn TLC bị cô lập 17 tháng. VC mở nhiều cuộc tấn công nhưng không thành chi bằng giử vậy để nhận mấy kiện hàng tiếp tế do vận tải cơ thả từ trên không bị gió đưa lạc ra ngoài đồn.) Một Th/u phi công (xin mạn phép không nêu tên) bị vertigo vì không gỡ phi cơ ra khỏi vị thế bất thường và chọn mở dù tự động nhưng hỏa tiển của dù không khai hỏa. Cuối cùng người phi công gỡ tiếp và đưa phi cơ vào vị thế bình phi an toàn. Vertigo có thể xẩy ra cho bất cứ ai. Trong trường hợp khác, tôi trực đêm với Th/t Ninh de Gaulle.

Vào lúc hai giờ khuya chúng tôi ra cất cánh, nói là thời tiết trên mục tiêu tốt, nhưng trần mây ở Biên Hòa là 1.800 bộ. Tôi bay chiếc số hai và vào hợp đoàn sau khi cất cánh. Số một bắt đầu lấy cao độ và vô mây. Sau khi bay được một phút trong mây, số một báo bị vertigo. Tôi đột nhiên bảo số một vào phi cụ.Từ đó tôi không còn nghe số một trên tần số. Khi tôi trở về đáp và được biết số một đã đáp trước đó. Chiếc A-1 khá nặng với bom đạn nên mất cao độ nhanh, phi công chỉ có khoảng thời gian rất ngắn để đưa phi cơ về vị thế bình phi.

Sau này cố Th/t Nguyễn V Ninh hy sinh cho Tổ Quốc trong phi vụ yểm trợ quân bạn. Cố Đ/u Trần S Công hy sinh cho Tổ Quốc trong phi vụ bay đêm yểm trợ phi trường Phan Rang tháng Tư 1975. Xin nghiêng mình tưởng niệm đến hai vị anh hùng. Câu “ăn cơm dưới đất, làm việc trên trời” nói lên sự nguy hiểm của nhân viên phi hành. Thả bom đêm rất nguy hiểm, phi công cần được huấn luyện và mục tiêu phải có đầy đủ trái sáng.

Phi vụ BOB

(Bombing Operation Bearing) Vào năm 1973 một số ít phi công khu trục được huấn luyện BOB đa số là các phi tuần trưởng. Đài nầy đặt tại Biên Hòa dùng ra-đa và tín hiệu dẫn phi cơ đến mục tiêu thả bom. Người điều khiển đài liên lạc phi cơ và dẫn phi cơ bay vào đường bay cho mục tiêu được chọn của đài. Các tín hiệu đít-đa hay đa-đít phát ra để chỉ phi cơ lệch trái hay phải đối với đường bay. Tín hiệu vội vã chỉ phi cơ lệch càng lúc càng xa đường bay và ngược lại.

Tín hiệu đa-dài khi phi cơ trên đường bay và tín hiệu đa-dài phải có khoảng 10 giây cuối cùng mới được thả bom qua tiếng click thứ 3 (sau khi tiếng đa-dài tắt bắt đầu 3 giây còn lại qua 3 tiếng click) Phi tuần trực đêm của tôi được đánh thức bởi tiếng chuông điện thoại từ phòng HQCC/KĐ vào lúc hai ba giờ sáng. Tôi bật dậy trong đôi mắt cay xé với thân hình uể oải sau giấc ngủ say để đón nhận chi tiết cho phi vụ. Phi tuần viên là Tr/u Đào C Quận người chưa bay BOB.

Chúng tôi lấy nón bay, mặt áo lưới đầy đủ dụng cụ cấp cứu phi hành, đeo dây dù…rồi đi bộ ra bãi đậu phi cơ gần đó. Cho dù thế nào đi nữa giờ nầy chúng tôi cũng tỉnh rói và sẵn sàng trong sự dè dặt cho phi vụ.Trong đêm mọi cử động dường như chậm lại, tôi đi một vòng quanh phi cơ với đèn pin để kiểm soát cơ phận trongđiều kiện an toàn, rồi dùng hết sức mình phóng lên cánh phi cơ trước khi vào phòng lái. Người cơ trưởng giúp gài dây dù sau khi tôi đặt người lên ghế phòng lái, rồi vội vã leo xuống. Dấu hiệu quay máy của tôi được đáp ứng bởi ánh đèn cầm tay của anh.

Chong chóng nặng nề xoay rồi vụt nhanh khi máy nổ. Tôi thử vô tuyến với chiếc số hai và xin đài chỉ thị di chuyển. Người cơ trưởng chào tạm biệt và chờ đợi sự trở về an toàn của đôi cánh chim. Hai phi cơ được trang bị bom nổ, mỗi chiếc 6 trái 500 cân. Sau khi cất cánh lấy cao độ và bay một vòng ở Biên Hòa để kiểm soát và điều chỉnh phi kế. Cái cảm giác an bình dưới ánh đèn rực rỡ và lưu luyến của thành đô chẳng mấy chóc sẽ để lại phía sau và đôi cánh chim lạnh lẽo im lìm đi vô màn đêm u tịch. Tôi liên lạc qua tần số …và được biết đây là phi vụ BOB.

Trong thời gian đài dẫn phi tuần vào đường bay, tôi nói với số hai là tôi sẽ nhắc lúc để bom và thả. Phi tuần tiếp cận đường bay với cao độ 7.000 bộ. Số hai bay thật nhuyễn trong hợp đoàn sát cánh đã làm tôi an tâm. Đôi đầu cánh của hai phi cơ cách nhau và trên dưới không quá hai mét.Tôi dán mắt vào các phi kế dưới ánh đèn mờ sáng trong phòng lái nhỏ hẹp bao trùm bởi đêm đen, theo dõi tín hiệu, giử phi cơ trên đường bay và thỉnh thoảng nhìn sang kiểm soát sự hiện diện chiếc số hai. Tiếng động cơ và tín hiệu là âm thanh duy nhất cho đôi cánh chim đến chân trời vời vợi. Hôm nay thời tiết tốt phi tuần không gặp khó khăn. Sau khi vào đường bay tôi nhắc số hai để bom.

Có thể nói khi phi cơ lệch đường bay vài mét là có tín hiệu điều chỉnh. Một tiếng đa-dài khoảng 10 giây tiếp theo là Click 1, 2, 3, tôi hô to “thả”. Phi vụ hoàn tất khoảng 15 phút từ khi liên lạc đài BOB. Chúng tôi không biết tính chất mục tiêu chỉ nghe tiếng dội lại của bom trong lúc lấy hướng trở về Biên Hòa. Rất may chúng tôi không đi vào mây hay mưa, nếu phải tôi sẽ tự hủy bỏ phi vụ vì nó cực kỳ nguy hiểm cho phi tuần. Trong khi phi cơ vận tải có trưởng phi cơ, người có bằng phi cụ (thẻ trắng) và hoa tiêu phụ hơn nữa chỉ một phi cơ. Tiếc thay cho những người nằm xuống vì sự chiến đấu hăng say mà quên đi sự hiểm nguy cho mình!

Phi vụ không FAC

(Air Forward Controler) Vào đầu năm 1974 tôi được chỉ định bay phi vụ thả bom bằng cách đến vùng làm việc, tìm mục tiêu được chỉ định để oanh kích, không phi cơ quan sát hướng dẫn và không có quân bạn. Hai chiếc A-1 được trang bị bom nổ. Tr/u Nguyễn T. Bá bay chiếc số hai. Chiều ngày hôm trước chúng tôi đến phòng Quân Báo Không Đoàn để nhận hai bản đồ tỷ lệ 1/250.000 có đánh dấu mục tiêu. Chúng tôi không biết tính chất mục tiêu. Mục tiêu nằm về tây-bắc An Lộc khoảng 8 phút bay. Nghe mà thích, sao nó đơn giản và dễ dàng như vậy.

Chúng tôi cũng không nghe nói đến phòng không mặc dù trong thời điểm nầy CSBV đưa nhiều phòng không đủ loại kể cả hỏa tiễn tầm nhiệt (SA-7) vào Nam. Chúng tôi không có thuyết trình nào về phi vụ nầy thì làm sao có phi cơ trực thăng cứu cấp trong trường hợp lâm nạn. Người có thẳm quyền chỉ biết cắt phi vụ, mình là người thi hành phi vụ có trách nhiệm đưa bom đến mục tiêu. Tôi có cảm nghĩ “đem con bỏ chợ” vì không ai quan tâm đến phi vụ, vậy tôi cũng có thể bay trên cao ngang qua mục tiêu và cho bom rớt xuống. Người có trách nhiệm thường được giao phó những việc làm khó khăn và nguy hiểm. Chúng tôi chọn lối đánh truy kích và bất ngờ để phòng không địch không có thì giờ trở tay. Kết thúc cho phi vụ tiền phi là phải làm gì khi một chiếc bị bắn rớt.

Nếu chúng tôi được chọn thời gian đánh thì bình minh vẫn là lý tưởng, nhiều bất ngờ hơn và hy vọng bọn vẹm còn đang ngủ. Nhưng không, chúng tôi được gọi ra đi vào lúc 9 giờ sáng. Sau khi cất cánh phi tuần bay đến An Lộc, nhưng giảm cao độ thật nhanh khi sắp đến AL. Từ An Lộc đến mục tiêu phi tuần ở cao độ 700 bộ, hướng 320 độ, tốc độ 180 knots/giờ cho 8 phút bay. Tôi bắt đầu ghi giờ và theo dõi bản đồ từng phút bay. Phi cơ lướt nhanh trên ngọn cây qua thế đất cao. Tôi tự cảnh giác mình cẩn thận. Phút thứ sáu chúng tôi bắt đầu để vị trí bom, cơ chế và đội hình thả bom.

Phút thứ bảy chúng tôi lấy cao độ và tìm mục tiêu. Mục tiêu được nhận ra ở hướng 10 giờ (phía trước cánh trái) và được báo ngay cho số hai. Mục tiêu là rừng cây cách bờ sông 50 mét có bãi cỏ xanh. Trong lúc lấy cao độ tôi điều chỉnh vòng đánh. Sau một phút phi cơ có đủ cao độ tôi vào thả hết bom. Sau khi kéo phi cơ lên tôi quẹo gắt và tìm số hai thì thấy nhiều đóm khói đen trên bầu trời, đó là đạn phòng không 37 ly nổ cùng cao độ thả bom.

Mặc dầu đánh nhanh nhưng vẫn bị phòng không. Chúng tôi may mắn trở về căn cứ an toàn. Phải chăng cuộc chiến đã đến thời kỳ bắt chúng ta đáp ứng cho nhu cầu một cách lều lĩnh và đặt nhẹ vấn đề an phi? Cuộc chiến ngày càng leo thang và khốc liệt, phòng không địch ngày càng gia tăng trong lúc đồng minh Mỹ tháo chạy và giảm bớt quân viện. Không Quân Việt Nam ngày càng gặp nhiều khó khăn trong việc yễm trợ cho quân bạn. Phi công Việt nam cố chiếm chiến công đôi khi vượt ra ngoài lãnh vực an phi, và gan dạ hơn bao giờ hết.

Phi Long 31

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1275507082&first=840&last=899

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s