Bom bê, Tóc thề và Trái Ô Môi – Bùi Huyền Trân

Bùi Huyền Trân

Ô môi rụng cánh ngoài sân

Mấy mùa hoa nở mấy năm đợi chờ

Ô môi rụng cánh tơi bời

Chuông tắt lâu rồi, rồi còn đứng mong ai ?(Viễn Châu-Vọng cổ : Bông Ô môi)

Cây ô môi  (Cassia grandis)

  • Ô môi và tuổi thơ

   Cô bé Bom bê, học trường Tiểu học “Đồ Chiểu’ nhớ lại những ngày mặc quần.. phồng tập thể dục tại Ngôi trường nhỏ tuy trên đường Nguyễn đình Chiểu Tân Định nhưng hai cổng vào lại trên đường Hai bà Trưng  (qua một ngõ hẻm lớn) và Huỳnh Tịnh Của, kể lại  (riêng cho Bùi Huyền Trân) về.. Ô môi :

“..trên con đường đi học về, Bé thường ngắm hoa ô môi ở trong sân ngôi biệt thự đối diện với Cô Nhi viện An Lạc. Hoa ô môi có màu hồng đẹp lắm! Sau khi hoa tàn thì có trái ô môi màu đen treo lủng lẳng đầy cành..Phía sau trường Đồ Chiểu và ngay bên hông sân trường có bán trái ô môi, chặt thành khúc khoảng một gang tay, người bán chặt hai bên mặt trái ô môi, chừa hai bên hông để giữ những miếng ruột của trái ô môi lại.. Khi mua khúc ô môi, muốn lấy khoanh ruột ô môi ra ăn Bé phải lấy tay bóp chặt vào hai phần vỏ bên hông làm những khoanh ruột lệch xéo đi cho dễ lấy bỏ vào miệng..”

“.. con nít mà cái gì cũng gặm cũng ăn được. Ruột trái ô môi có chút vị ngọt, nhai rồi nhả xác, mùi vị như thuốc bắc, đâu có ngon lành gì..vậy mà lúc bé, thời Tiểu học..Bom bê cũng từng nếm qua”..

   Bé Bom bê sau thời Tiểu học trở thành Nhỏ Gia Long rồi Nhỏ GL trở thành cô giáo.. Cô giáo may mắn được trở lại trường xưa. Nhưng rồi dòng đời đưa đẩy, cô giáo trở thành dân tỵ nạn và hiện cô bé Bom Bê ngày xưa ấy đang sống bên trời Âu..              Bùi Huyền Trân  gửi bài này tặng Bé Cưng..

Trái ô môi 

  • Ô môi .. vài nét văn hóa ..

  “Nếu làng quê miền Bắc với hình ảnh cây đa-giếng nước-mái đình đã trở thành biểu tượng thì..cây ô môi và bến sông mênh mông cũng trở thành một phần của miền Tây, nhắc nhở những người con tha phương không quên nổi ký ức của mình.”

  Một điểm khá thú vị là Cây Ô môi được xem là cây hoa “anh đào’ miền Tây vì cây trổ những chùm hoa màu hồng tím chen kín các cành cây.. đẹp tựa anh đào Nhật đã được gây trồng tại Cố đô Huế : trên đường Phan Chu Trinh dọc bờ sông An cựu và tại Cồn Dã Viên và rải rác trong các công viên Huế..Ô môi miền Nam chắc chắn sẽ không gây hại tại Huế như hoa Sữa Hà Nội gây thảm họa cho người.. Đà Nẵng năm nào !

Hoa Ô môi ..mang một vẻ đẹp bình dị mà sâu sắc.. là loài hoa dân dã, hoa Ô môi dịu dàng, e ấp; đằm thắm như thôn nữ, nên ai ngắm nhìn cũng say mê..(Phan Bá Lương)

Theo ‘ngôn ngữ’ của Hoa thì :“Hoa ô môi được mệnh danh là Hoa tình yêu của người con gái thủy chung son sắt. Những chùm hoa ô môi hống thắm được ví như nét đẹp tinh khôi, nhẹ nhàng của người con gái. Họ có một tâm hồn vô cùng thuần khiết và khi yêu thì yêu hết mình, luôn lo lắng và muốn dành những điều tốt đẹp nhất cho người mình yêu “ (hoatuoi9x.com).

  Miền Tây (thường dùng để gọi vùng đồng bằng sông Cửu Long) có những trái cây bình dị  đi vào văn hóa dân gian, tạo chủ đề cho các bài hát, câu hò, cải lương như bình bát, trâm bầu, cà na..và đặc biệt là.. ô môi.

Tên gọi Ô môi cũng thật lý thú:

    Dân gian giải thích : Ô là đen và môi.. là môi nơi miệng : Khi ăn quả ô môi, môi người từ hồng đỏ chuyển sang đen thẫm .. nên gọi là Ô môi,  vì “làm đen cái môi” ? Người khác (?) lại cho rằng : trái ô môi cả tấc, cong  bên trong chứa nhiều ô, mỗi ô là những miếng ‘môi cơm’.. vậy phải gọi là.. ô môi ? (ô chứa cơm)

   Có  khá nhiều bài thơ, bài văn và những bài hát về Ô môi nhưng đặc sắc nhất vẫn là những bài Vọng cổ, Tân cổ ‘giao duyên’

 Bài tân nhạc “Bông Ô Môi “của Nhạc sĩ Sơn Hạ có những lời khá thấm thía , tha thiết.

  “Bông ô môi rơi đầy trước ngõ / Bao kỷ niệm về tiềm thức trong tim

   Mới Hôm nào ta dìu chung lối hẹn /Bông ô môi tình ta khắc đậm tên nhau..”

Nhưng.. Hoa Ô môi tuy làm chứng lời hẹn nhưng cũng nhìn cảnh.. ly biệt

   “Bông ô môi rơi đầy trước ngõ / Theo gió chiều trôi cuốn tình ta

    Bông ô môi còn đây bao nỗi nhớ / Với cơn mưa chiều se buốt lạnh hồn tôi”Nhiều Nhà Thơ cũng có nguồn cảm hứng khi ngắm Hoa Ô môi :

  • Nhà thơ Phú Sĩ (Chuyện tình Hoa Ô Môi ) :

Nụ hôn đầu đời /Ai bảo nó chẳng say

Thắm mùi Ô Môi những ngày hoa khoe sắc..”        và:  “Mỗi mùa Ô môi .. có một người thương nhớ ?”

  • Nhà thơ Nguyễn văn Kỷ  (Bông Ô Môi)

“Ô môi hồng một góc trờiLong lanh đôi mắt ai ngồi bên song “
  Song cửa trời Âu, và balcon căn apartment chỉ thấy hoa tilia vàng ? chợt nhớ Mộng dưới hoa ..

                                               

  • Vài điều về Ô môi
  • Nguồn gốc

Ô môi có nguồn gốc tại Trung, Nam Mỹ Châu từ Mexico xuống Brazil, có mặt cả trong vùng Caribbean, tại các hải đảo như Cuba, Hispaniola và Puerto Rico. Cây có lẽ phát xuất từ lưu vực sông, trong các khu rừng có thổ nhưỡng khô, vùng Amazon , tại ven sông và các vùng thường bị lụt..Cây sau đó được du nhập vào nhiều quốc gia nhiệt đới Á châu (bao gồm Đông Dương), Indonesia và Mã Lai..

  • Đặc điểm thực vật

Tên khoa học : Cassia grandis, họ thực vật Fabiaceae

Tên địa phương : Anh-Mỹ : Pink shower ; Pháp : Casse, casse espagnole

Thái : kanpaphruek Lào : brai xiem, may khoum ; Khmer : Sac phle

 Cây theo Viện Dược liệu VN còn được gọi là Canh ki na Việt Nam; Cốt khí, Bò cạp đỏ..Mô tả cây : Xin dùng tài liệu chính thức của các Nhà Khoa học VN (Viện Dược liệu CHXHCNVN) trong Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam”; Tập II, trang 495.
“ Cây gỗ to, cao 10-12m. Cành non có lông màu gỉ sắt, cành già nhẵn màu đen. Lá kép lông chim chẵn mọc so le, gồm 11-13 đôi lá chét mọc đối.
   Cụm hoa mọc ở kẽ lá đã rụng, thành một chùm dài, hoa màu hồng tươi.
   Quả hình trụ, cong như lưỡi liềm, dài 40-60cm. đường kính 3-4cm; vỏ ngoài màu nâu đen, có ngấn ngang chằng chịt, bên trong có 50-60 ô, mỗi ô chứa một hạt dẹt, quanh hạt có một lớp cơm màu nâu đỏ hay nâu đen, mềm, vị ngọt, mùi hắc, ăn được..”
Xin ghi thêm các nhận xét dân gian :

  • Hoa ô môi được mệnh danh là hoa đào của Việt Nam :

“Khi gió bấc về lành lạnh cũng là lúc cây ô môi rụng hết lá và bắt đầu trổ bông. Từng hàng cây sẽ trút hết lá và bắt đẩu đơm thành những chùm hoa hồng phấn tạo thành cả vùng trời đẹp ngất ngây.” (Phan Thùy Linh).

Mỗi chùm hoa dài 10-25 cm, mang 20 đến 40 hoa. Hoa to chừng 3cm, có 5 lá đài (sepal lớn màu hồng-lavender nhạt và 5 cánh hoa (petal) hơi tròn, màu hồng đào. Hoa khi mới nở màu đỏ, nhạt dần sang màu hồng và sau đó chuyển sang cam.. Hoa có 3 nhị hoa (stamen) lớn, bao bọc quanh bên hông bằng các nhụy hoa (pistils) cong..

  • Trái được thu hoạch bằng cách dùng câu liêm (loại sào tre dài khoảng 5m trên có gắn lưỡi hái)
  • Vị trái ô môi ngọt, chát chát, khăm khẳm như mùi nước mắm (?)
  • Mùi của trái được cảm nhận khác nhau: từ thơm tới hôi rất khó xác nhận : mùi có thể bị cho khó ngửi như mùi hôi của chân (stinky toes), thơm thoảng xô cô la (?).
  • Trong ô môi có gì ?

    Tài liệu Việt Nam ghi Ô môi có thành phần hóa học đa dạng và phong phú :

Cơm quả có đường glucose, fructose, tanin, saponin, chất nhày, cancium oxalate, anthraglucoside, tinh dầu, chất nhựa, sáp..

Hạt : chất béo, còn có flavonoids, polysaccharide..

: anthraglucoside và flavonoid

Vỏ cây : tanin   Nhiều hợp chất loại Anthraquinones đã được phân lập từ trái ô môi gốm catechin, myristicin cùng các hợp chất phức tạp như kokusaginin, fabioline..

 Lá cây ô môi 

                                                   Trái ô môi xanh

                                                    Trái ô môi khi chín

Hạt ô môi
   Các nhà nghiên cứu Trung Mỹ ghi :

  • Trong trái ô môi có các triterpen và steroid, tinh dầu căn bản, đường ‘khử’ (reducing sugars), amino-acid, amines, saponins, polysaccharides và glycosides.
  • Các khoáng chất :  potassium, magnesium, cobalt, nickel..

     (Trong sách của Viện Dược liệu VN có ghi ‘công thức hóa học’ của các hợp chất.. ) 

  • Công dụng :

Ô môi làm.. thuốc ?Ô Môi được dùng phổ biến làm thuốc dân gian tại các vùng Nam Mỹ , và khi du nhập vào Đông Nam Á (Việt, Cambodia) cũng dùng làm thuốc Nam. Tuy nhiên , chỉ nên xem ô môi như ..thực phẩm ăn ‘thêm’ (thức ăn bổ túc có lợi ‘chung’ cho sức khỏe).

  • Thuốc dân gian Nam Mỹ;

– Nước sắc từ  dùng làm thuốc sổ và trị đau lưng, trị chảy máu cam, bệnh gan, bệnh đường tiểu..

– Nước ép  lá tươi dùng thoa ngoài trị hắc lào (ringworm), herpes, giòi ăn..

– Lá tươi giã nát, trộn mỡ heo thắng, thành thuốc mỡ thoa trị các bệnh ghẻ, lở chóc ngoài da.

–  Nước sắc từ rễ dùng rửa trị lở loét, vết thương lâu lành

– Ô môi, được ‘tin ‘theo cha truyền con nối’ là.. trị thiếu máu (nhưng phân chất lại không thấy có chứa Sắt ?)

  • Thuốc dân tộc Việt

  Vì Ô môi là cây du nhập từ Trung Mỹ, người Tàu theo Thuốc Cổ truyền không có vị thuốc này, nên các cách dùng ô môi trị bệnh hoàn toàn là thuốc Nam.

      Theo Viện Dược liệu VN :

– Quả ô môi được dùng sống chữa táo bón, liều 4-6g, có tác dụng nhuận tràng và liều cao hơn.. gây tẩy sổ- Cơm trái ô môi ngâm rượu làm thuốc bổ, kích thích tiêu hóa, chữa đau lưng nhức mỏi, hiệu quả tốt đối với người cao tuổi và phụ nữ mới sanh.- Lá ô môi tươi, rửa sạch, giã nát..chà xát nơi bị hắc lào, lở ngứa.

    Sách Cây có vị thuốc ở Việt Nam của GS Phạm Hoàng Hộ ghi :“Cơ quan khí sinh chứa emodin, centaureidin, catechin, myristicin, b-sitosterol..Lá, nạc quanh hột (có mùi nước mắm), hượt hay xổ” (trang 204).

  • Thuốc dân gian Á châu :

– Ấn và Indonesia dùng nước sắc thân trị bệnh ngoài da, rễ trị nóng sốt

– Philippines dùng lá đắp trị nấm lác

– Cambodia, vỏ thân được giả nát, đắp trị rắn và bò cạp cắn.

  •  Ô môi thuốc chính thức tại Cuba :

  Tại Cuba, Ô môi hay can~andonga là một cây thuốc chính thức ghi trong Formulario Nacional de Fito y Apifármacos (FNFA 2010) của Bộ Y Tế Cuba. Bộ Y tế Cuba cũng ghi công thức pha chế một loại sirô thuốc ô rô, nhưng bị dân chê là không uống nổi (tuy dựa theo công thức dân gian).

  • Tác dụng trị nấm gây bệnh : Dịch chiết bằng methanol từ lá và vỏ có hoạt tính (in vitro) trị các nấm Epidermophyton floccosum, Microsporum gypseum và Trichophyton rubrum//
  • Giúp hạ đường trong máu : Thử nghiệm dùng nước chiết chồi cây (stem) bằng ethanol ghi nhận các kết quả tốt trên các thử nghiệm dung nạp glucose (thử trên chuột); thử nghiệm trên chuột bị gây bệnh tiểu đường bằng alloxan cho kết quả giúp hạ đường rõ rệt.
  • Chống sưng và giúp giảm đau. Nước chiết từ lá bằng methanol cho các kết quả tốt khi thử trên chuột bằng các thử nghiệm căn bản như để chuột trên dĩa nóng,  đo độ vặn mình của chuột khi chích cho chuột acid acetic..

             (Theo Revista Cubana de Plantas Medicinales 2014; 19 (1): 21-28 )Ô môi trong  nông-công nghiệp (theo Agroforestry)

Gỗ thân Gỗ ô môi có thể dùng trong xây dựng : cột, kèo nhà, vật dụng mộc nội thất..Gỗ màu nâu-vàng, khá cứng và nặng, thớ thô, nhưng không bền..

Chất đốt : gỗ làm than và củi đốt rất đượm lửa.Thức ăn độn cho gia súc.Trâu bò ăn được quả khô.
Nhựa (Gum) và resin : Hạt cung cấp chất gôm có thể dùng làm chất ‘kết dính’ (binder ) làm thuốc viên nén (tablet) trong kỹ nghệ dược phẩm. Hạt chứa khoảng 50% một chất gôm (nội bào=endosperm) [ô môi thu hoạch tại Ấn chứa khoảng 34% gôm] có thể trở thành một nguồn nguyên liệu về các loại gôm lấy từ hạt thực vật. Galactomannan này ( sau khi tinh khiết hóa có tỷ lệ mannose/galactose là 3:15, phân tử lượng 80,200 Da, có độ nhớt (viscosity) 848mL/g) thích hợp cho các công nghiệp thực phẩm, thuốc và mỹ phẩm và phổ biến hơn là công nghiệp giấy, vải sợi.

  Ô môi được dùng làm cây trang trí nhờ hoa đẹp ven đường  như tại An giang (Vĩnh Trạch), Cần Thơ..; Có thể  trồng như hàng rào thiên nhiên ; Cây được trồng giúp tái tạo các vùng bị lụt vì mọc khá nhanh, tạo rừng

  • Ô môi làm món ăn
  • Vùng Trung-Nam Mỹ :

Ô môi làm nước giải khát : Tại Belize (Trung Mỹ) Ô môi hay Carao được chế biến thành món uống rất thông dụng . Cơm trái ô môi (pulp) và hạt được nấu trong 20 phút, tạo một dạng nước sắc, màu nâu sệt như kem, gọi là ‘sữa’, sau đó làm đông lạnh và uống giải khát. Carao milk (leche con carao)  có mùi giống pho-mát và vị.. thuốc cây cỏ rất rõ.

  • Miền quê  Nam bộ :

– Chè hạt Ô môi :

  Theo Phan Thùy Linh (Hương sắc Miền Tây) :“Hạt ô môi màu hồng nhạt, cỡ đầu ngón tay, thường đính kèm bên trong múi ô môi. Sau khi ngâm nước cho vỏ mềm rồi lột sạch thì cứ cho vào nấu cùng dừa.. Món chè này rất thơm và có độ bùi béo nhai ‘đã miệng”.
Xin ghi một ‘recipe’ nấu chè .. hạt ô môi (của Ông Hai Miệt Vườn (Dân Việt).

“Khi ăn ô môi, hạt lấy ra rửa sạch, để ráo nước, cho khô..lúc nấu chè, ngâm lại hạt trong nước nóng. Để cả đêm cho hạt mềm. Dùng mũi dao nhọn tách bỏ vỏ hột và cả nhụy bên trong. Cơm hột có màu trắng đục rửa qua nước lã cho sạch.. Để ráo..Đậu xanh nguyên hạt cho vào cối, xay bể đôi, rồi ngâm hơi lâu với nước lạnh cho tróc vỏ..Bắc nồi lên bếp, bỏ ít lá dứa vào nấu cho ra nước vừa lấy màu xanh, vừa tạo mùi thơm. Sau đó vớt lá dứa ra, cho đậu xanh vào nấu đến nhừ, trút cơm ô môi vào.. dùng vá đảo đều.. Cuối cùng thêm mấy thẻ đường thốt nốt, nước cốt dừa xiêm vừa đủ .. độ ngọt béo. Thế là.. xong ?

Chè hột ô môi đậu xanh

                                                               Bùi Huyền Trân (10/2021

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s