MÙA HÈ ĐỎ LỬA 1972 – NHỮNG NGƯỜI BẠN MỸ CAN TRƯỜNG TẠI CHIẾN TRƯỜNG BÌNH LONG

on

Xin kính chào tất cả,
Cách nay ba ngày, một thân hữu người Mỹ gửi cho chúng tôi một bài viết vừa mới được phổ biến. Bài này tuy rằng được viết xong vào tháng Tư, đúng 50 năm sau khi sự việc xảy ra nhưng phải đến hơn một tháng sau mới có một đặc san phát hành. Câu chuyện chính là một chiếc vận tải cơ C-130 của Hoa Kỳ bị địch quân bắn trúng, phải đáp khẩn cấp và sau đó được trực thăng đến cứu. Trước đây, chúng tôi đã có đọc nhiều bài về việc này nhưng không đầy đủ và chính xác.
Bài này cũng nói tổng quát về Mặt Trận Bình Long nên chúng tôi nhận thấy nên chuyển sang Việt ngữ để các chiến hữu và các bạn cùng đọc. Bài khá dài, nên chúng tôi có cắt bỏ mấy đoạn ngoài lề, không quan trọng.

———–
Mãi đến ngày 5 tháng Tư 1972, tức là khi Lộc Ninh thực sự lâm nguy, chúng ta mới biết rõ về tất cả các lực lượng cộng quân tham chiến tại vùng này.
Về bộ binh, chúng có Công Trường 5 và Công Trường 9 mà đa số là người miền Nam, người Việt Nam sinh sống bên Cao Miên, và đám tập kết. Kế đến là Công Trường 7 hoàn toàn chỉ có lính Bắc Việt.
Chúng còn có thêm Trung Đoàn 24 và Trung Đoàn 271 Biệt Lập. Trung Đoàn 271 còn có một tiểu đoàn phòng không rất dữ dằn.
Về chiến xa, chúng có hai tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 203 Chiến Xa và một phần của Trung Đoàn 202 Chiến Xa Đặc Biệt. Đặc biệt ở đây có nghĩa là chiến xa có vũ khí đặc biệt, chẳng hạn như kiểu ZSU-57 do Nga sản xuất vốn có thân của chiến xa T-54 nhưng pháo tháp riêng biệt với hai khẩu đại bác phòng không 57 ly. 
Về pháo binh, chúng có Sư Đoàn 69 Đại Pháo.
Tính ra, lực lượng cộng quân tham gia mặt trận Bình Long có sức mạnh tương đương 35 tiểu đoàn.

Vào thời gian đó, vì chương trình Việt Nam Hoá Chiến Tranh nên trách nhiệm quân sự đã được Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đảm trách hoàn toàn. Quân đội Hoa Kỳ chỉ còn đáp ứng nhu cầu không yểm. Vì vậy nên ngoài các cố vấn Hoa Kỳ có mặt tại nhiều đơn vị, Hoa Kỳ chỉ còn lưu lại trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà hai đại đơn vị chiến đấu. Thứ nhất là Lữ Đoàn 196 Khinh Chiến đặt căn cứ tại Đà Nẵng. Thứ hai là Lữ Đoàn 3 thuộc Sư Đoàn 1 Không Kỵ có căn cứ chính tại Lai Khê.
Lữ Đoàn 3 Không Kỵ lúc bấy giờ gồm có ba tiểu đoàn bộ binh chuyên về hành quân trực thăng vận, một tiểu đoàn pháo binh với đại bác 105 ly, một phi đội trực thăng thuộc Trung Đoàn 77 Pháo Binh Dã Chiến, vốn là một đơn vị phi hành của Phi Đoàn 2, Thiết Đoàn 11 Kỵ Binh.
Ngoài ra, còn có một số đơn vị khác. Thứ nhất là Tiểu Đoàn 229 Trực Thăng Tấn Công. Đơn vị này gồm có Phi Đoàn 1 thuộc Lữ Đoàn 9 Kỵ Binh và một phi đội trực thăng của Trung Đoàn 79 Pháo Binh Dã Chiến. Đơn vị thứ hai là Đại Đội 362 Trực Thăng Tấn Công.
Cả hai đơn vị này đều được tăng phái cho Lữ Đoàn 3 Không Kỵ.

Ngày 8 tháng Tư 1972, đại binh Bắc Việt tràn xuống chiếm Quản Lợi, nơi có sân bay lớn hơn sân bay Bình Long tại An Lộc. Với việc Lộc Ninh và Quản Lợi thất thủ, An Lộc hoàn toàn bị bao vây bởi vì cộng quân cũng đã phục binh dọc theo Quốc Lộ 13, con đường duy nhất được dùng để tiếp tế cho An Lộc. Vì thế nên kể từ lúc này, việc tiếp tế cho An Lộc chỉ có thể được thực hiện bằng đường không, nhưng rất nguy hiểm vì cộng quân có vũ khí phòng không đủ loại từ 12 ly 7 đến 23 ly và 37 ly.
Ngày 12 tháng Tư, một chiếc trực thăng CH-47 Chinook của Sư Đoàn 3 Không Quân đã bị bắn rớt trong lúc thực hiện một phi vụ tiếp tế cho An Lộc. Kể từ lúc này, việc tiếp tế cho An Lộc chỉ có thể thực hiện bằng cách thả dù. Vì mạng lưới phòng không của địch chằng chịt nên phi cơ thả đồ tiếp tế ở cao độ 230 thước trở nên cực kỳ nguy hiểm, nhưng lên cao độ 1 ngàn 500 thước thì khó lòng lọt vào khu vực của đơn vị bạn.
Trong ba ngày 12, 13 và 14 tháng Tư, Không Quân Việt Nam Cộng Hoà đã thực hiện 27 phi vụ tiếp tế cho An Lộc, thả xuống tất cả 135 tấn đạn dược và tiếp liệu. Chỉ có 34 tấn rơi vào khu vực do quân ta trấn giữ. Ngày 14 tháng Tư, một vận tải cơ bị bắn rơi trong lúc thả dù tiếp tế cho An Lộc. Ngày 19, thêm một chiếc nữa.
Đến lúc đó, có thể là vì có lệnh của Tổng Thống Richard Nixon, Phi Đoàn 1 thuộc Không Đoàn 374 Không Vận Chiến Thuật của Hoa Kỳ tại Tân Sơn Nhứt tiếp tay.
Ngày 15 tháng Tư, một chiếc vận tải cơ C-130 bay lên An Lộc và thả tiếp tế xuống sân vận động Nguyễn Huệ. Nó bay ở cao độ 180 thước nên tiếp phẩm rớt xuống đúng cứ điểm.
Khi chiếc thứ hai bay đến thì phòng không của địch đã chuẩn bị sẵn sàng, và chúng bắn lên như mưa khiến phi cơ trúng đạn nhiều chỗ và phải bay vòng về. Vì chuyên viên cơ khí phi hành trúng đạn tử thương ngay tại chỗ nên chỉ còn hai nhân viên áp tải phi hành đối phó với đạn dược chất đầy trên các kiện đặt dưới sàn phi cơ. Họ nhanh chóng cắt dây và đẩy ra khỏi phi cơ trước khi nó phát nổ. Chiếc C-130 bị hư hai động cơ, nhưng bay về đến Tân Sơn Nhứt an toàn.
Ngay sau đó, cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam Cộng Hoà đều ngưng việc thực hiện các phi vụ thả tiếp tế bằng dù ở cao độ thấp. Thay vào đó, họ nghiên cứu để cách thức thả tiếp tế bằng dù khác hẳn được thực hiện. Kể từ nay, các phi cơ không còn bay lên An Lộc dọc theo Quốc Lộ 13 như trước đó. Họ có 6 phi trình mới mà các phi cơ quan sát sẽ báo cho họ biết ngay trước khi họ cất cánh rằng phi trình nào an toàn hơn cả.
Thêm vào đó, các phi cơ sẽ không bay với tốc độ chậm, 245 cây số một giờ như trước đó mà với tốc độ nhanh hơn nhiều, khoảng 450 cây số một giờ. Họ sẽ bay thật thấp, sát ngọn cây, và khi gần đến mục tiêu, tức là sân vận động Nguyễn Huệ, thì bất ngờ bay lên cao độ gần 200 thước. Như vậy, chiếc phi cơ dốc lên sẽ khiến các kiện hàng tự động trượt ra khỏi phi cơ và bung dù. Phi vụ đầu tiên theo kiểu này được thực hiện vào ngày 16 tháng Tư. Các kiện hàng rơi ra bên ngoài cứ điểm nhưng vẫn còn trong khu vực do quân ta kiểm soát.
Phi vụ thứ hai được thực hiện vào trưa 18 tháng Tư. Điều khiển chiếc C-130 này là Đại Uý Donald Jensen và Thiếu Tá Leigh Pratt. Các nhân viên khác trong phi hành đoàn gồm có Thiếu Tá Robert Kirkpatrick là điều hành viên; Ralph Kent, cơ khí phi hành; cùng với hai nhân viên phụ trách thả hàng bằng dù là Charles Armistead và Ralph Bemis. Ngoài ra, còn có một người của Việt Nam Cộng Hoà là Nguyễn Kiểm (hoặc Kiệm), không rõ đơn vị nào. Vị này biết rất rõ các vị trí của tất cả các đơn vị bạn đang tử thủ tại An Lộc vào lúc đó. Anh sẽ góp ý khi cần thiết.
Ngay sau khi vừa cất cánh khỏi Tân Sơn Nhứt, các phi công lái chiếc phi cơ C-130 với danh hiệu truyền tin Manta 75 nhận thấy có một trục trặc. Trước khi cất cánh, họ được cho biết rằng viên phi công của chiếc phi cơ tiền sát có danh hiệu Sundog sẽ liên lạc với họ. Thế nhưng họ không được anh này gọi, và họ gọi cho anh ta cũng không được.
Nguyên nhân của sự việc này là vì như sau. Theo chương trình mà chỉ có một số ít người được cho biết thì trưa hôm đó có một phi tuần B-52 sẽ đến dội bom xuống vị trí tập trung quân của địch bên ngoài thị xã An Lộc. Vì thế nên Sundog bù đầu với việc liên lạc với các phi cơ khác liên quan đến chiến trường An Lộc. May thay, sau khi phi tuần B-52 mưa bom xong thì anh chàng liên lạc với Manta 75. Theo sự hướng dẫn của Sundog, Manta 75 từ hướng đông-nam bay về tây-bắc để đến An Lộc. Chiếc phi cơ bay ở cao độ chỉ có mấy chục thước với tốc độ 450 cây số một giờ. Gần đến An Lộc, nó bay lên cao độ gần 200 thước và giảm tốc độ xuống còn 245 cây số một giờ.
Khi Manta 75 còn cách cứ điểm khoảng 2 cây số (tức là đang bay ở trên Đồi Gió), cộng quân bắn lên như mưa. Một trong những viên đạn đầu tiên trúng bộ đàm thoại của Đại Uý Jensen khiến nó văng khỏi đầu anh này. Kể từ lúc đó, chỉ còn Thiếu Tá Pratt là có thể liên lạc với các nhân viên khác của phi hành đoàn. Tuy nhiên, họ chỉ dủng hệ thống liên thoại nội bộ chứ không thể dùng vô tuyến liên lạc với các nơi khác vì nó đã bị trúng đạn, hư hỏng hoàn toàn.
Armistead và Bemis chạy tới lui quan sát, rồi báo cho Thiếu Tá Pratt biết như sau. Động cơ thứ ba bị trúng nhiều phát đạn 12 ly 8. Nhớt từ động cơ phun ra qua các lỗ đạn và bắt đầu bốc cháy.
Chiếc C-130 chở tất cả 15 tấn đạn dược, rất quan trọng cho quân bạn bên dưới. Vì thế nên Thiếu Tá Kirkpatrick quyết định cho chiếc phi cơ tiếp tục bay về mục tiêu và không bao lâu sau đó, anh nghe Bemis nói trong máy rằng “Hàng hoá xuống hết rồi”.
Không còn 15 tấn đạn dược trong phi cơ, ai cũng thấy nhẹ nhõm và chiếc C-130 quay trở về hướng nam, trực chỉ Tân Sơn Nhứt vốn chỉ cách An Lộc 15 phút bay. Bemis và Armistead tiếp tục quan sát, và nhận thấy có một sự may mắn định mạng. Bình thường, họ gắn một bình xăng phụ vào cánh phi cơ, nhưng hôm nay vì bay gần và vì chở nặng nên họ tháo nó ra. Có ít nhất hai viên đạn cỡ lớn bắn trúng vào cánh, ngay chỗ mà bình xăng phụ thường được gắn vào.
Thế nhưng, sau đó họ lại thấy một hiểm hoạ khác, tai hại hơn. Đó là hệ thống thuỷ điều dưới bụng phi cơ, nơi bộ bánh sau bên phải, đang phun ra dữ dội vì trúng đạn, và bắt đầu bốc cháy. Cả hai dùng bình chữa lửa nhưng không dập tắt được. Trái lại, nó cháy càng lúc càng lớn. Tệ hại hơn nữa, họ nhìn ra ngoài thì thấy lửa từ động cơ thứ ba đã cháy lan sang cánh phi cơ. Họ gọi cho Thiếu Tá Kirkpatrick và Thiếu Tá Pratt để báo cáo tình trạng chiếc phi cơ.

Thông thường thì các phi hành đoàn ngành vận tải của Không Lực Hoa Kỳ làm theo chỉ thị là nếu lâm nguy, tất cả phải ở lại phi cơ để cố gắng điều khiển nó đáp xuống an toàn. Mục đích là để cứu vãn chiếc phi cơ. Trong trường hợp nhận thấy không an toàn để cứu chiếc phi cơ thì phi hành đoàn được phép nhảy dù để cứu mạng mình. Cả Thiếu Tá Kirkpatrick và Thiếu Tá Pratt đều đồng ý rằng trong tình thế lúc đó, họ phải theo chỉ thị thứ hai. Với bộ điện đàm bị bắn văng khỏi đầu và hư hại, Đại Uý Jensen không nghe thấy các đồng đội nói gì nhưng qua thủ hiệu, anh hiểu và cũng đồng ý như vậy.
Tuy nhiên, Bemis và Armistead báo cáo rằng tất cả các dù đều không còn sử dụng được; chiếc thì bị cháy xém, chiếc thì bị trúng đạn, thủng nhiều lỗ. Tai hại không kém, tất cả các cửa có thể dùng để nhảy dù ra khỏi phi cơ đều không mở được vì hệ thống thuỷ điều và hệ thống điện đã bị hỏng. Như vậy, họ chỉ còn một cách duy nhất là tìm một nơi nào trống trải càng xa địch quân càng tốt để hạ cánh khẩn cấp, trước khi lửa lan ra các phần còn lại của chiếc phi cơ và phát nổ.
Trước đây, có nhiều chiến hữu bên chúng ta tin rằng chiếc phi cơ đáp khẩn cấp xuống một khoảng đất trống gần ấp Thạnh Phú, phía bắc-đông-bắc An Lộc. Cũng có hai chiến hữu tin rằng nó đáp xuống một khoảng đất trống ngay phía bắc Phú Lô, nằm ở phía tây-bắc An Lộc Trên thực tế thì sân vận động Nguyễn Huệ nằm ở cực nam thị xã An Lộc và ngay sau khi thả các kiện đạn dược xuống đây, chiếc phi cơ quay đầu ngay về hướng nam, như đã nói ở trên.
Cả phi hành đoàn cũng như anh Nguyễn Kiệm lúc đó đều biết rằng thị xã An Lộc được bao quanh bởi các khu rừng cao-su và vào lúc đó, cộng quân tràn ngập. Vì thế nên tất cả đều đồng ý rằng nơi duy nhất để hạ cánh an toàn là sân bay Lai Khê, cách đó chỉ hơn 30 cây số về hướng nam. Tuy nhiên, với một động cơ bị hỏng và cháy lan sang cánh phi cơ, cùng với hệ thống thuỷ điều cũng như các cơ phận khác không còn sử dụng được, chiếc phi cơ mất cao độ dần dần.
Thiếu Tá Kirkpatrick, Thiếu Tá Pratt và Đại Uý Jensen vẫn hoàn toàn bình tĩnh khi họ nhận ra một khu đất trống trải. Như vậy, họ có cơ hội thoát nạn, nhưng cũng còn tuỳ thuộc vào kinh nghiệm và tài năng.
Đại Uý Jensen cố gắng điều khiển cánh lái sao cho chiếc phi cơ vẫn bay thẳng. Trong khi đó, Thiếu Tá Pratt giảm tốc độ của động cơ số 1 và số 2 đồng thời tăng tốc độ của động cơ số 4. Nhờ vậy, chiếc C-130 lấy lại thăng bằng và khi nó chạm mặt đất, không một cánh nào của nó quẹt xuống trước. Nó chạy được gần một cây số rồi đụng vào một cây lớn khiến nó quay ngược đầu ra phía sau, lết thêm một đoạn rồi nằm im.
————
Vào trưa hôm đó, trong khi các pháo đài bay B-52 dội bom xuống các vị trí cộng quân ngay sát An Lộc thì tại phía bắc An Lộc, có mấy chiếc trực thăng thuộc Phi Đoàn 1 của Lữ Đoàn 9 Kỵ Binh Hoa Kỳ đang thi hành sứ mạng thường nhật của họ để yểm trợ cho các lực lượng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Đó là một chiếc trực thăng UH-1 trang bị rất đầy đủ có nhiệm vụ quan sát trận địa và tìm các vị trí địch quân cho pháo binh và không quân thanh toán. Bay theo chiếc trực thăng này là hai chiếc Cobra. Chiếc trực thăng UH-1 nói trên do Đại Uý Robert Frank và Đại Uý Robert Monette điều khiển.
Quá trưa, khi cả ba chiếc phi cơ hoàn tất nhiệm vụ, đang bay về Lai Khê vì sắp hết nhiên liệu thì Đại Uý Frank và Đại Uý Monette trông thấy chiếc C-130 bay ngang qua trước mặt mình. Nó đang cháy, và khói bay ra từ nhiều chỗ.
Hai chiếc Cobra lập tức gia tăng tốc độ, bay theo sát chiếc C-130. Chiếc UH-1 của Đại Uý Frank và Đại Uý Monette không thể bay nhanh hơn, nhưng cả hai vẫn nhìn thấy chiếc phi cơ vận tải bay xa xa. Đại Uý Frank cố gắng liên lạc với phi hành đoàn của chiếc C-130 bằng cả tần số VHF lẫn UHF nhưng không được. Họ nghĩ rằng phi hành đoàn đang tối mặt điều khiển chiếc phi cơ đang bị trọng thương.
Lái chiếc Cobra bay trước là Đại Uý John Gooch. Anh quan sát chiếc C-130 lao đi trên mặt đất, tông vào gốc cây, quay ngược đầu rồi tiếp tục lướt đi. Cuối cùng, nó dừng lại và bốc cháy lớn hơn. Khói từ chiếc C-130 bốc lên ngùn ngụt nhưng Đại Uý Gooch vẫn có thể nhìn thấy rất rõ ràng là chiếc phi cơ bị gẫy làm đôi. Nhìn ngọn lửa, anh không tin rằng có người trên phi cơ còn sống sót.
Thế nhưng, như một phép lạ, Đại Uý Gooch trông thấy có mấy người đang thoát ra khỏi chiếc phi cơ lâm nạn qua nhiều ngả khác nhau: cửa sổ buồng lái, lối thoát hiểm phía trên, cửa dành cho phi hành đoàn. Bay đến gần hơn một chút nữa, Đại Uý Gooch bắt đầu nhận được tín hiệu cầu cứu từ phi hành đoàn chiếc C-130.
Đại Uý Monette đáp chiếc UH-1 của mình gần chiếc C-130, giữ khoảng cách an toàn vì nó đang bốc cháy dữ dội và có thể phát nổ bất cứ lúc nào.
Có hai nhân viên của phi hành đoàn trên chiếc C-130 chạy về phía chiếc UH-1 trong khi hai người khác lết trên mặt đất một cách khó nhọc. Họ được đưa lên phi cơ và cho biết còn ba người nữa cần được cứu. Cả ba đều bị thương và kẹt trong phi cơ.
Lúc đó, có đến mấy toán cộng quân khá đông xông về vị trí chiếc phi cơ lâm nạn. Hai chiếc Cobra bắn dữ dội, hạ được một số và cầm chân những đứa còn lại từ xa. Tuy nhiên, cũng có mấy tên len lỏi đến gần chiếc UH-1 mà hai chiếc Cobra không thấy. Hai xạ thủ đại liên trên chiếc UH-1 là Leonard Shearer và John Deslauriers bắn dữ dội, thanh toán được đám này. Nhờ vậy, Shearer mới có thể chạy đến chiếc C-130 và cứu thêm một người nữa. Như vậy, với phi hành đoàn 4 người và 5 người vừa được đem lên, chiếc UH-1 không thể chở thêm bất cứ ai nữa.
Tại Lai Khê, người ta theo dõi thật sát và biết rõ từng chi tiết. Đại Uý Frank được cho biết rằng một toán cứu nạn đã được trực thăng chở từ Lai Khê lên đó. Đại Uý Frank yêu cầu gởi thêm một chiếc trực thăng cứu thương. Người ta chỉ yêu cầu anh phải ở lại vị trí đó cho đến khi các phi công trên chiếc trực thăng từ Lai Khê bay lên có thể nhìn thấy chiếc C-130 lâm nạn.
Không bao lâu sau, một chiếc UH-1 xuất hiện. Như thường lệ, nó bay qua mục tiêu rồi quay đầu lại, hạ cánh. Hai nhân viên phi hành đoàn còn lại của chiếc C-130 được đem ra khỏi phi cơ và lên chiếc trực thăng mới hạ cánh.
Cả hai chiếc UH-1 trực chỉ bệnh viện.
Lái chiếc Cobra thứ hai là Đại Uý Ronald Timberlake. Sau khi hai chiếc UH-1 đã bay đi rồi thì anh thi hành nhiệm vụ của mình. Với 52 phi đạn nổ mạnh trên chiếc phi cơ của mình, Đại Uý Timberlake bắn xuống chiếc C-130 một số lượng vừa đủ để tiêu huỷ chiếc phi cơ này. Nếu sau đó cộng quân mò đến lục lọi, chúng sẽ không tìm được bất cứ một thứ gì liên quan đến kỹ thuật cũng như các tài liệu về phi trình và phối trí các lực lượng bạn tại Bình Long.
Tại Lai Khê, Đại Uý Frank chỉ biết rằng chiếc trực thăng của mình bị trúng mấy phát đạn khi anh bơm thêm nhiên liệu vào phi cơ.
————

Sự việc nói trên được ghi rất đầy đủ và rõ ràng trong tất cả các báo cáo của các đơn vị có liên quan. Tuy nhiên, chẳng mấy ai chú ý vì hai lẽ. Thứ nhất, kể từ khi Quân Đội Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam thì các trận đánh lớn chỉ liên quan đến Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Do đó, giới truyền thông không phổ biến rộng rãi vì nó không còn là một đề tài thu hút khán giả và độc giả. Thứ hai, đám truyền thông bất lương và thiên tả thì biết rất rõ ràng rằng thuật lại sự việc trên sẽ chẳng có lợi gì cho mưu đồ bất chánh của chúng, nếu không muốn nói là ngược lại. Vì thế nên chúng im thin thít.
Thế nhưng điều đáng nói hơn hết là cả Chính Phủ Hoa Kỳ lẫn Quân Đội Hoa Kỳ đều lờ đi vụ này. Mãi đến hơn bốn mươi năm sau, nó mới được đem ra xem lại.
Năm 2015, đúng 40 năm sau khi chúng ta mất nước, French Hill đắc cử vào Quốc Hội Hoa Kỳ, đơn vị Arkansas. Hill là người của Đảng Cộng Hoà, học trường Công Giáo từ nhỏ. Vì thế nên ông luôn tranh đấu cho sự công bằng. Có sự vận động của Hill, người ta đem sự việc nói trên ra xem lại.

Uỷ ban điều tra tìm lại được tất cả những người trong cuộc, trừ một người. Đó là chiến hữu Nguyễn Kiệm của chúng ta. Đến đây, thiết tưởng các bạn cũng nên biết rõ hơn về vai trò và vị trí của chiến hữu Nguyễn Kiệm trong vụ này.
Điều thứ nhất là theo qui định của Chính Phủ Hoa Kỳ, tất cả các quân nhân Đồng Minh cộng tác với họ, giúp họ thi hành nhiệm vụ, hoàn thành công tác tốt đẹp hoặc vượt qua gian nguy đều có công trạng và được tưởng thưởng hay tri ân một cách xứng đáng. Chiến hữu Nguyễn Kiệm có mặt trên chiếc Manta 75 hôm đó là vì anh biết rõ An Lộc như lòng bàn tay của mình, và lại còn biết rõ phối trí của tất cả các đơn vị bạn đang tử thủ tại đây. Do đó, anh sẽ giúp phi hành đoàn của chiếc Manta 75 trong trường hợp họ khó quyết định. Quan trọng không kém, anh còn có thể liên lạc với các đơn vị dưới đất để xin thêm chi tiết cũng như ghi nhận các ý kiến, các yêu cầu. Như vậy, chiến hữu Nguyễn Kiệm đã cộng tác với phi hành đoàn của chiếc Manta 75, giúp họ hoàn thành nhiệm vụ. Trong trường hợp phi hành đoàn của chiếc Manta 75 được ghi nhận công trạng thì chiến hữu Nguyễn Kiệm cũng phải được tương tự.
Điều thứ hai, quan trọng không kém. Đó là đối với uỷ ban điều tra (Inquiry Committee), chiến hữu Nguyễn Kiệm là một nhân chứng quan trọng. Anh sẽ cho uỷ ban biết phi hành đoàn chiếc UH-1 đã can trường và tận tuỵ như thế nào khi họ cứu tất cả 7 người trong chiếc Manta 75, đặc biệt là xông vào bên trong chiếc phi cơ đang bốc cháy để cứu ba người mắc kẹt trong đó giữa lúc bị địch quân bao vây và nổ súng.
Như vậy, chúng ta hiểu được tại sao uỷ ban điều tra cố gắng đi tìm chiến hữu Nguyễn Kiệm.

Hồ sơ của Bộ Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ (Immigration and Naturalization Service) cho thấy rằng từ năm 1975 cho đến khi tổ chức được giải thể vào năm 2003, không có một người nào tên Nguyễn Kiệm với tuổi tác và quân vụ như uỷ ban điều tra ghi nhận, đến Mỹ. Vì thế nên uỷ ban điều tra phải cho nhân viên đi Việt Nam tìm hiểu.

Họ tìm ra thân nhân của chiến hữu Nguyễn Kiệm. Tiếc thay, họ nhận được tin buồn. Chiến hữu Nguyễn Kiệm bị bắt đi tù cải tạo sau ngày chúng ta mất nước. Hơn bốn năm sau, anh chết trong lao tù cộng sản. Mộ phần của anh ở đâu, không một ai được biết.
Ngoài người Việt Nam duy nhất đã qua đời, tất cả các quân nhân liên quan đến sự việc nói trên đều được ân thưởng tuỳ theo công trạng. Đó cũng là ngày mà họ hội ngộ, 18 tháng Tư 2017, đúng 45 năm sau phi vụ đáng ghi nhớ nói trên.

– Hình đính kèm thứ nhất chụp sau khi chiếc C-130 đáp khẩn cấp. Nơi chúng tôi đánh dấu số 1 màu đỏ, các bạn thấy chiếc trực thăng UH-1 do Đại Uý Robert Frank và Đại Uý Robert Menotte điều khiển vừa đáp xuống.
– Hình thứ hai là Đại Uý Ronald Timberlake đang bắn phi đạn từ chiếc Cobra của anh xuống để tiêu huỷ chiếc C-130.
– Hình thứ ba là Đại Uý Ronald Timberlake, vài ngày sau phi vụ nói trên.
– Hình thứ tư, chụp vào ngày 18 tháng Tư 2017 sau khi nhận Silver Star. Từ trái qua phải: Robert Menotte, Leonard Shearer, John Deslauriers, và Robert Frank.

You received this message because you are subscribed to the Google Groups “DKSG1969” group.
To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to DKSG1969+unsubscribe@googlegroups.com.
To view this discussion on the web visit https://groups.google.com/d/msgid/DKSG1969/1478135768.3360206.1655725660682%40mail.yahoo.com.

Nguồn: Cảm ơn Mr. buican1939 và Mr. VNH chuyển bài.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s