CUỘC ĐỜI PHIỀN TOÁI – Truyện Ưu Du

Truyện Ưu Du

Dòng sông xanh biếc, có khúc bên lỡ bên bồi, uốn mình lặng lờ trôi theo ven đường đất đỏ lởm chởm. Nắng dắt vàng trên mấy cù lao. Mặt trời thắm đỏ, lóng lánh to tròn. Như viên hồng ngọc khổng lồ, dần lên cao, lên cao, lên cao. Hương vị hoa mùa xuân trong ánh nắng ngọt ngào, tỏa ra thơm thơm.

Con đường nhỏ trong thôn được “toán lính viễn chinh, mũ mão cân đai, gươm giáo”, tà tà đi tới đi lui, đi dài dài hoài. Khiến bà con hai bên đường biết mặt.

Dãy phố nhỏ, trừ mươi nhà mở rộng cửa, buôn bán chụp giựt thời cơ. Còn đa số đóng cửa, cài then cẩn thận. Họ ra đồng làm việc. Hoặc sợ cảnh Làng, Thôn, bị lôi giật, dựng đứng dậy trong giấc ngủ muộn phiền, đinh tai nhức óc. Và, mấy khẩu súng thần sầu bi tráng, lạnh tanh, vô tình cứ nhòm ngó lôi thôi đến đời dân dã.
Đoàn xe lên đường đi Quảng Ngãi, phụ cận sông Trà Khúc, cống Bàu Cả, bến Tam Thương. Sau đó đi sâu vào Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, cầu Cộng Hoà, Nghĩa Phú, Minh Long. A Sao. A Lưới. Ba Tơ.

Xe chở hành khách chạy ngược chiều vừa qua mặt, chật như nêm trong băng ghế. Nhát thấy “mấy hoa hồng biết nói”, các anh hớn hở reo mừng, vẫy tay lia lịa, chào hỏi nhốn nháo. (Như bà con từ đời vua Tự Đức ha).

Các cô gái xuân thì e e ấp ấp, vẫy vẫy tay lại. Họ dấu mặt dưới vành nón lá, khúc khích cười. Trông thật dễ thương, ấm áp lòng anh lính chiến, “tình quân dân như cá với nước” biết bao!

Tất cả anh em đứng bên một nhịp cầu đã sập, đợi đò rước qua sông. Bao giờ cũng vậy, các anh khinh binh đi trước dò đường an toàn. Lúc đó, Phòng 5 sao y bản chính, lẽo đẽo theo sát đằng sau. Nhóm công tác của phòng 5, đợi Trung Đoàn 25 Công-binh, đến khai thông hương lộ bên đầu dốc, khá lâu.

Anh Trung nai nịt chỉnh tề, chiến sĩ ra trận có áo giáp, thì phần nào yên tâm. Phủ quyết bao lo sợ khi lâm chiến. Thị sát, vững tin trình báo về. Bộ Chỉ Huy kịp thời, hầu chận đứng con đường tiếp tế “từ làng ra bưng”.

Mấy “ông tướng con” lén lén lút lút, xầm xầm xì xì, to nhỏ, rù quến nhau, lũi đi tìm chút hương hoa phù dung cuộc đời, nơi “chị em ta”, cho đỡ ghiền.

Góc kia bốn anh trải poncho cạnh cây bần, ngồi giạng chân, với xị rượu và con cá mòi vừa nướng thơm phức. Thống khoái hơi men nếp cẩm xịn, mà “vô mỏ” thì đã điếu hết sẫy, đưa họ ngoắt cần câu, lên cơn say trống dạ. Họ đang “du ca mùa xuân” làm bợm nhậu, chì nhất phố núi he.

Trong lều bạt, Sĩ gây sòng đen đỏ, Năm anh châu đầu vào con bài, mê đến nỗi nhịn cơm nhịn canh. Lên xe GMC cũng xòe, ngồi trên giường cũng đánh. Chỉ có khi đi làm việc mới yên. Túi tiền xẹp lép, nhường chỗ cho mấy cỗ bài dày cộm đút trong túi. Đa số người lính lúc nào cũng vui nhộn. Có chút men bia, là thấy đời lên hương ngát.

– Mấy anh ơi! Mấy anh ra chiến trận, sao thích la cà, linh tinh, xĩn xạc, tháu cáy nhau kinh vậy? Chắc vợ con ở nhà, lo lắng thất điên bát đảo đó. Mấy anh ơi! Ba trợn quá! Quỷ thiệt chớ. Coi chừng! Bọn em đi méc Trưởng-phòng. Các anh bị kỷ luật gấp đó!

Snack Bar dưới sự điều khiển của Nhạn Trang, cô gái tô son trét phấn rất diêm dúa, dáng đi nhảy nhót, khi thì tước bộ xà hành, (là một quán cà phê lậu kín đáo trá hình). Chỉ có khách quen say sưa hoan lạc, trong bầu không khí sặc sụa rượu nồng, khói “bồ đà tàn dư” từ thời Pháp thuộc, cay xè khét lẹt.

Loại cây trồng ở vùng cao, hoa nhiều màu, lá so le có khía răng không đều, thân và quả chế ra codein, morphin, quyện lẫn mùi mồ hôi da thịt rịn ra nhơm nhớp. Bao phen bị cảnh sát ruồng bắt, cô ả trốn chui, trốn nhủi, vẫn không chừa cái mặt mo mụ tú bà.

Tấm bảng tên dính một đinh khuy lủng lẳng, xệ xuống cửa sổ, vỗ lách cách, mỗi khi gió lùa. Anh Phước cấm ngặt, cấm chỉ anh em không được bén mảng đến gần. Phước ghê rợn gớm ghiết, “kỳ thị” với cả tấm bảng kinh khủng. Trông thật chướng tai gai mắt.

Ai đã vào hang đó rồi, thì… khó tìm thấy lối ra. Bầu trời, sông dài, biển rộng, núi cao hồ thẳm, giờ chỉ thu hẹp gang tấc, trong vò rượu tăm sùi bọt, bên bàn đèn nâu. Dưới hai bàn chân phóng đãng, bước thấp bước cao, trôi theo con sóng xô giạt.

Thân hình nhấp nhô, nhẹ như bông gòn bay, đẩy đưa phiến lá tội tình. Lưng gù gù, đầu gật gưỡng, cúi cúi lắc lắc. Bước đi loạng choạng thểu não, hai chân bành giạng ra. Trông chẳng giống ai, chả giống con giáp nào! Tàn mớ đời!

Vì thế, người ta mới đặt cho cái tên chết người là: Thuốc phiện.

Kẻ ghiền rồi, không còn sinh khí hào hùng, sáng giá gót giày botte de saut đập mạnh vào nhau, kêu cái cộp. Thật kiêu! Thật hách! Thật oai hùng siêu đẳng! Sẽ không còn bàn tay anh tài, vững chắc đưa lên mũ, ngực ưỡn ra, mắt sáng quắt nhìn thẳng.

Sẽ tiêu tùng đời trai trẻ. Nếu vào… “cửa mả tam giác vàng tử vong” đó. Còn hơn khu tam giác vàng giáp giới Thái. Miến. Lào.

Được thượng cấp chỉ định làm trưởng ban nhạc, khi tuổi anh Cương đã xế chiều, ảnh gầy gò, trán hói, gương mặt nghiêm khắc. Trúc nghe nói: Lâu lâu “ảnh” có cảm hứng dồi dào, đã “sáng tác chiều tác”, hoà âm hòa iếc gì đó. Đối với Trúc, nghe ảnh đàn bùm búm bum, như đàn gải tai trâu. Cũng ra trò dị biệt, trong phòng văn nghệ sĩ miệt vườn nhà.

Ưu việt của ảnh chừng ấy, nhưng đối với đàn em, ảnh nổi tiếng hách xì xằng. Ảnh tỏ vẻ ta đây tài ba, hơn bất cứ loại kỳ nhông cắt kè nào. Vài hạ cấp nâng bi, đánh bóng cuộc đời ảnh quá đáng. “Bơm” ảnh căng hơi. “Thổi” ảnh phồng to, hơn quả khinh khí cầu.

Ảnh càng nở mũi, hiu hiu tự đắt, muốn “nổ”, muốn “vồ” người khác, một tí cho oai. Ảnh giữ một “củ súng” mousqueton cổ lỗ sĩ, như vệt nhăn cày sâu trên trán khổ chủ. Súng bắn bụp bụp từng phát một, vô duyên òm, giống súng bắn lon trong hội chợ.


Sau trận chiến, trong tận cùng tan hoang đổ nát của quê hương đỏ lửa, Cương đi thu nhặt chiến lợi phẩm. Nào là lựu đạn nội hóa, mìn muỗi, súng AK, mũ nồi tai bèo, dép râu. Vân vân… Thành tích đó của Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Thuỷ Quân Lục Chiến, Bộ Binh, sau khi “phe Ta úynh Vici” chạy có cờ, bỏ lại.

Họ tặng cho Cương. Cương sai lính mang những thứ đó về, kê khai làm thành tích riêng mình. “Hù” anh em văn nghệ miệt vườn, ảnh khôn mà không ngoan, chỉ muốn ra oai “vồ” kẻ khác khiếp vía.

Thái nghĩ mình không thua Cương, nhất là đờn ca hát xướng là “nghề của chàng mà”. Vốn không trọng tài năng Cương, anh thấy Cương “ngu ngu sao ấy”, Thái cay cú lật tẩy quân bài, làm ảnh mất mặt. Thế là có vấn đề.

Anh Phước đi lên bộ Tổng Chỉ Huy Hành Quân họp, trao quyền cho Cương chỉ huy Đoàn. Không hiểu vì lý do gì, Cương và Thái, đấu khẩu ác liệt, cãi lộn rần trời trong bàn cơm vừa dọn ra, chưa kịp ăn. Anh em không ai can gián nỗi.

Cương ỷ quyền, lớn lối mạt sát hạ cấp không tiếc lời. Ghét Cương từ lâu, càng tức giận, nên Thái móc “trái na sắt” đáng ghét dằn cái cộp trên bàn ăn. Tay anh lăm le chực mở chốt tự sát.
Cương cụt hứng, hết hăng tiết vịt, xanh mặt im re. Ảnh không nói tiếng nào, y như con tuấn mã phi nước đại, bỗng dưng bị chặt cụt mất bờm và đuôi. Trông thật dị hợm thảm thương.

Mấy cô lính “đơ dem cùi bắp” chạy trốn tán loạn, như giặc đuổi bên đít. Các cô sợ quá, la hét om sòm. Long đến bên Thái, ngọt ngào, năn nỉ anh bớt giận. Chuyện đâu còn có đó, anh sẽ được minh oan.
Sau đó, Trúc vừa khóc vừa ôm anh, dỗ dành. Thái càng khóc.

Mấy anh khác, mỗi người một câu phải trái, phân tích cho hai bên nguôi ngoa. Vị đến bên bạn gỡ tay Thái, lấy “trái na độc hại giết người”, đem dấu vào xó xĩnh nào. Chả biết.

Anh Phước về, thấy bàn cơm nguội lạnh, ruồi bu kiến đậu không nhúc nhích. Mặt mày ai nấy méo xẹo, ủ dột. Anh khéo léo điều tra, khiển trách nhẹ nhàng Huynh đệ chi binh như thủ túc. Anh giàn hòa hai người rất hợp lý. Anh Phước đúng là một vị chỉ huy mẫn tuệ và mẫn tiệp.

Anh Phước có tinh thần cộng đồng tha nhân, có lòng hào hiệp, nặng trách nhiệm, yêu thương thuộc cấp, như em út. Nhưng, ở chiến trận anh cương quyết, nghiệt ngã với anh em sai trái, là điều chí phải. Anh cần bảo vệ sinh mạng, tài sản, cho đồng đội từng giây, từng phút.

Trúc lấy nón sắt, gỡ lớp mũ lót bên trong ra, múc nước sông. Cô vén tóc qua một bên, uống ừng ực, tỉnh bơ.

– Coi chừng bị sốt rét đó Trúc. Để Hoài lấy nước đun sôi, ở trên xe cho uống.
– Khát quá, lỡ uống rồi. Ớ! Ai vật nỗi mình, mà bệnh. Hoài ha.

Cái lớp nón sắt bên ngoài nầy, được múc thêm lần nước nữa, để làm cái nồi, nấu thịt bò kho gừng, sả, ớt, cà ri nị ngon tuyệt. “Nồi mũ sắt” treo trên cây sào gỗ, lửa đỏ trên đầu nón sắt lật ngửa ngộ ghê.

Ven bờ, rau muống phồn thịnh, hào phóng mọc từng bè chạy suốt con sông, ăn đọt thả gốc xuống nước có tí bùn đất, ít lâu sau chúng sinh sản ra “cả Làng, cả Tổng”. Ăn vào thấy ngon ngọt mùi vị Quê Hương. Nó dễ ăn nhất, hái vào, rửa sạch ăn sống. Xào. Nấu canh. Trộn gỏi thịt heo thịt gà, thịt bò, tôm cua… Hoặc không cần pha trộn thịt thà, ăn nguyên chất, mà tươi ngon, đậm đà hương đồng vị nội.

Chợ Cộng Hòa họp thoáng chốc, khoảng vài ba giờ. Họ lo chụp giựt mua bán. Chị em Trúc lỡ đi chợ trễ, kể như không còn gì, ngoài mấy bó rau muống bầm dập. Thà có rau ăn, còn hơn ăn lương khô.

Ban đầu được phát gạo sấy và đồ hộp, Trúc khoái chí ăn liền một tuần. Sau đó, thấy đồ hộp Ration C, nàng sợ, vì ngán lên tới cần cổ! Anh chị em hùn tiền, giao anh Múi đi chợ mua rau cá tươi, nấu ăn.

Trúc phụ anh bếp, lấy hộp quẹt Ronson, bật lò dầu nấu nước sôi. Chờ nước sôi, nàng lấy kéo cắt mấy bọc gạo, cạnh mấy keo ruốc sả xào khô. Có ngày ăn khô nướng, nấu nồi canh chua cá đồng. Món canh duy nhất, ăn với cơm gạo sấy, mà ngon miệng. Đôi khi chỉ có rau muống luộc, nước luộc rau, thêm trái cà chua, chút muối, bột ngọt. Thế mà ăn ngon hết sẫy.

_ * _

Ưu D

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1165612650&first=1920&last=1979

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s