Rau ĐẮNG đất – Bùi Huyền Trân

on

Bùi Huyền Trân

” À ơi.. Canh rau đắng cá rô đồng

Nồi cơm mẹ nấu, à ơi .. thơm nồng ban trưa..”

                                                 (Ru con – Nam bộ)

Rau  đắng  đất (Glinus oppositifolius)

   Từ phương trời xa Nhỏ Gia Long gửi cho Bùi Huyền Trân bức ảnh chụp chậu rau đắng.. Ngộ thật vì hồi xưa, những ngày còn tại quê nhà, rau đắng mọc sau hè, khỏi trồng và lan cùng nhiều chỗ!..

    Rau đắng, một món rau bình dân, gần như đã đi vào lòng dân miền Nam qua những câu ca dao và điệu ru con

             ” Rau đắng nấu với cá trê.. Ai đi Lục tỉnh, thì mê không về” (ca dao)

   Nhạc sĩ Bắc Sơn (mất năm 2005) trong bài hát ‘Còn thương rau đắng mọc sau hè’ (sáng tác năm 1974) viết những câu:

     “.. Ai xa cách cội nguồn, ngồi một mình nhớ lũy tre xanh; quanh khung trời kỷ niệm, chợt thèm rau đắng nấu canh”

   Bài hát, được trình bày lại tại hải ngoại vào những năm 1980s, đã khiến người ly hương bị buộc phải xa xứ, thêm nỗi nhớ niềm thương thấm thía, của ‘..ta ra đi, mất lối quay về..’

   Bài hát này, mãi đến năm 2017 mới được “Cục Nghệ thuật Biểu diễn” của Việt Nam XHCN cấp phép.. cho hát và trình diễn trong nước ! (tin phunuonline.com.vn ngày 19 tháng5/2017).

                               Bản nhạc ‘Còn thương rau đắng mọc sau hè’

  Tên Rau đắng, trong dân gian, gây khó khăn cho việc xác định cây rau, vì cây rau nào có vị đắng đều có thể là .. rau đắng!

  Các nhà khoa học, thực vật học Việt Nam liệt kê ra.. 3 loại rau đắng : Rau đắng biển, Rau đắng đất, Rau đắng lông.

         Rau đắng sau hè được xem là Rau đắng đất,  còn có tên Rau đắng lá vòng

* Vài đặc điểm cây cỏ:

  Cây rau đắng đất phân bố tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Phi châu, Á châu.. từ Ấn độ sang Mã Lai, Thái,Việt Nam và vùng Nam Trung Hoa, Hải Nam đến cả Taiwan. Tại Việt Nam cây mọc dọc vùng ven biển và khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long.. Cây có mặt tại vùng Bắc Australia

– Tên khoa học:

   Glinus oppositifolius  thuộc họ thực vật Aizoaceae.

Anh – Mỹ: Bitter cumin? ; Tàu: chang-geng xing-su cao (thốc hoa túc mễ thảo); Jia-fan lu; ‘foo-yip” (Quảng Đông).

Thái: phak khuang; sadao-din.  Ấn độ: jima, Phạn: phanija.. Philippines: papait.

– Mô tả về cây:

  Rau đắng thuộc loại thảo, lưu niên, mọc bò lan có thể cao 10 – 40 cm. Thân và cành mỏng manh mọc sát mặt đất, nhiều lông, phân nhánh mạnh; Thân non màu xanh và thân già cứng, màu nâu đỏ.  Toàn cây có vị rất đắng. Lá đơn, moc vòng 2 – 5 lá; lớn nhỏ không đều. Phiến lá thuôn hình mác, dài 1 – 3 cm, rộng 3 – 10mm; gốc và đầu nhọn. Mặt trên phiến màu xanh đậm, mặt dưới nhạt hơn. Cuống lá ngắn 0.2 – 0.3 cm. Hoa lưỡng tính, mọc thành nhóm 2 – 3 hoa nơi kẽ lá; màu lục nhạt hay vàng lợt, có cuống, lớn khoảng 6 – 12 mm. Quả dạng nang, có 3 ô, mở ở cạnh bên, theo chiều dọc; chứa nhiều hạt. Hạt hình thận, màu nâu đỏ, rất nhỏ chỉ dài chừng 0.5 mm.

Cây rau đắng đất

Rau đắng đất (Glinus oppositifolius)

Bôngrau đắng đất

 Hoa quả và hạt rau đắng đất

Rau đắng tại Hoa Kỳ:

   Hoa kỳ có loại rau đắng lông, hình dáng rất tương tự loài trên. Glinus lotoides. Rau ‘du nhập’ từ Đông Nam Á’ vào Mỹ và được trồng tại Arizona, California, Louisiana, Texas. Loài cũng có mặt tại Việt Nam, Tàu.. Bắc Úc.

   Về hình dạng: rất giống loài trên khó phân biệt. Khác nhau do “ cành có lông tơ mịn; phiến lá có lông ở cả hai mặt “ ; phiến có khi hình soan hay bầu dục.

Rau đắng lông  (Glinus lotoides)

Hạt rau đắng lông  (Glinus lotoides)

– Rau đắng làm thuốc?

   – Thuốc dân gian

Tại Việt Nam, rau đắng đất được xếp chung vào các loại rau có vị đắng , có tính mát, giúp giải nhiệt, tốt cho gan và xổ độc, ăn rau còn giúp an thần dễ ngủ..

  (Các Thầy thuốc Nam dùng Rau đắng đất trong nhiều “bài thuốc’ trị các trường hợp tiểu tiện ít và khó khăn, tiểu buốt..sưng bọng đái.. Rau đắng được phối hợp cùng các vị thuốc “Bắc” như Sài hồ, Xa tiền tử, mộc thông..)

   Theo dược lý Đông Y : Rau đắng đất có vị đắng, tính bình; ‘quy’ vào Kinh Bàng quang

có các tác dụng : lợi nhiệt, lợi tiểu, kích thích tiêu hóa, nhuận gan, khai vị, sát trùng, nhuận tràng và kiện vị..

    (Cũng tại Việt Nam: Rau đắng đất được dùng chung với artichaut và bìm bìm biếc làm thuốc bổ gan.., bào chế thành.. thuốc).

Thái Lan: dùng như Việt Nam, làm rau, thuốc trị nóng, ho; giải nhiệt.

Tàu, Taiwan: dùng trị sưng đau trong các bệnh kinh niên, kể cả sưng khớp xương..

Ấn độ: Toàn cây dùng làm thuốc kiện vị, kích thích tiêu hóa, bệnh vàng da do gan. Giã nát trộn dầu đu đủ tía, trị đau tai; Nước từ lá giã nát, thoa trị bệnh ngoài da..

Tại Phi châu:

   Dược học dân gian Mali (Tây Phi) dùng rau đắng đất làm thuốc dân tộc, trị nhiều chứng bệnh khác nhau. Đọt non, kèm lá, phơi khô, tán thành bột, trộn vào thực phẩm để trị đau bụng, vàng da. Nước sắc từ bột toàn cây (bỏ rễ), sau khi phơi khô, dùng trị sốt rét. Cây tươi , giã nát, trộn với dầu thực vật, đắp trị vết thương ngoài da. Các ‘thầy thuốc dân tộc dùng cây trị sưng xương khớp, tiêu chảy và bệnh đường ruột..

    Ethiopia, dùng hạt trị sán lãi.

TRỒNG VÀ SẢN XUẤT RAU ĐẮNG ĐẤT TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT DƯỢC LIỆU MIỀN TRUNG.

Rau Đắng Đất về trung tâm được làm sạch, rửa sạch bằng máy và phơi khô bằng ánh nắng trực tiếp, quy trình sản xất được kiểm soát chặt chẽ, kiểm tra chất lượng qua từng giai đoạn

Rau đắng khô đóng gói

   – Nghiên cứu.. khoa học Phương Tây..

   Dược học Phương Tây có một số nghiên cứu về khả năng trị liệu của Rau đắng, phân biệt Rau đắng đất và Rau đắng lông. Nghiên cứu tại Ấn, Tàu và Phi châu  chú ý vào rau đắng đất, nhưng Hoa Kỳ và Đức quan tâm nhiều hơn vào rau đắng lông.

           (Xin ghi sơ lược về Rau đắng đất Glinus oppositifolia)

Thành phần hóa học:

  Rau đắng có chứa các carbohydrate, alkaloid, tannins, flavonoids, saponins, steroids.

trong đó:

– tinh dầu có những chất có mùi thơm (aromatics) thuộc các nhóm alcohol, phenone..

– flavonoids và flavonoid glycosides.

– saponins loại triterpenoid; Spergulagenin A có những đặc tính sinh học đáng chú ý.

– pectin loại polysaccharides: GOA1

– Vitamin C, chất xơ.

– acid hữu cơ như gallic, oxalic, acetic..

Vài khả năng trị bệnh:

Các bộ phận của Rau đắng đất được ghi nhận là có thể có các hoạt tính:

– Chống nấm gây bệnh như Candida albicans.

– Sát trùng, chống nhiều chủng vi khuẩn Gram + gồm cả S. aureus; E. coli..

– Chống ký sinh trùng Plasmodium falciparum gây sốt rét, diệt lăng quăng muỗi.

– Gây sổ giun, sán.

– Giúp giảm đau, chống sưng.

– Chống oxy – hóa, bảo vệ tế bào chống lão hóa.

– Giúp hạ đường, hạ mỡ trong máu; bảo vệ gan.

Xin đọc toàn bài nghiên cứu : Recent progress in Glinus oppositifolius research

trên Tập san Pharmaceutical Biology Vol.52, 2014/ Issue 8

https://www.tandfonline.com/doi/full/10.3109/13880209.2013.876653

* Rau đắng món ăn dân giã miền Nam

Tác giả Tạ Phong Tần trong bài “Canh rau đắng đất” (Diễn đàn của Trang mạng [http://www.thuvienvn.org) có những nhận xét khá tinh tế về Rau đắng. Bà viết:]http://www.thuvienvn.org) có những nhận xét khá tinh tế về Rau đắng. Bà viết:

  “..Rau đắng đất, vị đắng hơn rau đắng biển, thỉnh thoảng mới thấy bán tại chợ (miền quê Việt Nam), vì hái được (nhiều) rau rất cực.. Nó mọc mỗi chỗ một ít, quanh các gốc cây trong vườn, mọc ‘tùm lum tà la, chứ không tập trung thành đám như rau đắng biển(?). Rau đắng đất, thân nhỏ bằng que tăm. Lá giống như những chiếc lông chim (?) màu xanh lục, bé bằng móng tay út, mọc từng đôi quanh thân..”

   Bà viết tiếp: về ‘cách nấu và ..ăn rau đắng’

..”..Rau này, biết cách nấu,thì ăn ngon: khi mới ăn thấy hơi đăng đắng một chút, nuốt rau khỏi cổ họng sẽ có vị ngọt,  còn đọng lại trên đầu lưỡi. Ai không biết nấu, nó đắng tới mức ăn không nổi (?)..

… “ở quê tôi, người ta nấu rau đắng đất với thịt heo bằm, cá lóc hay tép. Rau đắng đất hái về, nhặt lấy phần ngọn non, rửa sạch, để ráo. Thịt heo nạc băm nhuyễn, tỏi bầm nhỏ, hành lá cắt nhỏ.. Sau khi phi mỡ, tỏi; đảo sơ thịt cho săn. Đổ nước vào nồi, nêm muối, bột ngọt.. nấu thành nồi nước súp. Rau đắng được để vào tô lớn, rồi chế, tưới nước súp đang sôi vào tô cho đều.. Nhận các cọng rau nhô lên, xuống cho chìm hẳn vào nước súp..”

    Tác giả cũng ghi là: Có thể nấu cháo cá lóc, nhúng rau đắng vào.. và ăn liền?

Rau đắng đất còn được nấu các món:

– Lẩu cá kèo rau đắng.

– Canh rau đắng nấu cá rô đồng, nấu cá trê vàng.

      (Rau đắng nấu cá trê vàng / Ngọt ngon vì bởi.. tay Nàng nấu canh)

Canh rau đắng nấu cá rô đồng, nấu cá trê vàng

    Tác giả Gia Khang trong bài viết “Chợt thèm Rau đắng nấu canh” 

     (trên amthuc.net.vn)

.. ” .. Cá rô phải là cá rô mề, con nào con nấy nhìn cứ phây phây béo tốt. Cá được móc ruột và đánh vảy thật sạch rồi cho vào luộc sơ hay hấp cũng được.. Khi thấy cá vừa chín tới thì vớt ra, sau đó nhẹ tay gỡ toàn bộ phần thịt để riêng, phần xương cho vào cối giã nát, chắt lấy nước. Xong đâu đấy, phi hành cho thật thơm rồi nhẹ nhàng cho phần cá vào xào sơ, tiếp theo cho toàn bộ phần nước chắt từ xương.. vào đun sôi.. hớt bọt, nêm gia vị. Cuối cùng khi nước đã thật sôi thì thêm rau đắng vào.. nhấc ra, thêm chút tiêu và hành lá..”

– Cháo cá lóc  rau đắng đất.

– Rau đắng.. trộn gỏi, có thể thêm tôm đã lột vỏ..

Rau đắng.. trộn gỏi

– Rau đắng xào tỏi, xào thịt bò.., xào nấm rơm.

Rau đắng xào tỏi, xào thịt bò.., xào nấm rơm

– Rau đắng chấm mắm chưng, mắm quẹt:  món thật đơn giản nhưng rất thân quen với dân quê Nam bộ.

Ghi chú:

   Xin chú ý phân biệt : Rau đắng biển (Bacopa monnieri) là một loại rau hoàn toàn khác với rau đắng đất . Tuy gọi là .. biển nhưng là cây rau này mọc trong vườn, ven ruộng thấp thành đám.. (Bùi Huyền Trân xin gửi một bài viết sau). Món Mì Quảng xứ Quảng Nam ăn kèm rau đắng .. là rau đắng ruộng hay Rau đắng biển và Rau đắng Gò công của Bà Chả Quế gặp bên bờ ruộng cũng là Rau đắng biển?

Rau đắng biển (Bacopa monnieri)

                                                                          Bùi Huyền Trân 7/2022

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s