Trần Minh Quân

Mỗi năm khi Lễ Tạ Ơn về,Trần Minh Quân nhớ những ngày đầu tiên đến Đất Mỹ.. tháng 10 năm 1988 từ Trại Tỵ Nạn PRPC, Morong Bataan (Philippines)..Ngày Lễ Tạ Ơn Nhà Thờ bảo trợ đem đến tận nhà hai con gà Tây thật to (chưa bao giờ thấy) cùng cả thùng rau, khoai.. đi kèm..và còn đón cả gia đình đến thiết đãi một bữa tiệc thịnh soạn tại Hội Trường Nhà Thờ chung với các giáo dân Mỹ xa lạ..
Ân tình ngày đầu còn mãi dù hơn 30 năm đã trôi qua..
Năm 1609 các tay thực dân Âu châu, định cư tại Jamestown (Virginia) đã biết ăn thịt gà tây trong thời gian đói kém, các khai quật khảo cổ đã tìm thấy xương gà tây tại các địa điểm định cư..
Năm 1620, người Pilgrims từ Tàu Mayflower đặt chân lên Vùng Đất mới : Plymouth, Massachusetts.. Họ đã nuôi Gà tây tại một nông trại ở Plymouth và đã ăn gà tây đúng vào Ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên trên Vùng Đất hứa (1621)..
Ngày nay, tại Hoa Kỳ, thịt Gà tây được xem là món thịt ăn ‘chính thức, không thể thiếu’ để mừng Lễ Thanksgiving. Từ cuối thế kỷ 19, ngày Thanksgiving có thêm cái tên Turkey Day..
Năm 1784, khi Quốc hội Hoa Kỳ biểu quyết chọn Bald Eagle (Ưng đầu sói) làm biểu tượng Quốc Gia, Benjamin Franklin đã viết thư phản đối, đòi chọn Gà Tây vì “Gà Tây đáng tôn trọng hơn và là loài gia cầm gốc ngay tại Bắc Mỹ”
Văn hóa Mỹ chấp nhận danh từ Turkey (thay vì tên một Quốc gia =Thổ Nhĩ Kỳ) đưa vào ngôn ngữ .. Khi bàn chuyện nghiêm chỉnh : talked turkey ; khi hát sẽ hát “Turkey in the Straw và khi nhảy đầm có điệu Turkey strot..
Văn hóa Pháp.. kỳ lạ hơn : khen thịt gà tây nhưng tên gọi gà tây lại là để chê bai ? Các chữ ‘dinde’ và ‘dindon’ dùng để chỉ người ‘khuyết tật (déformés), hình dạng xấu= laideur! hay tính cách không tốt như lừa đảo=duperie, ngu đần = bêtise và thô lỗ..Dinde là một phụ nữ ‘ngốc=sotte’ và pretentieuse.. “plumer une dinde (vặt lông gà tây lại có nghĩa là.. tống tiền ! “Dindon” là tay đàn ông ngu=stupide nhưng háo danh=vaniteux !
Dindonner quelqu’un là.. xỏ mũi dắt thằng ngu đi..
- Vài hàng lịch sử
Gà Tây là tên chung để gọi một số loài chim thuộc nhóm Meleagris gallopavo.
(gallo : do gallus= gà trống và pavo= công ; gallopavo = gà giống như công)
Nguồn gốc từ Bắc Mỹ châu, gà tây được nuôi thành gia cầm và trở thành loài chim cung cấp thịt trên khắp thế giới. Tên gọi của Gà tây tại Âu châu, và cả tên khoa học bằng tiếng latin, đã cho thấy nhiều nhầm lẫn, thiếu chính xác về nguồn gốc và đặc tính của loài chim này khi chúng được đưa từ Tân Thế giới về Âu châu.
- Gà tây bị nhầm với Guinea fowl (La mã), và Công (peacock) : Nhà phân loại sinh vật Linnaeus đã dùng tên meleagris, là tên của guinea-fowl.
- Người Âu châu dùng tên Turkey vì cho rằng chúng là loài chim gốc từ phương Đông. Người Anh có lẽ nhận chú gà đầu tiên từ một Nhà buôn gà vịt tại Levant hay Thổ Nhĩ Kỳ nên gọi là turkey cock.
- Pháp gọi là Coq d’Inde = Gà trống Ấn độ..và chuyển thành Dinde (sau đó gà trống mới có tên Dindon và gà con thành Dindonneau).
- Tại Hoa Kỳ và Canada: Turkey còn thêm các tên như Gobblers, Tom..
Gà tây có lẽ đã được thuần hóa tại Trung Mỹ từ khoảng 2000 năm trước Tây lịch. Khi người Tây Ban Nha đến chiếm thuộc địa tại Trung Mỹ, thịt gà tây được dùng trong các bữa tiệc hoàng gia..
– Tại Anh, năm 1541, gà tây được xếp vào nhóm các chim lớn như hạc, thiên nga..Sau đó từ các thế kỷ 17-18, gà tây thành gia cầm nuôi và thay thế thịt ngỗng thành món ăn truyền thống trong dịp Lễ Giáng Sinh.
-Tại Pháp : Hoàng hậu Marguerite de Navarre (vợ vua Henri II de Navarre) nuôi gà tây từ 1534 tại Lâu đài d’ Arlencon, và dùng thịt đãi Bà hoàng Catherine de Medicis trong một bữa tiệc (1549) ‘hạ’ đến 66 chú gà tây ! Năm 1570, Vua Charles IX (Pháp) đãi thịt gà tây trong tiệc cưới của Ông ta. Từ 1630, thịt gà tây đã trở thành phổ biến trên toàn nước Pháp. Từ cuối thế kỷ 17, gà tây được các tu sĩ Dòng Jésuites nuôi tại Bourges rồi lan rộng đến mức gà tây có tên luôn là “jésuites”?
- Sơ lược về sinh học
Gà tây hoang và gà tây nuôi có nhiều đặc tính sinh học giống nhau :
- Gà nuôi (và gà hoang)
Cổ và đầu không có lông; có một dải thịt mọc thòng từ dưới cổ, thả dài như một loại cà-vạt dính liền vào da. Gà trống có thêm lông cứng nơi ngực và có thể xòe đuôi như công, có tiếng kêu đặc biệt (gobbling= glouglouter) .
Gà trống lớn hơn gà mái, bộ lông có nhiều màu sặc sỡ pha trộn đỏ, tím, xanh lá cây, màu đồng sáng, có tia vàng; trong khi gà mái lông toàn xám và nâu. Bộ lông gà tây có thể có đến 5-6 ngàn lông.Sải cánh 1.25 đến 1.50 m
Gà trống nặng trung bình 5-11 kg; dàí-1.25 m . Gà mái 3-5 kg, dài 75-95 cm .
Trong mùa giao phối thường xảy ra những cuộc ‘đấu chọi’ giữa các gà trống để dành gà mái : cuộc chọi nhau’ có gây đến.. giết nhau ! Sau đó gà trống thắng cuộc (vốn đa thê) qua giai đoạn ‘ve vãn’, gạ gẫm, kêu các tiếng gù và.. phe phẩy đuôi..Gà mái tự làm ổ, rất đơn giản bằng lá khô, sau đó đẻ 10-12 trứng, màu kem có đốm đỏ. Gà mái ấp trứng trong 28 ngày. Gà con =poult rời ổ chỉ sau 12-24 giờ.
- Gà hoang (hơi khác)
Gà hoang sống thành bầy, bay khá giỏi và khôn hơn gà nuôi; rất thận trọng và bay hay chạy ngay khi cảm thấy gặp nguy, vận tốc khi bay có thể đến 80 km/ giờGà hoang ăn tạp, kiếm ăn từ các hạt rơi trên mặt đất, hay trên bụi leo và cả cành cây nhỏ. Thực phẩm ưa thích là các hạt cứng (dẻ, hazelnut..) và các loại quả berries, hạt thông, rễ cây và sâu bọ , có khi cả động vật nhỏ như ếch nhái, rắn nhỏ và các loại cỏ.
- Vài giống Gà tây :
- Các giống gà tây hoang :
Gà tây hoang có thể chia thành nhiều giống phụ, Hoa kỳ có 4 giống chính :Eastern, Osceola, Rio Grande và Merriam. Giống thứ 5, : Gould chỉ sống tại khu vực Nam Arizona xuống đến Mexico..

Gould Turkey
- Gà tây hoang Rio Grande (Meleagris gallopavo intermedia): Đuôi xòe của gà trống có viền màu vàng hay màu đất sét. Chân tương đối dài. Gặp tại các vùng bụi rậm gần sông, suối phía Tây Texas. Tây Oklahoma, Colorado, Tây Kansas. Được chuyển về thả hoang tại vùng Tây Hoa Kỳ : California, Oregon, Washington.
Idaho và cả Hawaii . Số lượng khoảng trên 1 triệu con.
Rio Grande Turkey
- Gà tây hoang Merriam ( M. gallopavo merriami) : Đuôi xòe có viền trắng, gặp tại vùng Tây Hoa Kỳ :trong vùng Rocky Mountains, vùng đồng cỏ Wyoming, Dakota.. Số lượng khoảng trên 300 ngàn con.

Merriam Turkey
- Gà hoang Eastern Wild Turkey (M. gallopavo silvestris): Giống gà người Puritans đã gặp khi đặt chân lên Bắc Mỹ. Lớn đến 1.2 m. Đuôi viền màu nâu chocolat, chân dài và thon. Phân bố khá rộng: trong toàn vùng phía Đông Hoa Kỷ, đến Manitoba, Ontario và Quebec (Canada), xuống tận Florida. Số lượng lên đến trên 5 triệu con.

Eastern Wild Turkey
- Gà tây hoang Osceola hay Florida; chỉ gặp tại Florida; nhỏ, màu xậm; lông cánh sậm và có đốm trắng. Khoảng gần 100 ngàn con.
Gà tây hoang là một nguồn lợi tức của Ngành săn bắn thể thao Mỹ và Mexico. Lợi tức thu vào đến hàng trăm triệu đô. Tổng số gà tây hoang tại Mỹ được ước lượng vào khoảng 7 triệu con.

FLORIDA OSCEOLA TURKEY
- Các giống gà tây nuôi :
– Tại Hoa Kỳ và Canada
Gà tây hoang có lẽ đã được thuần hóa và nuôi thành gia cầm tại Tây-Nam Hoa Kỳ và Tây-Bắc Mexico từ khoảng 600 năm trước Tây Lịch. Georges Washington và Thomas Jefferson đã từng viết về cách thả gà tây vào các trại trồng thuốc lá để gà ăn sâu bọ phá hoại lá thuốc. Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, việc sản xuất thịt gà tây đã được tổ chức quy củ hơn. Đến 1874, Hiệp hội Chăn nuôi Gia cầm Mỹ (American Poultry Association) đã đặt ra tiêu chuẩn cho 5 giống gà nuôi chính thức : Bronze, Narragansett, White Holland, Black và Slate. Năm 1920, giống Bronze lớn nhất, được chọn làm giống tiêu chuẩn để được nuôi tại các nông trại và từ 1950, các trại tập trung vào nuôi loại gà lông trắng: nước từ lông chảy ra có màu tương tự như lông (trắng); trong khi đó nước từ gà lông xậm lại có màu đậm..Nước từ lông này tuy không vị nhưng lại thấm vào thịt khi làm lông và người tiêu thụ thích gà trắng hơn vì cho rằng gà trắng sạch hơn.
American Bronze Turkey, Female with Male Displaying with Tail Fanned Out
Gà tây trống được nuôi nhốt tại những trại lớn, chứa đến trên 10 ngàn con. Gà mái nhỏ hơn và lớn chậm nên thường bị hạ thịt sớm.
Do tình trạng nuôi nhốt công nghiệp, chật hẹp khoảng 4 feet vuông/con, nên gà công nghiệp bị cho ăn thực phẩm trộn thêm thuốc kháng sinh chống bệnh và thêm thuốc an thần (reserpine) để chúng không đánh nhau, tránh bị vỡ mạch máu. Từ 1970, giống Large White chiếm thị trường tiêu thụ. Gà rất lớn: 40-65 pounds, không thể tự sinh sản do thân hình quá nặng trên đôi chân ngắn, nên phải nhân giống nhân tạo..
Large White Turkey Male Large White Turkey Female
Hiện nay 5 Công ty chính đang kiểm soát 50% thị trường gà tây tại Hoa Kỳ gồm : Jennie-O-Foods (gốc tại Minnesota, hiện do Hormel Food làm chủ) đứng đầu thế giới về sản xuất và chế biến các thành phẩm từ gà tây. Công ty Cargill (cũng từ Minnesota) nay hạng nhì có các thương hiệu như Honeysuckle, Black Forest Turkey ham.. Công ty kế tiếp là Butterball Turkey, rồi Wampler Foods..Tổng số gà tây nuôi tại Hoa Kỳ lên đến khoảng 5 tỷ kg, trị giá đến 2.8 tỷ USD.
Canada có một số quy định riêng về chăn nuôi và sản xuất thịt gà tây, hiện xếp hạng 7 thế giới về xuất cảng gà tây (trên 30 triệu kg): phần lớn sang Nga và Philippines, Nam Mỹ. Công nghiệp sản xuất và chế biến thịt gà tây tập trung tại Ontario và Quebec (chỉ chiếm một lượng nhỏ). Gà tây Canada được phân loại thành: gà má i= mi-lourdes (6.5 đến 12 kg); gà trống= lourds, trên 11 kg) ; gà để nướng (dinde à griller) (6.2kg) hay gà tơ = jeune dindon và gà ‘sinh sản hay reproducteurs loại để sinh và ấp ra gà con..
Các giống Gà tây nuôi tại Canada thường như các giống tại Hoa Kỳ thêm vài giống riêng như White Midget, Royal Palm..
Xin đọc về Kỹ nghệ Gà tây tại Canada trên :https://www150.statcan.gc.ca/n1/pub/96-325-x/2007000/article/10670-fra.htm
– Tại Âu châu :
Tại Anh : hai giống gà chính là Norfolk Black (thịt nạc và lông đen ít được ưa thích hơn) và Cambridge Bronze (khá lớn: trống nặng trên 18 kg, mái từ 7-10 kg).
Norfolk Black Turkey Cambridge Bronze Turkey
Tại Pháp : Pháp là quốc gia xuất cảng gà tây khắp Âu châu (khoảng 500 ngàn tấn thịt) người Pháp ưa chuộng một số giống gà tây như
– Le bronzé d’Amérique là giống đưa từ Hoa Kỳ sang từ 1870, được nuôi rất phổ biến tại các trại ở Pháp và Anh (xem giống Bronze – Mỹ trên).
– Le blanc de Beltsville : giống lai tạo giữa Bronzée và Blanche de Hollande, cho thịt rất ngon, đẻ trứng nhiều , Chỉ nặng khoảng 6 kg, rất thích hợp cho việc dùng các lò quay nhỏ, có tính cách gia đình. Tại Pháp, giống này khi cho lai với gà tây đen tạo ra dòng Bétina được thế giới ưa chuộng. Trong số các gà tây’ trắng’ còn có các loài nổi tiếng như Blanc d’ Angleterre; Blanc d’ Autriche..
Dindon blanc de Beltsville
– Le Rouge des Ardennes : chủng.. nhà quê Pháp, bộ lông đỏ, màu đồng khá rực rỡ..
Dindon Rouge des Ardennes
Ghi chú : Một câu hỏi thú vị được đặt ra : Chợ thực phẩm có bán trứng gà, trứng vịt, trứng cút..và một số loại trứng riêng của các nhóm dân thiểu số như hột vịt lộn (balut), hột vịt muối.. nhưng không thấy trứng gà tây ?
Các chuyên gia chăn nuôi trả lời : ‘’lý do kinh tế.. lợi hay không !”
Gà tây đẻ ít trứng : Gà thường đẻ mỗi năm đến 300 trứng, trong khi gà tây chỉ đẻ 100 đến 120 trứng/ năm. Gà thường nuôi từ 19 đến 20 tuần là trưởng thành và có thể đẻ trứng. Gà tây mất đến 32 tuần. Gà tây cần khoảng sống rộng hơn vì to và nặng hơn .. Gà tây có thói quen ấp trứng trong khi gà thường.. chỉ đẻ và không ấp .
- Dinh dưỡng
Giá trị dinh dưỡng của thịt Gà tây tùy theo phần sử dụng, thường là : đùi (drumstick), ngực, cánh và gan..
USDA Database có những bảng dinh dưỡng chi tiết; xin đọc tại :
https://fdc.nal.usda.gov/fdc-app.html#food-details/171098/nutrients Xin tóm lược vài điểm chính (phần breast) thịt tươi :
Nước (74%) ; Protein (25%) ; Chất béo (1%);Carbohydrates (no?)100 gram thịt cung cấp 110 calories, nhiều khoáng chất như Calcium (10mg), Sắt, Magnesium, Phosphorus, Kẽm.. nhiếu vitamins như niacin, B6, pantothenic acid.
Thịt Gà tây còn được chia thành hai loại :
- Phần thịt có màu đậm : Dark meat ( thịt đùi, chân = drumstick, giống như dùi trống)
- Phần thịt trắng’ : White meat ( ngực và cánh)
Thịt trắng là vùng liên hệ đến hoạt động của gà, và thịt đỏ là phần ít vận động , dự trữ năng lượng).
Thịt đỏ là một nguồn cung cấp chất đạm tốt, giúp bồi bổ cơ thể, chứa nhiều vitamin nhóm B, là nguồn cung cấp sắt, dạng heme (trong myoglobin) dễ hấp thu, rất tốt cho các trường hợp thiếu máu do thiếu sắt. Thịt trắng tuy nạc, ít chất béo và acid béo bão hòa (thịt đỏ 2g/100g; trắng 0.5g) nhưng ít khoáng chất hơn.Thành phần acid amin trong thịt gà tây khá cân bằng : lysine, leucine, valine và methionine chiếm tỷ lệ khá cao.
- Vài vấn đề nên lưu ý :
- Thịt đỏ chứa nhiều purines (150mg/100g) có thể không thích hợp với người bệnh gout.
- Gan gà tây, món được dân Pháp ưa chuộng không kém gan ngỗng, chứa nhiều Vitamin B12 , nhưng cholesterol rất cao : đến 580mg/ 100g gan (Hiệp hội Tim Hoa Kỳ khuyến cáo : mỗi ngày chỉ nên đưa vào cơ thể tối đa 300 mg cholesterol).
Gan gà tây Médaillons De Foie Gras De Dinde
- Vấn đề tryptophan : có những bài viết cho rằng ; sau bữa ăn thịt gà tây, người ăn có thể bị hội chứng chóng mặt và buồn ngủ (?) (post-meal drowsiness), nhưng chưa có nghiên cứu y học nào kiểm chứng sự kiện này. Vài giải thích cho rằng có thể do tryptophan (một acid amin, thành phần chính của serotonin và melatonin có những tác dụng tạo sảng khoái và giúp giấc ngủ) ?,Thịt gà tây chứa 279 mg tryptophan/100g, nhưng từ tryptophan để chuyển đổi thành melatonin còn cần nhiều phản ứng sinh học trong cơ thể!
- Món ngon từ Gà Tây
- Truyền thống văn hóa :
Thịt gà tây là món ăn truyền thống: ”món thịt chính tại Hoa kỳ và Canada trong dịp Lễ Tạ Ơn = Thanksgiving và tại Âu châu trong dịp Lễ Giáng Sinh. Tại Mexico, món ‘quốc túy’ là Poblano de guajolote = “Turkey with mole”.

Poblano de guajolote = “Turkey withe mole”
Tại Hoa Kỳ, thịt gà tây được bán trên thị thường dưới các dạng ‘nguyên con’ (làm sạch lông, bỏ đầu và chân); cắt miếng hoặc xay vụn..Gà nguyên con đông lạnh là dạng phổ biến nhất. Những món ăn ‘gà’ trong vài trường hợp có thể thay bằng thịt gà tây. Thịt xắt lát mỏng dùng trong sandwich hay trong dĩa ‘thịt nguội’ = cold cuts (hors d’oeuvres variés).

Cold cuts (hors d’oeuvres variés).
Thịt xay vụn dùng thay thịt bò xay (ground) và được xem là tốt cho sức khỏe hơn.
Các nhà đầu bếp chuyên nghiệp chọn gà tây ‘tươi’ hơn là gà đông lạnh : nhưng trong các mùa lễ, nhu cầu gà tươi tăng cao, khó mua và giá đắt hơn. Gà đông lạnh, tuy lúc nào cũng có nhưng muốn dùng lại phải ‘xả đá=defrost’ củng phải mất thời gian !, gà lớn có khi mất vài ngày! Cách đun nấu thông thường là : đút lò và quay trong thời gian kéo dài tùy trọng lượng con gà . Gà thể ướp, ngâm ‘brine’ trước khi quay để tạo thêm hương vị và giữ độ mềm, moist cho thịt (thịt đỏ thường phải đun nấu, quay lâu hơn nên trở thành khô..)

Gà tây đút lò
- Món ăn và.. phụ tùng kèm theo :
Tại Hoa Kỳ và Pháp có rất nhiều ‘Sách dạy nấu ăn’ chỉ dẫn cách chế biến Gà tây trong từng dịp Lễ như Thanksgiving và Christmas..cùng những món thông thường hàng ngày khác..
- Thanksgiving : Tại Hoa Kỳ, món truyền thống là Gà tây nhồi (stuffed= farci) hay gà tây quay dọn với sốt cranberry và gravy. Các món đi kèm sẽ là khoai tây nghiền, bắp nướng nguyên tai, đậu beans, bí-bầu và khoai lang.. Tráng miệng là bánh pies, làm bằng bí đỏ, thêm táo, và hạt pecans.. (có thể ăn Lễ Giáng Sinh theo cùng kiểu). Nguyên liệu để nhồi rất đa dạng.

Thanksgiving : le repas de fête à l’américaine
- Giáng Sinh : Tại Anh, Gà tây ăn chung với rau mùa Đông, kể cả khoai tây nướng, cải nhỏ brussels sprouts và củ parsnips.. Sốt đi kèm là sốt cranberry (vùng Bắc Anh).. có khi kèm thêm xúc xích, thịt ba chỉ (bacon) quấn gan và .. chiên..
Nhân nhồi gà tây kiểu Anh thường thịt heo trộn hành tây băm vụn, rau thơm như sage, tiêu, tỏi..đút lò tên chung là braised turkey.
Braised turkey
Pháp có các món đặc biệt như “Ballotine of turkey.. à la Toulousaine” (Rôti de dinde farci aux saucisses et pistachios = thịt gà tây cuộn nhân bên trong thành dạng quả banh rồi nướng hay đút lò) “Dindonneau farci braisé”; Daube of turkey à la bourgeoisie..
Bourguignon de Dinde
Ballotine of turkey.
Thịt gà Tây tại Việt Nam
Thịt gà tây không được ưa chuộng tại Việt Nam vì thịt quá nạc, thiếu ‘vị béo’ và ngọt như “gà mái dầu’ hay ‘gà trống thiến’. Việt Nam có nuôi gà tây từ thời.. Tây (!) , có lẽ đem từ Âu châu, Ấn Độ sang, nhưng rất giới hạn và thu hẹp tại vài địa phương như quanh vùng Hà Nội, Hưng Yên.., ngày nay tại một số tỉnh phía Nam như ngoại ô Sài Gòn, Gò công
Các giống gà tây nuôi tại Việt Nam hiện nay bị lai tạp qua nhiều thế hệ và những giống được nuôi là Gà tây đen, Gà tây lông trắng (gốc Mỹ, ngực rộng) và Gà tây lông màu đồng. Một vài tài liệu có ghi Gà tây VN còn gọi là Gà lôi (?).Giống mới du nhập là White Holland và từ 2008 có thêm giống “Huba’ nhập từ Hungary.
Một kỷ niệm khó quên của dân miền Nam (1968-1972 ) nhất là gia đình quân nhân VNCH là gà tây đóng hộp (turkey meat in can) trong chương trình thực phẩm phụ trội mà Chính phủ VNCH cấp phát thêm cho quân nhân (mỗi tháng khi lãnh lương, TMQ có nhận các thùng này hàng tháng). Thịt gà tây đóng hộp không hợp khẩu vị người Việt nên sau khi lãnh thường đem ra bán tại các chợ trời, nhưng sau đó các bà nội trợ đã tìm được phương pháp chế biến tuyệt hay : làm thành món thịt chà bông (người Bắc gọi là ruốc) thay cho thịt heo, rất ngon và.. hộp gà tây thành món hàng rất có giá.
Gà tây Úc ? :
Úc là một lục địa có những con thú kỳ lạ.. không nơi nào có (!) như Kangaroo, Koala, Platypus và Gà tây cũng không ngoại lệ.Gà tây Úc : Dinde australienne; Brosse-dinde australienne; dinde de brousse (gọi theo Tây ) ha Australian Brush Turkey, gweela (tên Úc) ..khác hẳn và không liên hệ với Gà tây Mỹ và Âu châu ! Tên chính thức là Alectura lathami (Talégalle de Latham), phân bố tại vùng NSW và được đưa vào thả tại đảo Kangourou. Gà Latham đến cả các vùng ngoại ô Brisbane. Bang Queensland cấm săn bắt gà , và phạt rất nặng các vụ vi phạm.. Số lượng Gà tại Úc khoảng 100 ngàn con.
Gà Latham, rất đặc biệt, đuôi to dạng cánh quạt (không xòe như gà Tây), bộ lông màu đen hay nâu-đen ; đầu và cổ không lông, riêng con đực vào mùa giao phối có những đốm vàng. Bay rất kém nên chỉ bay khi gặp nguy. Gà Latham nhỏ, cỡ 60-75cm, sải cánh 85cm. Gà đực nặng 2-3 kg; gà mái 1.8-2.7 kg.
Đặc điểm đáng chú ý là không ấp trứng (cỡ 80 gram) nhưng vùi trứng trong ổ làm bằng lá trước khi đẻ và tự điều chỉnh nhiệt độ để giữ trứng tự nở sau 47 đến 52 ngày.
Năm 1969: hai Sở thú St Louis và Sở thú San Diego đã nuôi và cho sinh sản gà Latham Úc tại chỗ.
Xem thêm tại :
https://ielc.libguides.com/sdzg/factsheets/autralian-brush-turkey
Australian Brush Turkey – Gweela
Trần Minh Quân 11/2021
Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.
One Comment Add yours